1495218334
Tạp chí khoa học

Advertise on podcast: Tạp chí khoa học

Categories
Country
United States
This podcast has
28 episodes
Language
Vietnamese
Explicit
No
Date created
2020/01/16
Latest episode
2026/09/09
Average duration
10 min.
Release period
168 days

Description

Thành tựu và thách thức trong lĩnh vực môi trường, khoa học kỹ thuật, y tế

Unlock Tạp chí khoa học podcast Email contact info,
Listeners & Audience details

Email contact information

Direct podcast contact details

Listeners

Audience numbers & engagement insights

Audience details

Podcast Insights

Podcast episodes

Check latest episodes from Tạp chí khoa học podcast


Sự cộng sinh của hệ miễn dịch và vi sinh vật: Kiệt tác thiên nhiên trong mỗi con người chúng ta
2026/09/09
Giải Nobel y học 2025 vinh danh các nhà khoa học đã phát hiện ra tế bào « T điều hòa » (Tregs) và cơ chế phân tử của tế bào này, giúp tìm ra phương pháp giải quyết tận gốc các căn bệnh tự miễn bí hiểm - khi đội quân miễn dịch hùng mạnh quay súng bắn vào chính mình. Tuy nhiên, ý nghĩa của phát hiện về Tregs không dừng ở đó. Từ đầu thế kỉ 20, ngành miễn dịch học tập trung vào hệ thống phòng vệ của cơ thể, phát triển vaccin chống các đại dịch… Ngành vi sinh vật chủ yếu nghiên cứu về vi khuẩn/vi trùng, virus, ký sinh trùng..., tức các tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên từ khoảng 20 năm gần đây, dưới ánh sáng của các phát hiện mới, trong đó đặc biệt có phát hiện về tế bào T điều hòa, giới y khoa ngày càng phát hiện rõ hơn vai trò to lớn của thế giới các vi sinh vật với sức khỏe con người. *** Hệ miễn dịch: Sức mạnh phi thường của sự kìm chế Sau khi giải Nobel y học 2025 được công bố, nhà miễn dịch học hàng đầu người Pháp Alain Fischer, trong bài trả lời phỏng vấn tạp chí La Recherche (ngày 07/10/2025), nhấn mạnh : « Từ lâu, hệ miễn dịch được mô tả như một đội quân sẵn sàng tấn công bất cứ thứ gì lạ. Những khám phá này buộc chúng ta phải thay đổi quan điểm. Đó là, hệ miễn dịch không chỉ là một cỗ máy chiến tranh, mà còn là một hệ thống cân bằng và kiềm chế. Sức khỏe không chỉ phụ thuộc vào khả năng loại bỏ những mối đe dọa, mà còn phụ thuộc vào khả năng bảo vệ những gì cấu thành nên chúng ta. Tế bào lympho T điều hòa thể hiện sự minh triết sinh học này. Chúng nhắc nhở chúng ta rằng sức mạnh của sự sống không nằm ở sự quyết liệt của phản ứng, mà nằm ở sự tinh tế của khả năng kiểm soát. Nói cách khác, giải Nobel này vinh danh một ý tưởng đơn giản, nhưng mạnh mẽ : kiềm chế chính là một hình thức tự vệ (la retenue est une forme de défense). » Thông cáo báo chí của Ủy ban Nobel ghi nhận, những khám phá của các nhà khoa học đoạt giải năm 2025 đã « thúc đẩy sự phát triển các phương pháp điều trị y tế cho bệnh ung thư và các bệnh tự miễn. Điều này cũng có thể dẫn đến các ca cấy ghép thành công hơn ». Tuy nhiên, các đánh giá nói trên chưa làm bật lên được đầy đủ tầm vóc của các phát hiện đột phá về tế bào T điều hòa. Thiếu Tregs khiến viêm nhiễm, dị ứng gia tăng: Vấn đề lớn bị Ủy ban Nobel bỏ qua Nhà miễn dịch học Alain Fischer lưu ý : « Có một điểm quan trọng, nhưng lại bị Ủy ban Nobel đánh giá thấp một cách kỳ lạ (un point important, étrangement peu mis en avant par le comité Nobel), đó là sự thiếu hụt tế bào Tregs cũng gây ra tình trạng viêm ruột nặng – tức một phản ứng miễn dịch quá mức chống lại hệ vi sinh vật. Thông thường, hệ miễn dịch của chúng ta nhận biết hệ vi sinh vật trên da và đường ruột, nhưng không gây phản ứng viêm : quá trình ‘‘dung nạp’’ chủ động này được duy trì bởi các tiểu loại tế bào Tregs có mặt ở vùng ruột và da. Nếu thiếu tế bào Tregs, thế cân bằng này sẽ bị phá vỡ… Những người mắc những căn bệnh này thường cũng bị các chứng dị ứng thực phẩm hết sức nghiêm trọng. » Sự phát triển của vi khuẩn có lợi, như Faecalibacterium prausnitzii, giúp lên men chất xơ thành axit béo chuỗi ngắn (AGCC) như butyrate, tạo điều kiện cho việc tăng sản sinh tế bào Tregs, giảm viêm. Trong chiều ngược lại, nếu Tregs bị thiếu hụt, cơ thể có thể phản ứng quá mức, với việc hệ miễn dịch tấn công ồ ạt một số loại vi khuẩn Escherichia coli (vốn tồn tại vô hại ở người khoẻ), dẫn đến bệnh viêm ruột mãn tính Crohn (MICI) (Nature, 2020). Cái thế giới kì diệu ấy ngày càng được nhìn nhận như là sản phẩm của sự cộng sinh kỳ diệu của cơ thể với thế giới vi sinh vật trong đường ruột. Với tổng diện tích niêm mạc ước tính 300 m2, đường ruột có thể chứa đến hàng chục nghìn tỷ vi sinh vật (vi khuẩn, vi trùng, nấm, archaea [tức vi sinh vật cổ] …), cao hơn nhiều so với số tế bào trong cơ thể. Một hệ vi sinh vật cân bằng, khỏe mạnh trong đường ruột, giúp tế bào T điều hòa phát triển và vận hành tốt, là điều kiện cho một hệ miễn dịch khoẻ mạnh, cân bằng. Miễn dịch học và vi sinh vật học đang hội tụ nỗ lực để khám phá kiệt tác ấy của thiên nhiên trong mỗi con người chúng ta. Điều gì giúp Tế bào « T điều hoà » được hài hoà ? Thực phẩm nhiều chất xơ, men đầy đủ, giúp hệ vi sinh vật đường ruột phát triển… Trả lời RFI tiếng Việt, nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân (TP Hồ Chí Minh) giải thích: « Thực phẩm nhiều chất xơ, vi sinh vật đường ruột chuyển hóa có lợi cho sự kích thích tạo thành Tregs, thu hút Tregs. Nếu thực phẩm không thích hợp, sự cân bằng vi sinh và hoạt động của vi sinh bị tổn thương, thì từ đó sự điều hòa miễn dịch cũng bị phá vỡ, con người mệt mỏi, dễ sinh bệnh. Chế độ ăn giàu chất xơ hỗ trợ sự phát triển của vi khuẩn có lợi trong đường ruột. Vi khuẩn này lên men chất xơ thành các axit béo chuỗi ngắn (như butyrate, propionate và acetate) giúp tăng cường chức năng của tế bào Tregs và duy trì sức khỏe đường ruột… Ngoài ra, tryptophan – một axit amin được tìm thấy trong các thực phẩm như thịt gia cầm, trứng, đậu phụ và nhiều loại hạt – được chuyển hóa thành các hợp chất kích hoạt thụ thể aryl hydrocarbon, tiếp tục thúc đẩy hoạt động của tế bào Tregs và bảo vệ cơ thể chống lại viêm đường ruột. Ngược lại, chế độ ăn phương Tây nhiều chất béo, đường và thực phẩm chế biến sẵn làm mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột. Điều này, đến lượt nó, làm giảm số lượng vi sinh vật hỗ trợ tế bào Tregs và thúc đẩy môi trường viêm nhiễm nhiều hơn trong đường ruột. » Nhiều căn bệnh phổ biến của xã hội hiện nay, như béo phì, các bệnh tim mạch, dị ứng, rối loạn thoái hóa thần kinh và ung thư có liên hệ với tình trạng mất cân bằng hệ vi sinh vật (dysbiosis), hoặc là nguyên nhân, hoặc là hệ quả. Do đó, các biện pháp gần với tự nhiên - như có chế độ ăn uống lành mạnh (với thực phẩm nhiều chất xơ, tryptophan, thực phẩm lên men, men vi sinh - probiotics…), tránh thực phẩm độc hại, thay đổi lối sống (cân bằng, điều hoà), môi trường sống (gần thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm), để giúp khôi phục các chức năng của hệ vi sinh vật đường ruột, được kỳ vọng sẽ sớm trở nên phổ biến (Les pouvoirs méconnus du microbiote, peuple de nos intestins, CNRS, 2022).  ·     Đầu đời trẻ nhỏ : Hệ vi sinh đường ruột huấn luyện hệ miễn dịch Trong cuộc đời một con người, hệ miễn dịch ngoại vi bắt đầu được hình thành như thế nào? Các nghiên cứu gần đây cho thấy, hệ miễn dịch ngoại vi của trẻ sơ sinh được hệ vi sinh vật trong đường ruột huấn luyện, đặc biệt trong giai đoạn cai sữa và bắt đầu ăn dặm. Tiến trình này nếu diễn ra không tốt, đứa trẻ sẽ mắc các bệnh viêm nhiễm dai dẳng, và có thể kéo dài cả đời. Tại Viện Pasteur (Paris), nhóm nghiên cứu của nhà miễn dịch học Gérard Eberl, chủ trì bộ phận Microenvironnement & Immunité, có dự án về vấn đề này :  « Giai đoạn phát triển sau khi sinh là thời điểm quan trọng mà hệ vi sinh vật đường ruột "đào luyện" hệ miễn dịch, dạy nó không phản ứng quá mức. Gérard Eberl và nhóm của ông đã chỉ ra rằng, trong quá trình cai sữa, hệ vi sinh vật đường ruột phát triển và "định hình" khả năng phản ứng lâu dài của hệ miễn dịch. Do đó, có thể thấy rằng tổn thương hệ vi sinh vật trong giai đoạn này, ví dụ như do vệ sinh quá mức hoặc tiếp xúc với kháng sinh, có thể ảnh hưởng đến phản ứng cai sữa. Những rối loạn này sau đó có thể dẫn đến phản ứng quá mức của hệ miễn dịch, làm tăng khả năng mắc các bệnh viêm nhiễm như dị ứng, hoặc ngược lại, làm giảm phản ứng miễn dịch và khiến cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn. » Giai đoạn 1.000 ngày đầu đời, từ khi người mẹ mang thai đến khi trẻ 2 tuổi, được coi là « cửa sổ vàng », khi diễn ra các tương tác hai chiều giữa hệ miễn dịch và hệ vi sinh vật đang hình thành, giúp duy trì trạng thái cân bằng vi sinh và hệ miễn dịch cân bằ
Nobel Y học 2025: Phát hiện tế bào ‘‘T điều hòa’’, người hùng thầm lặng của hệ miễn dịch
2026/09/02
Giải Nobel y học năm 2025 vinh danh các nhà khoa học phát hiện và khám phá cơ chế của tế bào T điều hòa (regulatory T cells), cho phép lý giải các căn bệnh tự miễn vô cùng bí hiểm. Phát hiện về người hùng thầm lặng này cho phép mở ra cánh cửa cho việc trị liệu từ gốc. Bệnh tự miễn cho đến gần đây vốn được coi là bí ẩn không có lời giải, ảnh hưởng đến từ 5 đến 10% dân số thế giới, trong đó phụ nữ mắc bệnh (80%) nhiều gấp khoảng bốn lần nam giới (theo Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc gia - INSERM). Phát hiện về Tế bào T điều hoà mở ra cơ hội cho nhiều thay đổi cách mạng không chỉ trong trị liệu, mà có thể cả trong việc thay đổi lối sống và xây dựng những chính sách y tế, bảo vệ môi trường, là điều kiện thiết yếu cho một hệ miễn dịch khỏe mạnh ở con người. *** Bệnh tự miễn: Khi « đội quân » miễn dịch hùng mạnh quay súng bắn vào chính mình Hệ thống miễn dịch trong cơ thể con người thường được so sánh với một đội quân thường trực cảnh giác, sẵn sàng loại bỏ các loại virus, vi khuẩn hoặc các tế bào bất thường. Nhưng điều gì khiến cho trong nhiều trường hợp, đội quân miễn dịch hùng mạnh ấy nhầm lẫn, tấn công vào các tế bào của chính cơ thể mình ? Trả lời phỏng vấn RFI tiếng Việt, giáo sư Đinh Xuân Anh Tuấn, trưởng khoa Nội hô hấp Bệnh viên Cochin (Paris), giải thích về ý nghĩa của phát hiện này: « Chúng ta biết rằng hệ miễn dịch của mỗi con người trong chúng ta rất cần thiết để giúp cho chúng ta có thể chống lại tất cả những vi khuẩn, có nghĩa là tất cả những cái tế bào mà nó không thuộc của chúng ta. Tế bào bình thường của chúng ta trở thành tế bào ung thư thì lúc đó cơ thể của chúng ta cũng sẽ xem cái tế bào đó như là một cái tế bào ngoại lai, có nghĩa là đến từ cái thế giới bên ngoài. Và lúc đó thì cái hệ miễn dịch của chúng ta sẽ giúp chúng ta có thể phát hiện và loại trừ những tế bào đó.  Nói tóm gọn, hệ miễn dịch rất là cần thiết cho chúng ta. Từ đó, các nhà y học cảm thấy khó hiểu và khó xử, khi mà có một số những tình huống chúng ta gọi là những cái bệnh tự miễn, tức là khi mà hệ miễn dịch của chúng ta nhầm lẫn những tế bào bình thường như là những cái tế bào đến từ bên ngoài. Những kháng thể của chúng ta trong cái hệ miễn dịch đó sẽ tấn công những tế bào của mình. Nếu mà chúng ta hiểu được cái chuyện đó thì chúng ta sẽ thấy cái tầm quan trọng của sự khám phá cái mà chúng ta gọi là ‘‘tế bào T điều hòa’’ hoặc regulatory T cells (gọi tắt là Tregs). » Điều trị bằng cách làm suy yếu hệ miễn dịch: Phương pháp con dao hai lưỡi Các bệnh tự miễn, với khoảng 80 bệnh được công nhận rộng rãi, thường được phân loại thành nhóm các bệnh tự miễn đặc hiệu cơ quan, như bệnh tự miễn với da, với tuyến giáp (Basedow), hay với phổi, với ruột, tiêu biểu như bệnh tiểu đường loại 1 (khoảng 23.000 người ở Việt Nam, theo số liệu của International Diabetes Federation - IDF), bệnh đa xơ cứng (tức rối loạn thần kinh não và tủy sống), và nhóm các bệnh tự miễn dạng toàn thân, như lupus ban đỏ hệ thống (có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể như da, khớp, thận, tim, phổi và hệ thần kinh, đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện sớm. Ở Việt Nam chỉ có khoảng 10% người bệnh được chẩn đoán sớm) … Tỉ lệ người mắc bệnh các tự miễn gia tăng trong những thập niên gần đây đi kèm với xu thế tuổi thọ tăng cao. Đối với nhiều xã hội công nghiệp, như Pháp, đây được coi là nhóm bệnh nhiều người mắc thứ ba, chỉ đứng sau ung thư và tim mạch.  Hiện tại nhìn chung « chưa có cách chữa khỏi hoàn toàn bệnh tự miễn... Các loại thuốc kiểm soát hoặc ức chế quá trình tự miễn có thể giúp hạn chế các triệu chứng và sự tiến triển của các tổn thương. Tuy nhiên, bệnh vẫn là mãn tính và hiếm khi có thể ngừng điều trị trong thời gian dài », theo Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc gia Pháp (INSERM). Bác sĩ Đinh Xuân Anh Tuấn giải thích về tính chất con dao hai lưỡi của điều trị theo hướng này: « Với sự suy yếu của hệ miễn dịch thì dĩ nhiên bệnh tự miễn sẽ đỡ đi. Nhưng mà lúc đó người bệnh sẽ có cơ nguy khác. Đó là rất là dễ bị nhiễm trùng. Chúng ta cũng biết rằng, khi một người mà vừa mới bị ghép tạng, chúng ta cũng phải dùng những loại thuốc để làm tê liệt hệ miễn dịch, nhưng mà thoát khỏi việc cái tạng bị thải loại thì người bệnh đó lại gặp cái nguy cơ rất là dễ bị nhiễm trùng. »  « T điều hòa » kiềm chế « T sát thủ » : Cơ chế tự nhiên ngăn chặn bệnh tự miễn Phát hiện tế bào T điều hòa giúp hiểu được cơ chế tự nhiên cho phép ngăn chặn các bệnh tự miễn như thế nào ? Nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân (từ TP Hồ Chí Minh), cho biết cụ thể: « Các tế bào của hệ miễn dịch gọi là bạch cầu với khoảng 15 loại tế bào. Trong các bạch cầu có một nhóm tế bào gọi là tế bào lympho. Tế bào T thuộc nhóm tế bào lympho. Hai loại tế bào T thông thường là tế bào T hỗ trợ (Helper T cells) và tế bào T Sát thủ (Cytotoxic T cells), tế bào T hỗ trợ nhận dạng vùng vi trùng xâm nhập rồi phát tín hiệu cho tế bào T sát thủ giết vi trùng đó. Các tế bào T đều được tạo ra từ tủy xương. Những tế bào này đi qua tuyến ức, có tên khoa học là Thymus. Do đó người ta mới đặt tên nó với chữ cái đầu của Thymus. Nhóm tế bào T mới được ông Shimon Sakaguchi khám phá ra năm 1995, gọi là ‘‘T điều hòa’’ (Tregs), cũng sinh ra từ tuyến ức. Nhưng khác với các tế bào T hỗ trợ và T sát thủ, các tế bào này có vai trò chủ yếu trong việc điều hòa hệ miễn dịch. Tế bào T hỗ trợ chiếm khoảng 60%, T sát thủ chiếm khoảng 30% và T điều hòa trung bình khoảng 3%. Trong số các tế bào T được tạo ra từ tủy xương rồi di chuyển sang tuyến ức, có rất nhiều tế bào T sát thủ có khả năng tấn công vào tế bào của cơ thể và con số này tới hơn 90%. Nhưng mà tại tuyến ức, những tế bào T có khả năng tấn công tế bào cơ thể tuyệt đại đa số bị loại bỏ, chỉ khoảng 5% rời khỏi tuyến ức đi ra được vùng ngoại vi (tức ngoài tuyến ức). Đây là các tế bào có khả năng gây bệnh tự miễn. Về nguyên tắc, nơi nào chúng gây phản ứng tự miễn thì tế bào T điều hòa tới đó để dập tắt, tác dụng giảm viêm của Tregs rất hiệu quả. »   Tình trạng tế bào T điều hòa kém về số lượng và chất lượng là nguồn gốc gây bệnh tự miễn. Phát hiện này đã mở đường cho hàng trăm hướng nghiên cứu. Ít năm gần đây, bắt đầu đã xuất hiện một số dược phẩm giúp tăng cường số tế bàoTregs, như Anifrolumab hay Interleukin-2, điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống… Teplizumab là một trong số dược phẩm hiếm hoi gần đây được công nhận rộng rãi trên thế giới trong việc trị tiểu đường type 1, một loại bệnh tự miễn khá phổ biến khác (đầu 2026, Liên Âu phê chuẩn cho dùng thiếu này điều trị tiểu đường type 1 giai đoạn hai, Les Echos). Tuy nhiên 30 năm kể từ khi Tregs được phát hiện, vẫn còn nhiều cản trở to lớn đối với việc phát triển các trị liệu hiệu quả. Chẳng hạn như với bệnh lupus ban đỏ hệ thống SLE, khó cả khả năng tạo được một lượng lớn tế bào Tregs cần thiết, thiếu các tế bào có khả năng nhắm đích đặc hiệu tại các mô, cũng như khả năng duy trì sự tồn tại đủ lâu dài của các Tregs cần thiết trong cơ thể (« Regulatory T cell therapy in autoimmune and immune-mediated diseases: from basic research to clinical practice and future perspectives », tạp chí Front. Immunol., 07/05/2026). Những hạn chế với bệnh SLE này cũng có thể chung cho nhiều bệnh tự miễn khác. Bên cạnh đó, việc sử dụng Tregs cũng cần phải được kiểm soát để tránh nguy cơ tạo môi trường cho ung thư phát triển do tác động gây ức chế quá mức đối với hệ miễn dịch. Tồn tại một cơ chế « dung nạp miễn dịch » tự nhiên hoàn toàn khác : Quá trình phát hiện ra sao ? Câu hỏi vì đâu mà các tế bào của hệ thống miễn dịch không tấn công vào cơ thể của mình đã ám ảnh giới khoa học trong nhiều thập niên. Tuyến
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chăm sóc sức khỏe tâm thần
2026/06/24
Hãy thử tưởng tượng một máy nhỏ đặt trong phòng khách hoặc trong phòng ngủ của một người già. Nhờ camera và micro gắn trên máy, giọng nói và các biểu cảm gương mặt của người này được ghi và được phân tích bởi một ứng dụng trí tuệ nhân tạo và qua đó phát hiện những dấu hiệu báo trước tâm trạng lo lắng hay thờ ơ và giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm.  Chiếc máy đó chính là Emobot, do ba kỹ sư trẻ người Pháp phát triển và hiện đã được trang bị cho các viện dưỡng lão hoặc đặt tại nhà của những bệnh nhân đang được theo dõi về chứng trầm cảm.  Hiện nay, tại Pháp nói riêng và trên thế giới nói chung số ca trầm cảm không ngừng gia tăng, nhưng các phương tiện y tế vẫn không đủ để chăm sóc số ca ngày càng tăng đó. Tại Pháp có đến 12,5% dân số bị trầm cảm và trên toàn thế giới số người bị trầm cảm lên tới hơn 320 triệu. Ở Pháp hiện chỉ có tổng cộng 15.000 bác sĩ tâm thần, tức là 1 bác sĩ tâm thần cho 600 bệnh nhân. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ này là 1 bác sĩ tâm thần trên 1.000 bệnh nhân. Thành ra thường phải chờ nhiều tháng mới được khám bác sĩ tâm thần và các bác sĩ không thể nào dành đủ thời gian cần thiết cho mỗi bệnh nhân, cho nên không thể chăm sóc đầy đủ cho bệnh nhân. Theo dõi liên tục bệnh nhân Hiện nay, các bác sĩ tâm thần chỉ có thể dựa vào những quan sát lâm sàng và dựa trên bảng câu hỏi thẩm định tâm thần để đề ra phương pháp điều trị và chẩn đoán. Giải pháp mà công ty khởi nghiệp Emobot mang lại cho các bác sĩ tâm thần đó là giúp họ theo dõi liên tục tâm trạng của bệnh nhân, hoặc của người lớn tuổi qua các biểu cảm gương mặt và giọng nói của họ được máy ghi lại và được ứng dụng trí tuệ nhân tạo phân tích. Sau khi được trình làng tại triển lãm công nghệ lớn nhất thế giới Consumer Electronics Show (CES) tại  Las Vegas, Hoa Kỳ năm 2023, Emobot đã được giới thiệu tại triển lãm công nghệ lớn nhất châu Âu Vivatech 2025.  Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ tại triển lãm Vivatech, ông Samuel Lerman, một trong ba sáng lập viên của công ty Emobot, cho biết: “Emobot được thành lập cách đây ba năm, từ một phòng thí nghiệm tại trường CentraleSupélec và chuyên về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tâm thần học. Sản phẩm đầu tiên của công ty là ứng dụng phân tích cảm xúc thụ động, nghĩa là chúng tôi sẽ liên tục phân tích cảm xúc của những bệnh nhân mắc chứng trầm cảm hoặc rối loạn lưỡng cực. Chúng tôi sẽ có thể theo dõi họ liên tục giữa các lần khám với bác sĩ tâm thần. Mục tiêu là ngăn ngừa khả năng tái phát và xem liệu phương pháp điều trị có phù hợp và hiệu quả đối với bệnh nhân đó hay không.  Cụ thể là bệnh nhân tải xuống một ứng dụng, trên điện thoại di động hoặc máy tính và chúng tôi sẽ thu thập một số lượng dữ liệu về bệnh nhân, tất nhiên là phải có sự đồng ý của họ, liên quan đến biểu cảm khuôn mặt. Như vậy chúng tôi sẽ có thể sử dụng camera selfie của điện thoại và camera máy tính để phân tích các biểu cảm nhỏ mỗi giây trên khuôn mặt của bệnh nhân. Chúng tôi cũng sẽ lắng nghe giọng nói của bệnh nhân và thu thập dữ liệu điện thoại, như số bước đã đi, các hoạt động trong ngày và giấc ngủ, những dữ liệu rất quan trọng trong tâm thần học.  Bệnh nhân tải xuống ứng dụng và sau đó tự chụp ảnh hoặc tự quay video để giúp phát hiện những thay đổi tâm trạng. Đối với bệnh nhân, đó là nguyên tắc thụ động. Nói chung là  bệnh nhân sử dụng điện thoại của họ một cách bình thường: gởi tin nhắn, sử dụng các mạng xã hội, truy cập các trang web và ứng dụng sẽ phân tích hành vi và biểu cảm khuôn mặt của bệnh nhân.”  Cung cấp dữ liệu bổ sung Ông Samuel Lerman nhấn mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo Emobot không thay thế bác sĩ tâm thần, mà là cung cấp những dữ liệu bổ sung cho bác sĩ: “Thu hình một bệnh nhân là một vấn đề rất nhạy cảm về tính riêng tư. Ở đây trí tuệ nhân tạo cho phép chúng ta phân tích trực tiếp mà không cần phải lưu trữ hình ảnh hoặc video. Trí tuệ nhân tạo sẽ phân tích các biểu hiện nhỏ của bệnh nhân mỗi giây và cho phép chúng ta biết cảm giác đó tích cực hơn hay tiêu cực hơn và mức năng lượng cao hơn hay thấp hơn. Và dựa trên điều đó, trong vài nghìn giờ, chúng ta có thể phát hiện ra những lúc bệnh nhân có tâm trạng buồn chán và những lúc có tâm trạng vui vẻ hơn, đây là hai tiêu chí chính để xác định chứng trầm cảm.  Bác sĩ đã có tất cả dữ liệu cá nhân của bệnh nhân và tiền sử bệnh án của bệnh nhân. Những gì chúng tôi làm là cung cấp các dữ liệu bổ sung tâm thần học đang rất thiếu. Chúng tôi sử dụng máy ảnh để có thể liên tục quay phim bệnh nhân và chúng tôi không nhất thiết phải nắm rõ hồ sơ y khoa của bệnh nhân.  Đây thực sự là một vấn đề cơ bản, vì tâm thần học là một chuyên khoa có rất ít hình ảnh, rất ít dữ liệu cụ thể. Dữ liệu duy nhất mà bác sĩ thường có là các bảng câu hỏi mà bệnh nhân điền các câu trả lời mỗi hai tuần và hiện giờ bác sĩ chỉ có thể dựa trên đó  để đề ra các phương pháp điều trị, v.v.  Sử dụng trí tuệ nhân tạo trong sức khỏe tâm thần sẽ cho phép chúng tôi cung cấp những dữ liệu bổ sung, không phải để thay thế bác sĩ, mà là để giúp họ đưa ra quyết định tốt hơn. Tâm thần của bệnh nhân có ổn định hay đang dao động? Nếu tâm trạng bệnh nhân dao động, thì giải pháp của chúng tôi có thể cung cấp tín hiệu đó. Dựa trên đó, nếu cần, bác sĩ sẽ thay đổi phương pháp điều trị và nói chung là chẩn đoán tốt hơn. Ứng dụng sẽ được sử dụng trong các phòng khám tâm thần, dù là phòng khám tư hay phòng khám trong các khoa tâm thần của bệnh viện. Ứng dụng sẽ miễn phí trong vòng một năm, chúng tôi sẽ chỉ tính phí theo dõi từ xa. Đây là mức phí cố định được bảo hiểm y tế hoàn trả.” Trí tuệ nhân tạo còn giúp xác định những bệnh nhân có khả năng cần theo dõi bằng cách phân tích dữ liệu từ hồ sơ bệnh án. Công cụ hỗ trợ chẩn đoán này mang lại rất nhiều lợi ích: phát hiện sớm các rối loạn và hỗ trợ đắc lực cho những người chăm sóc sức khỏe tâm thần. Trong tương lai, các mô hình ngôn ngữ rộng được tích hợp vào các tác nhân đàm thoại sẽ có thể mô phỏng một buổi tư vấn tâm thần, sau đó giới thiệu bệnh nhân đến các chuyên gia sức khỏe tâm thần.  Chẳng hạn như phòng thí nghiệm Sanpsy của đại học Bordeaux, Pháp, đang phát triển một tác nhân đàm thoại với mục tiêu thực hiện một cuộc phỏng vấn y tế với bệnh nhân. Các công cụ được kết nối thì rất hữu ích để theo dõi hành vi hàng ngày của những người mắc các rối loạn sức khỏe tâm thần. Chúng thu thập dữ liệu như hoạt động thể chất, chất lượng giấc ngủ và nhịp tim. Việc theo dõi này cung cấp cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe thông tin giá trị để theo dõi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và ngăn ngừa khủng hoảng, theo dõi hiệu quả điều trị hoặc giúp cá nhân hóa các biện pháp can thiệp. Ví dụ như nhịp tim có thể cung cấp cho bác sĩ thông tin về các giai đoạn căng thẳng và kiệt sức của bệnh nhân.  Một hình thức tích hợp AI khác trong sức khỏe tâm thần là tính toán cảm xúc. Chatbot, hay còn gọi là các tác nhân đàm thoại, có khả năng diễn giải và phản hồi một cách đồng cảm với cảm xúc của người dùng, giúp tương tác trở nên gần gũi và mang tính cá nhân hơn. Một ví dụ là ứng dụng Kanopee, giúp mỗi người tự quản lý các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần như căng thẳng, lo âu và rối loạn giấc ngủ.  Trí tuệ nhân tạo cũng đóng vai trò phòng ngừa bằng cách phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe tâm thần. Sử dụng các mẫu sinh học, chụp MRI não và phân tích hành vi và ngôn ngữ, nền tảng PsyCHARE có thể xác định những người trẻ có nguy cơ mắc chứng loạn thần như tâm thần phân liệt.. Sau đó, nền tảng này giúp xác định liệu pháp điều trị phù hợp nhất cho bệnh nhân. Theo giáo sư Pierre Philip, một chuyên gia sức khỏe tâm thần của Pháp, tương lai của AI trong lĩnh vực sức khỏe tâm th
Thám hiểm Mặt trăng: Tham vọng của châu Âu qua hai dự án MONA LUNA và Argonaut
2025/10/08
Bảo đảm sự độc lập của châu Âu trong các chương trình thám hiểm Mặt Trăng là một thách thức chiến lược lớn đối với ngành không gian của châu lục này. Chính là nhắm đến mục tiêu đó mà công ty Venturi Space của Monaco đang phát triển MONA LUNA, một xe tự hành Mặt Trăng 100% của châu Âu. Một nguyên mẫu của chiếc xe tự hành này đã được giới thiệu tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget, ngoại ô Paris vào ngày 16/06/2025. Được thành lập vào năm 2000 tại Monaco, kể từ năm 2021, Venturi Space đã mở rộng kỹ năng của họ sang lĩnh vực thám hiểm không gian qua việc thiết kế các xe tự hành sẽ hoạt động trên Mặt Trăng và sau này trên Sao Hỏa. Là đối tác chiến lược của công ty Bắc Mỹ Venturi Astrolab, công ty Monaco này phát triển các công nghệ quan trọng - bánh xe có tính năng biến dạng rất lớn và pin hiệu suất cao - cho các xe tự hành Mặt Trăng FLIP và FLEX. FLIP sẽ được triển khai trên Mặt Trăng vào tháng 02/2026. FLEX được NASA lựa chọn trước cho các sứ mệnh có người lái trong chương trình Artemis.  MONA LUNA, xe tự hành Mặt trăng 100% châu Âu MONA LUNA, xe tự hành Mặt Trăng hoàn toàn châu Âu, được thiết kế để đáp ứng tham vọng của Cơ quan Không gian Châu Âu ESA và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Không gian CNES của Pháp, sẽ được lắp ráp tại các cơ sở của Venturi Space Pháp ở Toulouse.   Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget, ông David Olsommer, đồng sáng lập viên công ty Venturi Space, cho biết: “Đây là một xe tự hành nặng 750kg mà chúng tôi đang phát triển 100% tại châu Âu, với sự hợp tác, đặc biệt là của Cơ quan Không gian châu Âu, và dự kiến sẽ được sử dụng trên Mặt Trăng, không phải để vận chuyển phi hành gia, mà để vận chuyển thiết bị cho các sứ mệnh tương lai, thậm chí bắt đầu từ những năm 2030. Hiện giờ đây chỉ là một nguyên mẫu, nhưng một số công nghệ đã được hoàn thiện, đặc biệt là pin, được sản xuất tại Monaco, bánh xe, được sản xuất tại Thụy Sĩ. Các bộ phận khác, hệ thống điện tử sẽ được sản xuất, chủ yếu tại Pháp, tại cơ sở của Venturi Space ở Toulouse.  Thách thức lớn nhất là đối với xe tự hành trên Mặt Trăng đó là Mặt Trăng không có bầu khí quyển. Đêm ở đây cực kỳ lạnh, kéo dài không phải 12 tiếng, mà là 14 ngày. Một ngày trên Mặt Trăng tương đương với 28 ngày trên Trái Đất. Nhiệt độ thực sự xuống mức cực thấp, khoảng -200°C, có nghĩa là hầu hết các công nghệ được sử dụng trên Trái Đất không thể được sử dụng trên Mặt Trăng. Vì vậy, các công nghệ đặc biệt đã được phát triển để chịu được những môi trường này. Mặt Trăng còn có một đặc điểm nữa là do không có tầng khí quyển nên mức độ bức xạ cực kỳ cao, cao hơn rất nhiều so với Trái Đất. Các thiết bị cũng phải chịu được mức độ bức xạ cao như thế.” Theo lời ông Olsommer, xe tự hành MONA LUNA được điều khiển từ xa. Có một số hệ thống liên lạc với Trái Đất, và cả hệ thống camera quan sát để nhận diện chướng ngại vật, một hệ thống nhận dạng địa hình để xe tự hành có thể tự định hướng trên Mặt Trăng. Dự án MONA LUNA được xây dựng dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ các xe tự hành FLIP và FLEX, được phát triển cùng với đối tác chiến lược của Mỹ là Venturi Astrolab, Inc. Ông Olsommer giải thích: “Sứ mệnh FLIP, dự kiến phóng vào tháng 2 năm 2026, đang được thực hiện với sự hợp tác của một sứ mệnh NASA. Công ty Venturi Astrolab, có trụ sở tại California, Hoa Kỳ, đã ký hợp đồng với NASA để đưa xe tự hành này lên Mặt Trăng cùng với các tên lửa SpaceX, Falcon Heavy và tàu đổ bộ Astrobotic Griffin.  Nhiệm vụ của xe tự hành này sẽ là thử nghiệm các công nghệ đã được phát triển để hoạt động trên Mặt Trăng. Khi tôi nói về công nghệ, tôi đang nói đến công nghệ tấm pin mặt trời, hệ thống dẫn đường, định vị, chuyển động và lực kéo điện với động cơ, bánh xe và pin. Tôi cũng đang xác minh rằng tất cả các công nghệ chủ chốt đều có thể tồn tại trong môi trường Mặt Trăng. Điều này sẽ hỗ trợ các sứ mệnh trong tương lai bằng cách sử dụng các công nghệ đã được chứng minh trên các nền tảng tiên tiến hơn. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên vào năm tới sẽ đặt mục tiêu "sống sót" qua một hoặc hai đêm trên Mặt Trăng. Ít nhất đó là những gì chúng tôi mong đợi, và nếu kéo dài hơn được thì càng tốt. Tuy nhiên, các sứ mệnh trong tương lai sẽ phải hoạt động được trong một thời gian không còn được tính bằng đêm nữa, mà bằng tháng hoặc năm. “  MONA LUNA chủ yếu sẽ được sử dụng để vận chuyển các thiết bị, nhưng trong trường hợp khẩn cấp có thể chở theo một phi hành gia đang gặp khó khăn, theo kịch bản được Cơ quan Không gian châu Âu và Trung  tâm Quốc gia Nghiên cứu Không gian của Pháp dự trù trong các nghiên cứu về tính khả thi Hướng tới Sao Hỏa Không chỉ trên Mặt Trăng, công ty Venturi Space còn đang phát triển xe tự hành trên Sao Hỏa, một hành tinh cũng có môi trường rất khắc nghiệt. Xe tự hành Sao Hỏa khác gì so với xe tự hành Mặt Trăng, ông Olsommer cho biết:  “Trái ngược với những gì người ta thường nghĩ, môi trường Sao Hỏa không khắc nghiệt như môi trường xung quanh. Điều này có hai lý do. Thứ nhất là về nhiệt độ. Nhiệt độ trên Sao Hỏa dễ chịu hơn nhiều, ít khắc nghiệt hơn nhiều so với nhiệt độ trên Mặt Trăng. Và thứ hai, trên Sao Hỏa, có một bầu khí quyển CO2 nhẹ cho phép làm mát tất cả các bộ phận của xe tự hành dễ dàng hơn một chút.  Có thể có những lựa chọn ít khắc nghiệt hơn về mặt vật liệu, chính là bởi vì nhiệt độ trên Sao Hỏa không quá khắc nghiệt. Nhưng mặt khác, hành trình đến Sao Hỏa dài hơn nhiều và về mặt lý thuyết, chi phí sẽ tốn kém hơn nhiều. Điều này có nghĩa là hành trình đến Sao Hỏa đòi hỏi một xe tự hành thậm chí còn đáng tin cậy hơn cả xe tự hành sẽ đến Mặt Trăng. Dự án xe tự hành lên Mặt Trăng là một dự án hoàn toàn do châu Âu thực hiện. Còn dự án xe tự hành lên Sao Hỏa sẽ là một dự án hợp tác với các công ty Mỹ. Hiện chưa có hợp đồng nào được ký kết, không giống như đối với các xe tự hành sẽ đến Mặt Trăng, vốn đã có các hợp đồng cụ thể được ký kết. Nhưng những gì đang được chuẩn bị là cho thời kỳ trước những năm 2030, tức là trong tương lai gần, điều này sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của một số tên lửa đẩy của Mỹ, mà tôi chưa thể tiết lộ tên, dự kiến sẽ bay lên Sao Hỏa trong những năm tới.” Ngoài MONA LUNA, còn có một xe tự hành Mặt Trăng khác coi như 100% châu Âu, đó là  xe tự hành cở rất nhỏ mang tên Tenacious. Được phát triển bởi ispace-Europe, công ty con tại Luxembourg của công ty tư nhân Nhật Bản ispace, xe tự hành này chỉ cao khoảng 26 cm, dài hơn 50 cm và chỉ nặng 5 kg. Việc phát triển Tenacious nhận được tài trợ từ Cơ quan Không gian Luxembourg thông qua hợp đồng với Cơ quan Không gian Châu Âu. Theo dự kiến, sau khi được triển khai từ tàu đổ bộ, Tenacious sẽ sử dụng camera HD phía trước để ghi lại hình ảnh bề mặt Mặt Trăng. Xe tự hành sẽ liên lạc với các trạm mặt đất thông qua tàu đổ bộ. Nhiệm vụ của Tenacious bao gồm thu thập bụi Mặt Trăng, một phần của hợp đồng đã ký với NASA vào năm 2020, một sáng kiến nhằm chứng minh tính khả thi của việc khai thác tài nguyên Mặt Trăng.  Tenacious đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu lớp đất Mặt Trăng trong khuôn khổ chuyến bay của phi thuyền Resilience của công ty Nhật Bản trong tháng 6/2025. Nhưng chuyến bay đã thất bại, vì sau khi đáp thành công xuống Mặt Trăng, Resilience đã mất liên lạc với Trái Đất và như vậy là xe tự hành Tenacious đã không thể thực hiện nhiệm vụ được giao. Argonaut, tàu đổ bộ Mặt Trăng của châu Âu Trong lĩnh vực thám hiểm không gian, châu Âu cũng có một công ty lớn, đó là Thales Alenia Space, liên doanh giữa tập đoàn công nghiệp quốc phòng Pháp Thales (67%) và tập đoàn công nghiệp quốc phòng Ý Leonardo (33%). Thales Alenia Space đã ký hợp đồng trị giá 862 triệu euro với Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) để thiết kế và phát triển Bộ phận H
Robot và AI, hai yếu tố giúp tăng cường sức mạnh quân sự của Pháp
2025/09/10
Trong bối cảnh bất ổn của thế giới ngày nay, với nguy cơ xung đột quân sự leo thang và nhất là trước mối đe dọa từ Nga, Pháp đang nỗ lực tăng cường khả năng phòng thủ, trang bị cho quân đội những công nghệ tiên tiến, trong có có công nghệ robot kết hợp với trí tuệ nhân tạo.  Trí tuệ nhân tạo vẫn là một công nghệ tương đối mới, nhưng ứng dụng quân sự của nó đã trở thành hiện thực ở nhiều quốc gia. Quân đội Pháp cũng đang sử dụng công nghệ này, ví dụ như các xe bọc thép, bao gồm cả xe tăng Leclerc XLR, mới được tăng cường trí tuệ nhân tạo. Việc tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo mang lại hiệu suất quan sát và phát hiện tốt hơn. Ngay cả trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, xe tăng vẫn có thể cung cấp hình ảnh chất lượng cao. Nói chung là robot được sử dụng đặc biệt cho mục đích giám sát, sửa chữa, hậu cần và cho bất kỳ nhiệm vụ lặp đi lặp lại và rủi ro cao nào khác. Trước đây, 2040 là năm được ấn định cho việc đưa các robot đó vào hoạt động trong quân đội Pháp, nhưng cuộc chiến Ukraina và những cuộc xung đột vũ trang khác đã làm thay đổi các ưu tiên quân sự. Bên cạnh việc đào tạo nhân sự, vũ khí cũng đang trở nên thông minh hơn và thích nghi hơn. Robot hóa hiện là trọng tâm của các chiến thuật quân sự. Thật ra thì robot sẽ không thay thế người lính, mà trở thành phương án dự phòng, đặc biệt là ở những khu vực dễ bị tấn công. Do đó, chính công nghệ này thích ứng với người lính, chứ không phải ngược lại. Gần đây, tướng Bruno Baratz, tư lệnh đặc trách Chương trình Chiến đấu Tương lai của Quân đội Pháp, đã công bố ý định triển khai robot sẵn sàng chiến đấu. Phát biểu trong một cuộc tập trận robot quân sự gần Paris, tướng Baratz cho biết: "Chúng tôi hy vọng sẽ có một hệ thống robot tiên tiến trong vòng ba năm tới, với những robot mặt đất đầu tiên sẵn sàng trang bị cho lực lượng của chúng tôi. Chính phủ Pháp có kế hoạch triển khai các hệ thống tiên tiến, có tính ứng dụng thực tế cho các đơn vị chiến đấu của chúng tôi trước năm 2040." Trong các cuộc thử nghiệm robot quân sự, các đơn vị không người lái, được trang bị chân, xích và bánh xe, đã di chuyển qua các chướng ngại vật và tránh các bẫy được thiết kế để mô phỏng điều kiện chiến trường. Quân đội Pháp có kế hoạch triển khai những robot này cho nhiều nhiệm vụ khác nhau, từ giám sát, sửa chữa từ xa, đến rà phá bom mìn. Tướng Tony Maffeis, giám đốc bộ phận kỹ thuật của lục quân (STAT), nhấn mạnh: "Giờ đây, chúng ta cần chứng minh rằng robot có thể hiệu quả hơn khi tiếp xúc gần với kẻ thù. Robot phải hỗ trợ chiến đấu, chứ không phải cản trở chiến đấu." Dự án Pendragon: Kết hợp trí tuệ nhân tạo với robot Triển lãm công nghệ Vivatech 2025 tại Paris đã là dịp để bộ Quân Lực Pháp giới thiệu với công chúng những ứng dụng của công nghệ trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực quốc phòng, chẳng hạn như dự án Pendragon.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm VIvatech 2025, ông Théo Pierre, một chuyên viên về trí tuệ nhân tạo của Cơ quan đặc trách trí tuệ nhân tạo quốc phòng ( MIAD ), trực thuộc bộ Quân Lực Pháp, cho biết: “Pendragon là dự án trí tuệ nhân tạo AI và robot do Cơ quan đặc trách trí tuệ nhân tạo quốc phòng và Bộ Tư lệnh Tác chiến Tương lai, tức là lục quân, thực hiện. Dự án này trước hết là nhằm thiết lập đơn vị robot chiến đấu đầu tiên tích hợp trí tuệ nhân tạo và sau đó là tập hợp các nền tảng robot trên mặt đất và nền tảng bay, bao gồm cả drone, giúp các nền tảng này tương tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ do một chỉ huy quân sự đề ra. Nhiệm vụ này sẽ được diễn giải tự động bằng trí tuệ nhân tạo. Công nghệ trí tuệ nhân tạo cũng sẽ được sử dụng ở một cấp độ khác, thống nhất trong mỗi nền tảng, để thực hiện các nhiệm vụ như trinh sát, phát hiện bằng quang điện tử, mà còn cả bằng tần số vô tuyến, radar, v.v. Mục tiêu là có một đơn vị chỉ gồm robot, nhưng chúng được điều khiển bởi một chỉ huy quân sự đã được đào tạo cho việc này và sẽ có thể quyết định các hành động cần thực hiện.  Chúng tôi sử dụng các mô hình mà chúng tôi đã đào tạo và khai thác, đồng thời dựa vào các nhà sản xuất để sử dụng dữ liệu của họ. Ngay cả khi chúng được chỉ huy bởi một sĩ quan, những robot này có ít nhiều tự chủ. Mức độ tự chủ của robot cũng có thể do người điều khiển quyết định tùy thuộc vào nhiệm vụ và mức độ nguy hiểm dự kiến ​​của nhiệm vụ. Hiện giờ chúng tôi đang mở trung tâm Pendragon, để tập hợp tất cả các bên có liên quan và có hứng thú với dự án. Về mốc thời gian, đơn vị robot sẽ có buổi biểu diễn thử nghiệm đầu tiên vào mùa hè năm 2026."  Nói chung, theo ông Théo Pierre, trí tuệ nhân tạo AI đang ngày càng được sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng của Pháp:  “Việc thành lập cơ quan MIAD chứng minh điều đó. Bây giờ, phải chuyển từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển AI sang sản xuất. Điều đó có nghĩa là chúng tôi đang cố gắng đẩy nhanh quá trình tích hợp AI vào các hệ thống vũ khí nói chung. Một trong những mục tiêu của dự án Pengragon là tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ huy và kiểm soát hệ thống. Chính xác hơn là để giảm tải cho chỉ huy quân đội, để viên chỉ huy này sau đó sẽ có thể vận hành nhiều drone cùng một lúc, chứ không chỉ một hoặc hai drone như hiện nay." Theo hãng tin AFP, trong nhiều tuần vào tháng 5 vừa qua, lục quân Pháp đã tổ chức cuộc thi CoHoMa, một cuộc thi về sự hợp tác giữa người và máy, với sự tham gia của mười đội đến từ các ngành công nghiệp, phòng thí nghiệm nghiên cứu và trường kỹ thuật, thực hiện một nhiệm vụ chung: chứng minh khả năng của robot trong việc giữ vững vị trí trước kẻ thù. Tướng Tony Maffeis, giám đốc bộ phận kỹ thuật của lục quân (STAT), giải thích với AFP: Từ drone quan sát đến xe rà phá bom mìn, robot đã "rất hữu ích trong việc bảo vệ các đơn vị của chúng ta, nhưng giờ đây chúng ta cần chứng minh robot có thể tăng hiệu quả khi tiếp xúc với kẻ thù." AFP trích lời ông Baptiste Lepelletier, thuộc một nhóm quy tụ các trường Enac, Isae-Supaero và trung tâm nghiên cứu hàng không vũ trụ Onera của Pháp, cho biết, với cuộc thi này, "chúng tôi bước ra khỏi phòng thí nghiệm và giải quyết một nhiệm vụ thực tế".  Robot mặt đất không thể thiếu sự phối hợp của các drone. Lục quân Pháp đã nghiên cứu vấn đề này từ năm 2021 với dự án Vulcain và bộ phận robot thử nghiệm, đã trình diễn một cuộc tấn công được hỗ trợ bởi một nền tảng robot được trang bị súng máy 12,7 mm. Không cần chờ đến mục tiêu năm 2040, một số thành tựu từ hai phiên bản trước của cuộc thi CoHoMa đã được tích hợp vào thiết bị. Marc Dehondt, đứng đầu bộ phận đổi mới hệ thống mặt đất của tập đoàn Thales, cho biết họ đã "tích hợp một số thành tựu vào hệ thống chiến đấu Scorpion", hệ thống kết nối các xe bọc thép thế hệ tiếp theo. Nhưng trước khi tham gia chiến đấu, những ứng dụng đầu tiên sẽ là trong hậu cần, với các đoàn xe vận tải chạy bằng drone hoặc robot chở hàng hóa thay cho binh lính. SERAA: Nhận dạng bằng trí tuệ nhân tạo Cũng tại triển lãm Vivatech 2025, bộ Quân Lực Pháp đã giới thiệu dự án SERAA, một hệ thống nhận dạng bằng trí tuệ nhân tạo. Đây là hệ thống đầu tiên được sử dụng để nhận dạng và xác định những đặc tính của các xe tăng đối phương. Trả lời RFI Việt ngữ, ông Frédéric Ponsavady, trưởng dự án, cho biết: “Đây là một dự án trong số rất nhiều dự án của bộ Quân Lực, tương tự như những gì chúng ta thấy với hệ thống nhận dạng khuôn mặt, ngoại trừ việc nó thực sự được áp dụng cho bất kỳ loại phương tiện chiến đấu nào. Vì vậy, dù là trên bộ, trên biển, hay thậm chí trên không, nó đều có thể được điều chỉnh. Đây là những hệ thống đồng thời tập trung, phi tập trung, tự vận hành, tự động hóa, v.v. Và nó dựa vào trí tuệ nhân tạo. Như với bất kỳ hệ thống thông minh nào, nó phả
Công nghệ : Dùng trí tuệ nhân tạo để phát hiện hàng giả
2025/08/13
Nạn hàng giả không phải là mới, nhưng tác động kinh tế của tệ nạn rất lớn, chiếm khoảng 2,5% thương mại toàn cầu và gây thiệt hại mỗi năm hàng tỷ đô la cho các doanh nghiệp trên thế giới. Hàng giả không chỉ gây hại cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến người tiêu dùng, vì họ mua phải những sản phẩm kém chất lượng, thậm chí nguy hiểm. Chỉ riêng tại Pháp, 37% người tiêu dùng đã vô tình mua phải hàng giả. Vrai Ai: Trợ thủ của Lacoste Nhưng làm sao phân biệt được sự khác biệt giữa một chiếc áo phông Lacoste và một chiếc áo phông giả có logo cá sấu nổi tiếng? Thật sự thì với mức độ tinh xảo ngày càng cao của những cơ sở sản xuất hàng giả, mắt thường thật khó mà phân biệt, trừ phi chúng ta là một chuyên viên sành sõi. Việc phân biệt hàng thật với hàng giả trong ngành dược phẩm lại càng quan trọng vì nó liên quan đến sức khỏe, đến mạng sống con người. Rất may là hiện nay trí tuệ nhân tạo (AI) đang được sử dụng ngày càng nhiều trong việc phát hiện hàng giả, chẳng hạn như ứng dụng trí tuệ nhân tạo do công ty khởi nghiệp Vrai AI của Pháp phát triển. Ứng dụng này, có thể nhận diện hàng giả dựa trên phân tích ảnh, đã được giới thiệu tại triển lãm công nghệ Vivatech 2025 (17-20/06/2025). Vrai AI hiện đang cộng tác với hãng Lacoste, thương hiệu mà các sản phẩm, nhất là áo phông, rất thường bị làm giả. Có những chiếc áo phông Lacoste nhìn qua là biết ngay là hàng giả, nhưng có những chiếc áo được làm giả một cách tinh vi hơn, mắt thường không thể phát hiện được, mà phải cần đến ứng dụng Vrai AI, với độ chính xác gần như tuyệt đối, 99,7%. Độ chính xác này không chỉ giúp thương hiệu Lacoste bảo vệ hình ảnh và sản phẩm của họ, mà còn tiết kiệm đáng kể chi phí liên quan đến gian lận khi trả hàng (mua hàng thật nhưng gởi trả hàng giả). Nhân viên Lacoste sử dụng ứng dụng Vrai AI để chụp ảnh các sản phẩm được trả lại và có thể xác định ngay đó là hàng giả hay thật.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Vivatech, ông Hugo Garcia-Cotte, đồng sáng lập công ty khởi nghiệp Vrai AI, cho biết: “Chúng tôi có một hệ thống trí tuệ nhân tạo được huấn luyện trên hàng trăm nghìn bức ảnh sản phẩm thật và siêu giả, từ đó ứng dụng có thể suy ra những lỗi vi mô do kẻ làm giả gây ra so với những lỗi vi mô trên sản phẩm thật. Vì vậy, chúng tôi có thể xác định một sản phẩm thật, như quần áo, thuốc chống sốt rét, nước hoa, cả thẻ căn cước. Ứng dụng Vrai AI có thể phát hiện hàng giả chỉ từ một bức ảnh chụp bằng điện thoại thông minh. Chúng tôi thậm chí đã thử nghiệm ứng dụng này trên những tờ tiền euro giả đẹp nhất và đã có thể phát hiện những tờ tiền giả đẹp nhất từ ​​ảnh chụp bằng điện thoại thông minh. Đối với mỗi loại sản phẩm, chúng tôi huấn luyện ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên loại sản phẩm đó bằng cách sử dụng một số lượng sản phẩm thật và sau đó chúng tôi suy ra rằng những sản phẩm không giống hàng thật là hàng giả. Ứng dụng của chúng tôi đã được huấn luyện trên mọi thứ được in hoặc thêu. Nghĩa là có một số loại lỗi là lỗi in ấn điển hình. Ví dụ, nếu màu sắc không chính xác thì đó có thể là lỗi in trên sản phẩm thật. Nhưng cũng có những lỗi khác chỉ có thể đến từ kẻ làm giả. Ví dụ, nếu phông chữ không đúng thì chắc chắn đó là hàng giả. Và đó là những gì Vrai IA đã tự học được từ hàng ngàn ví dụ mà chúng tôi cung cấp - chính xác là 180.000 ví dụ - nó có thể xác định được loại lỗi nào được chấp nhận và loại lỗi nào là bằng chứng của hàng giả.”  Ngoài việc cộng tác với hãng Lacoste, công ty Vrai AI hiện chủ chủ yếu giúp các nước ở châu Phi phát hiện các dược phẩm làm giả, theo lời ông Hugo Garcia-Cotte: “Điều mà hầu hết mọi người không nhận ra là nạn làm hàng giả thực sự rất nghiêm trọng. Năm ngoái, cứ 10 người trên thế giới thì có 7 người vô tình mua phải hàng giả. Tôi không nói đến những người mua đồng hồ giả cho vui, mà nói đến thuốc giả giết chết 100 người mỗi giờ trên thế giới, một con số quá lớn. Ngay cả  phương Tây cũng gặp tình trạng này, ví dụ như ở Hoa Kỳ, 11,4% thuốc là thuốc giả. Vì vậy, đối với thuốc giả, chúng tôi chụp ảnh hộp hoặc vỉ thuốc, mục đích là để có thể làm việc với hải quan.  Ví dụ, chúng tôi có một thỏa thuận với Cameroun để giúp phát hiện thuốc giả nhập khẩu, bởi vì, chẳng hạn như theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ở Nigeria có đến 64% thuốc chống sốt rét là thuốc giả, mà tại cửa khẩu, các nhân viên hải quan không có cách nào biết được. Vì vậy, công cụ này có thể cứu sống hàng ngàn người. Hiện giờ ứng dụng chúng tôi đang được triển khai cho các chính phủ ở Cameroun, Eswatini, Senegal, và nhiều nước khác. Vrai AI cũng đang sử dụng trên các loại thuốc chống ung thư được bán ở Trung Quốc, nơi chúng tôi đã cứu sống ít nhất 6.000 người nhờ việc giảm đáng kể tình trạng làm giả loại thuốc này.  Chắc chắn là các quan chức hải quan ở nhiều quốc gia sẽ quan tâm đến loại ứng dụng này. Đây là một vấn đề sức khỏe cộng đồng. Hàng giả giết chết nhiều người hơn cả bệnh sốt rét. Trong những tuần tới, hoặc ít nhất là trong vài tháng tới, ứng dụng VRAI AI sẽ được trang bị, ít nhất là cho Senegal, để phát hiện các loại thuốc giả có thể gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Và đó thực sự là mục tiêu của chúng tôi. Đúng là chúng tôi có thể tập trung vào việc phát hiện túi xách hoặc đồng hồ giả, thu được nhiều tiền hơn, nhưng mục tiêu của chúng tôi thực sự là cứu sống người bằng ứng dụng  đó. Vì vậy, đối tượng số một của chúng tôi là các nước đang phát triển, giúp hải quan các nước đó phát hiện thuốc giả, mặc dù đối với hải quan Pháp, chúng tôi cũng có thể giúp phát hiện rất nhiều sản phẩm khác nữa, bất cứ thứ gì miễn là nó được in hoặc được thêu. Không có vấn đề gì.”  Navee: Chống hàng giả trực tuyến Một công ty khởi nghiệp khác của Pháp cũng đang cung cấp một giải pháp sáng tạo dựa trên trí tuệ nhân tạo, đó là Navee. Navee vừa được Hiệp hội Nhãn hiệu Quốc tế (INTA) bình chọn là giải pháp sáng tạo nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, ghi nhận tất cả những nỗ lực mà công ty khởi nghiệp của Pháp đã thực hiện trong hơn bốn năm qua. Công nghệ dựa trên AI của Navee để chống hàng giả trực tuyến đã xử lý hơn 50 triệu hình ảnh và giúp khoảng 100 thương hiệu toàn cầu tiết kiệm hơn 500 triệu đô la.  Matteo Amerio, đồng sáng lập Navee (cùng với Matthieu Daviet), cho biết hành trình Navee thực sự chỉ bắt đầu khi anh học tại Stanford, nơi anh cùng cộng sự viên tìm chỗ ở và phát hiện ra rằng các danh sách trực tuyến thực sự tràn ngập hàng giả. Sau đó, cặp bài trùng này quyết định sử dụng công nghệ thị giác máy tính mà họ đang phát triển trong một công ty khởi nghiệp do họ thành lập để phát hiện các sản phẩm gian lận trực tuyến. Họ đã mất hơn bốn năm để phát triển công nghệ này, tự động hóa việc tìm kiếm và phân tích các danh sách gian lận trên toàn bộ mạng Internet. Trí tuệ nhân tạo (AI) của Navee giải mã các yếu tố hình ảnh, đồ họa và văn bản cụ thể của từng khách hàng trên internet một cách cực kỳ chính xác, giúp nhanh chóng định vị và kiểm soát nội dung trực tuyến, cũng như tự động xóa nội dung, thậm chí xác định các mạng lưới ẩn sau nội dung đó. Để luôn dẫn đầu về công nghệ, công ty khởi nghiệp này cũng đã hợp tác với các đối tác chủ chốt trong ngành như Liên minh các nhà sản xuất bảo vệ sở hữu trí tuệ quốc tế (UNIFAB) và Google. Navee cũng vừa gia nhập ủy ban chống hàng giả của INTA, một hiệp hội toàn cầu quy tụ hơn 31.000 chủ sở hữu thương hiệu và chuyên gia về các dịch vụ liên quan đến thương hiệu và sở hữu trí tuệ. Amazon cũng nhập cuộc Các công ty thương mại điện tử lớn cũng đã triển khai những công cụ mới để chống tệ nạn hàng giả, đi đầu là Amazon. Theo một nghiên cứu năm 2023 của Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Liên Hiệp Châu Âu (EUIPO), hàng gi
50 năm ESA: Vệ tinh Sentinel-1, trợ thủ đắc lực giúp Việt Nam đối phó với lũ
2025/07/22
Từ nhiều năm nay, vệ tinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã hỗ trợ Việt Nam trong việc đối phó hiệu quả với lũ lụt và nhiều thảm họa lớn khác. Nhân dịp kỉ niệm 50 năm thành lập Cơ quan Vũ trụ châu Âu, RFI tiếng Việt đặt câu hỏi với chuyên gia về vệ tinh quan sát Trái đất, Philippe Bally, về loại vệ tinh đặc biệt này. Chuyên gia Philippe Bally làm việc tại trung tâm quan sát Trái đất ESRIN, trực thuộc Cơ quan vũ trụ châu Âu ESA. Ông cũng là đại diện của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu tại Hội đồng của Hiến chương Không gian Quốc tế và các Thảm họa Lớn (International Charter Space and Major Disasters / Charte Espace et Catastrophes Majeures). Hiến chương Không gian Quốc tế và các Thảm họa Lớn, thành lập từ năm 1999, là cơ chế điều phối các hợp tác quốc tế nhằm cung cấp miễn phí các bản đồ hình ảnh vệ tinh. RFI : Xin ông giải thích khái quát về phương thức hoạt động của vệ tinh Sentinel-1 và điều gì khiến vệ tinh này khác biệt so với các vệ tinh khác ? Chuyên gia Philippe Bally : Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) hợp tác với 16 cơ quan vũ trụ khác trên toàn thế giới để vận hành một hệ thống ứng phó với các thảm họa thiên nhiên phục vụ mục tiêu nhân đạo. Hệ thống này giám sát toàn bộ các khu vực trên hành tinh và kích hoạt việc lập trình hoạt động của các vệ tinh ở chế độ khẩn cấp để cung cấp hình ảnh miễn phí, bất kể với quốc gia nào. Sông Mêkông, cũng như Việt Nam nói chung, đều nằm trong vùng phủ sóng của hệ thống này. Vệ tinh Sentinel-1 đặc biệt vì hai lý do. Thứ nhất, đây là một vệ tinh radar. Nhiều vệ tinh khác có thể ví như máy ảnh, chụp hình dựa vào bức xạ hay ánh sáng mặt trời, tức là các hệ thống tiếp nhận ánh sáng một cách thụ động. Nhưng Sentinel-1 có cảm biến radar, nghĩa là vệ tinh này tự phát ra sóng ở băng tần C và tiếp nhận phản xạ từ các vật thể trên Trái Đất. Có nghĩa đây là một hệ thống chủ động. Nếu so sánh với máy ảnh, thì nó giống như chụp ảnh ban đêm bằng đèn flash – tức một hệ thống chủ động. Đây là điểm độc đáo của vệ tinh này. Thứ hai, Sentinel-1 có khả năng bao phủ toàn cầu một cách hệ thống và liên tục chụp ảnh mà không cần người dùng yêu cầu. Vệ tinh hoạt động theo chế độ thu nhận dữ liệu định kỳ. Ví dụ, vệ tinh bay qua Paris 6 ngày một lần. Như vậy từ khi đi vào hoạt động đến cuối vòng đời của mìnhn, cứ mỗi 6 ngày vệ tinh lại cung cấp một ảnh chụp Paris mới và ảnh được cung cấp miễn phí. Hoạt động này tạo ra một hệ thống thu thập dữ liệu khổng lồ và liên tục. Đây là một lợi thế lớn, vì phần lớn người dùng dữ liệu vệ tinh đều cần được tiếp cận liên tục và ổn định với dữ liệu, chứ không phải chỉ là vài hình ảnh rời rạc. Vì sử dụng radar chủ động nên « nhìn » được cả vào lúc ban đêm, và vì hoạt động liên tục nên vệ tinh thường xuyên cung cấp hình ảnh về mọi khu vực. Sentinel-1 là vệ tinh radar duy nhất cung cấp dữ liệu toàn cầu thường xuyên và miễn phí. RFI : Vệ tinh Sentinel-1 cung cấp loại dữ liệu nào trong bối cảnh thiên tai như lũ lụt ? Sentinel-1 đã đóng vai trò gì trong việc theo dõi lũ lụt sông Mêkông tại Việt Nam ? Những thông tin cụ thể nào đã được rút ra từ ảnh vệ tinh ? Chuyên gia Philippe Bally : Radar vệ tinh rất nhạy cảm với sự hiện diện của nước, như sông, hồ, vùng bị ngập hoặc cả ruộng lúa nước. Khi chụp ảnh định kỳ và so sánh các ảnh để phát hiện thay đổi, ta có thể thấy tín hiệu radar giảm mạnh khi một bề mặt bị ngập nước, vì radar phản xạ giống như ánh sáng với gương. Trong trường hợp đất ngập nước, tín hiệu không quay lại vệ tinh, hệ quả là ảnh trở nên rất tối. Chính nhờ đó, ta có thể lập được bản đồ phạm vi ngập nước, gọi theo thuật ngữ chuyên môn là « dấu vết quan sát lũ lụt » (traces observées d’inondation), được cập nhật từ 3 đến 6 ngày một lần. Các bản đồ này giúp theo dõi phạm vi và sự biến đổi của các vùng bị ngập, dĩ nhiên phải được bổ sung thêm với các nguồn dữ liệu khác. Người dùng có thể kết hợp các bản đồ kiểu này với các dữ liệu khác, được thu thập với tần suất cao hơn, nhưng xét về độ phân giải thì lại không bằng. Về mặt không gian, Sentinel-1 cung cấp thông tin chi tiết với độ phân giải chính xác đến khoảng 20m x 20m mỗi pixel, có nghĩa là rất chính xác để theo dõi lũ lụt ở vùng đồng bằng. Còn về mặt thời gian, hệ thống phụ thuộc vào chu kỳ quay lại của vệ tinh – khi Sentinel-1A và Sentinel-1C hoạt động cùng nhau, có thể đạt chu kỳ 3 ngày một lần, cả trong giai đoạn vệ tinh bay lên cũng như hạ xuống. Các mô hình thủy văn của trung tâm khí tượng có thể mô phỏng với nhịp độ dày đặc xét về thời gian, nhưng về độ chính xác thì không bằng, vì dựa vào mô hình. Trong khi đó, Sentinel-1 cung cấp các quan sát trực tiếp thực tế. Do đó, điều mang lại lợi thế ở đây nằm ở chỗ kết hợp dữ liệu vệ tinh với mô hình thủy văn, với lợi thế liên tục về thời gian của mô hình và lợi thế về độ chính xác cao của ảnh vệ tinh. RFI : Trong việc giám sát bằng vệ tinh các khu vực có rủi ro cao như lũ lụt sông Mêkông ở Việt Nam, đâu là những cách tân được kỳ vọng trong tương lai ? Chuyên gia Philippe Bally: Những đổi mới được kỳ vọng trong công nghệ không gian đối với rủi ro thiên tai là phương pháp tích hợp thường được gọi là « virtual constellation », tạm dịch là « kết nối các vệ tinh » (hay « chòm sao ảo »). Đây là các hệ thống hoạt động với số lượng lớn cảm biến rất khác nhau (bao gồm cảm biến quang học lẫn cảm biến radar), nhưng được kết nối một cách thống nhất ngay cả khi chúng thuộc về các tổ chức riêng biệt. Cơ chế « Hiến chương quốc tế / International Charter », tên đầy đủ là International Charter Space and Major Disasters/ Hiến chương quốc tế về Không gian và những thảm họa lớn) cho phép kết hợp các cảm biến đến từ Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Achentina, châu Âu... và chúng tôi đã thống nhất về cách thông báo và cung cấp dữ liệu, cũng như kết hợp các dữ liệu này với « các nền tảng đám mây » (plateformes cloud) – tức các nền tảng trực tuyến cho phép xem và phân tích ảnh một cách nhanh chóng, bất kể nguồn gốc ảnh hay loại cảm biến nào. Chúng ta đang thực sự tiến tới những hệ thống đa cảm biến không đồng nhất, nhưng có thể vận hành rất nhanh và rất nhịp nhàng. Các hệ thống ứng phó thiên tai toàn cầu như Copernicus EMS (Emergency Mapping System) ở châu Âu hoặc cơ chế Hiến chương quốc tế về các thảm họa lớn đều sử dụng nguyên tắc gọi là « kết nối các vệ tinh » (chòm sao ảo) vì mục tiêu chung như vậy. Điều này có nghĩa là chúng tôi vận hành các vệ tinh thuộc nhiều cơ quan khác nhau theo một cách thống nhất, với một cách thu thập dữ liệu duy nhất, xây dựng hình ảnh và chuyển đổi dữ liệu thành thông tin theo cách thức thống nhất. RFI : Dữ liệu vệ tinh đã được các cơ quan chức năng tại Việt Nam sử dụng như thế nào ? Chuyên gia Philippe Bally : Liên quan đến Việt Nam, kể từ năm 2015, đã có tổng cộng 10 lần kích hoạt dịch vụ bản đồ vệ tinh bởi UNOSAT – Trung tâm bản đồ vệ tinh của Liên Hiệp Quốc, được đặt tại trụ sở của UNITAR (United Nations Institute for Training and Research), một cơ quan khác của Liên Hiệp Quốc, ở Genève, Thụy Sĩ, và một trung tâm khác tại Thái Lan. Trong số đó, 6 lần được kích hoạt trên cơ sở cơ chế Hiến chương quốc tế về không gian và các thảm họa lớn, mà Cơ quan Vũ trụ Châu Âu ESA cùng 16 cơ quan không gian khác tham gia. Mỗi lần như vậy, chúng tôi đều cung cấp bản đồ lũ dựa trên hình ảnh từ nhiều vệ tinh, đặc biệt là vệ tinh Sentinel-1. Các lần kích hoạt thường do Liên Hiệp Quốc yêu cầu, nhưng thường với sự phối hợp cùng các cơ quan sử dụng dữ liệu tại chỗ, ở cấp quốc gia hay địa phương, như bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (MONRE), nơi có cục Viễn thám Quốc gia – đơn vị trực tiếp tiếp nhận và phân tích dữ liệu ảnh vệ tinh. Một ví dụ tiêu biểu cho việc kích hoạt cơ chế này cụ thể là đợt bão Ya
Y tế: Thế giới có thể đối phó với đại dịch mới?
2025/04/16
Sau hơn ba năm đàm phán, ngày 16/04/2025, các quốc gia thành viên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhất trí thông qua một văn bản lịch sử để chuẩn bị tốt hơn chống lại các đại dịch trong tương lai. Năm năm sau khi Covid-19 xuất hiện, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người và tàn phá nền kinh tế toàn cầu, thế giới nay vẫn chưa được trang bị để đối mặt với một đại dịch khác, theo WHO và các chuyên gia.  Cách đây hơn 5 năm, ngày 11/01/2020, Trung Quốc công bố ca tử vong đầu tiên do một loại virus chưa xác định, mà sau này mới biết đó là virus corona gây bệnh Covid-19. Đại dịch Covid-19 đã nhanh chóng lan rộng và gây xáo trộn cả thế giới trong một thời gian dài. Gần 800 triệu người bị nhiễm, ít nhất 10 triệu người tử vong theo các số liệu chính thức. Trên thực tế, số nạn nhân có thể còn nhiều hơn nữa, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO ).  Hơn năm năm sau, virus vẫn còn đó, nhưng lây lan “âm thầm” hơn, cơn bão đã được kiểm soát nhờ những nỗ lực ngăn chặn đại dịch. Nhưng chúng ta có đã rút ra được những bài học từ cuộc khủng hoảng hay chưa, và nếu có thì liệu những bài học đó có đủ để giúp nhân loại đối đầu với một đại dịch mới, mà theo tất cả các chuyên gia là gần như không thể tránh khỏi? Covid-19 không còn nguy hiểm?Hiện giờ đại dịch Covid-19 đã qua rồi và virus gây bệnh này không còn nguy hiểm như trước đây, thậm chí một số người nghĩ rằng Covid nay cũng giống như một loại cúm theo mùa. Nhưng trả lời phỏng vấn đài RFI ban Pháp ngữ ngày 13/01/2025, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre, bác sĩ chuyên khoa truyền nhiễm tại bệnh viện Henri - Mondor, ngoại ô Paris và cũng là một chuyên viên bên cạnh Tổ chức Y tế Thế giới, lưu ý: “Hiện nay chúng ta được chuẩn bị tốt hơn so với cách đây 5 năm, khi mà dịch Covid đã bùng phát mà không ai ngờ đến. Khả năng miễn nhiễm của chúng ta đã được tăng cường do đã bị lây nhiễm Covid và do được chích ngừa, nhờ vậy mà chúng ta đã có thể kềm chế được con virus. Cho nên, dịch bệnh này không còn gây tác hại như cách đây 5 năm.  Nói đó là một bệnh nhẹ thì đúng mà cũng không đúng. Đúng là Covid nay là một bệnh nhẹ hơn so với ban đầu vì nhiều lý do mà chúng ta có thể nêu lên ở đây, nhưng đó vẫn là một căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Vẫn còn những người phải nhập viện vì bị nhiễm Covid. Vẫn còn những người chết vì Covid, cho dù có thể không có liên hệ trực tiếp với Covid bằng trước đây. Covid ngày nay vẫn còn có thể làm trầm trọng hơn các bệnh nền, khiến ta phải nhập viện và có thể tử vong”. Như vậy, liệu thế giới có được chuẩn bị tốt hơn so với năm 2020? “Câu trả lời là có và không”, theo phát biểu gần đây của Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới, tổ chức đóng vai trò trung tâm trong cuộc chiến chống Covid-19. Ông nhấn mạnh: “Nếu đại dịch tiếp theo xảy ra ngày nay, thế giới vẫn sẽ phải đối mặt với một số điểm yếu và nguy cơ tương tự. Nhưng thế giới cũng đã học được nhiều bài học đau đớn từ đại dịch và thực hiện các bước quan trọng để tăng cường khả năng phòng chống". Maria Van Kerkhove, nhà dịch tễ học người Mỹ, đứng đầu bộ phận Phòng ngừa và Chuẩn bị cho Dịch bệnh và Đại dịch của WHO, cũng ghi nhận: “Nhiều thứ đã được cải thiện nhờ đại dịch cúm A năm 2009 ( dịch do virus H1N1 gây ra ), nhưng cũng nhờ Covid. Tuy nhiên, tôi nghĩ thế giới chưa sẵn sàng cho một đại dịch hoặc dịch bệnh hàng loạt khác". H5N1: Một đại dịch mới?Hơn nữa, không chỉ có virus gây bệnh Covid-19, mà một số virus khác cũng có thể đẩy nhân loại vào một đại dịch mới. Vào cuối tháng 12 năm ngoái, nhà chức trách Hoa Kỳ vừa xác nhận ca nhiễm cúm gia cầm nghiêm trọng ở nước này và bang California đã ban hành tình trạng khẩn cấp y tế. Cụ thể, vào tháng 12, một đứa trẻ ở Quận Marin, bang Califorrnia, đã bị sốt và nôn mửa sau khi uống sữa thô, chưa tiệt trùng. Thật ra đó là vì trước đó bệnh nhân đã tiếp xúc với những con chim bị bệnh và chết. Xét nghiệm cho thấy đứa bé có kết quả  dương tính với chủng virus cúm gia cầm H5N1, chủng virus mà các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm lo ngại có thể trở thành nguồn gốc của đại dịch tiếp theo. Tại Hoa Kỳ, ít nhất 61 người đã nhiễm virus này, hầu hết là thông qua tiếp xúc trực tiếp với gia cầm hoặc bò.  Trước đó, vào tháng 11, một thiếu niên ở tỉnh British Columbia của Canada, sau khi đi khám vì bị viêm kết mạc và ho, đã được đưa vào bệnh viện ở Vancouver, phải thở bằng máy và phải nằm trong phòng điều trị tích cực trong nhiều tuần. Xét nghiệm cho thấy thiếu niên này có kết quả dương tính với chủng virus cúm gia cầm H5N1. Mỗi khi con người bị bệnh, virus lại có thêm cơ hội để lây lan từ người sang người. Một khi rào cản quan trọng này bị vượt qua, nó có thể gây ra một đại dịch. Không có bằng chứng nào cho thấy virus H5N1 hiện đã vượt qua ngưỡng quan trọng này. Có thể virus này sẽ không bao giờ vượt qua được cột mốc đó. Tuy nhiên, theo ông Matthew Binnicker, nhà vi sinh học đường hô hấp tại bang Minnesota, Hoa Kỳ, "dựa trên những gì chúng ta biết về các loại virus  này, xu hướng là không khả quan". Ông nói thêm là cần phải thực hiện "các biện pháp nghiêm ngặt". Nói chung, các chuyên gia khẳng định rằng chuẩn bị cho một tình huống tệ hại hơn không phải là quá sớm và cũng không phải là  phi lý. Trong bài trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre cũng cảnh báo: “Một cách tự nhiên, virus đã nhanh chóng thích ứng. Chúng ta đã tìm ra phương cách để cố gắng kiểm soát nó. Nhưng không chỉ có virus gây bệnh Covid, mà trên thế giới ngày nay, một số virus khác cũng có thể đẩy nhân loại vào một đại dịch toàn cầu mới. Như tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới đã nói: Chúng ta có đã làm một cách tối ưu chưa? Có thể là chưa. Bởi vì người ta vẫn quên rằng, dĩ nhiên Covid 19 trước hết là một vấn đề y tế, nhưng đó cũng là tấm gương phản chiếu thực trạng của thế giới hiện nay: dân số vẫn tăng mạnh, trao đổi ngày càng nhiều giữa các quốc gia, những vấn đề liên quan đến việc kềm chế sự lây lan của dịch bệnh. Đại dịch bùng phát chính là do có sự tương tác giữa con người, càng có nhiều sự tương tác đó thì dịch bệnh càng dễ bùng phát. Như tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới đã nói: Chắc chắn chúng ta sẽ gặp một đại dịch toàn cầu mới.” Vac-xin: Bất bình đẳng Bắc - NamVào tháng 12/2021, các nước thành viên WHO đã quyết định xây dựng một thỏa thuận về phòng ngừa và ứng phó đại dịch để tránh những sai lầm nghiêm trọng của Covid. Nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi lớn, bao gồm việc chia sẻ dữ liệu về các tác nhân gây bệnh mới nổi và những lợi ích từ chúng, cụ thể là vac-xin, xét nghiệm và phương pháp điều trị cũng như giám sát đại dịch. Các nhà đàm phán đã đặt ra thời hạn tháng 5/2025 để đạt được sự đồng thuận. Ngoài ra, hơn 200 nhà khoa học từ hơn 50 quốc gia đã đánh giá dữ liệu về 1.652 tác nhân gây bệnh, chủ yếu là virus, để từ đó WHO lập danh sách khoảng 30 tác nhân gây bệnh có khả năng gây ra đại dịch trong tương lai, chẳng hạn như Covid-19, sốt Lassa và các loại virus Ebola, Zika và Marburg. Thế nhưng, nhóm chuyên gia độc lập về phòng ngừa và ứng phó với đại dịch của WHO tuyên bố thẳng: "Vào năm 2025, thế giới chưa sẵn sàng để chống lại mối đe dọa đại dịch mới". Lý do là vẫn tồn tại sự bất bình đẳng trên thế giới trong việc tiếp cận các  nguồn tài trợ và các công cụ để chống lại đại dịch, chẳng hạn như vac-xin. Trong bài trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre chia sẽ ý kiến đó: “Chúng ta có thể thấy vấn đề đó đối với các loại vac-xin thông thường nhất. Vac-xin ngừa cúm A có thể được tiếp cận dễ dàng ở các nước phía Bắc, nhưng lại rất khó được tiếp cận ở các nước phía Nam. Những người làm việc trong lĩnh vực cung cấp vac-xin đều biết là có rất nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu về vac-xin cho châu Phi. Có thể lấy ví dụ về một đ
Drone được trang bị ngày càng nhiều cho hải quân các nước
2024/12/04
Trong bối cảnh địa chính trị quốc tế căng thẳng, nhất là với cuộc chiến Ukraina, các drone nay chiếm một vị trí mang tính chiến lược đối với hải quân trên toàn thế giới. Điều này đã được thể hiện qua triển lãm quốc phòng quốc tế Euronaval vào đầu tháng 11 tại Villepinte, ngoại ô Paris, Pháp. Tại cuộc triển lãm 2 năm một lần này, đi đến đâu cũng thấy trưng bày các kiểu drone mới được sử dụng để tác chiến, giám sát biển và đáy đại dương.  Các nước phương Tây đang phải đối phó với các cuộc tấn công bằng drone của lực lượng Houthi ở Yemen được Iran trang bị vũ khí nhắm vào giao thông hàng hải ở Hồng Hải. Trong khi đó, Ukraina đã thành công tiêu diệt 1/3 Hạm đội Hắc Hải của Nga và buộc được hạm đội này rời khỏi Crimea. Vào đầu tháng 11, Kiev khẳng định họ đã thực hiện thành công cuộc tấn công đầu tiên bằng drone mang chất nổ vào các tàu của Nga ở Biển Caspi, cách biên giới Ukraina đến 1.500 km.  Trả lời hãng tin AFP ngày 07/11/2024 bên lề Euronaval, ông Emmanuel Chiva, tổng đại diện về vũ khí của bộ Quân lực Pháp, cho rằng từ những cuộc xung đột đó, có thể dự báo là drone sẽ được hải quân các nước “sử dụng ồ ạt”. Đô đốc Eric Chaperon, cố vấn quốc phòng của tập đoàn vũ khí Pháp Thales, nói với AFP: “Các drone phải được xem xét ở cả hai góc độ: khả năng tác chiến của drone và khả năng chống drone của kẻ địch”. Tập đoàn công nghệ cao của Pháp, hiện trang bị cho hải quân 50 nước trên thế giới, cung cấp cả hai khả năng đó. Một trong những cải tiến là vũ khí điện từ "có khả năng đốt cháy các thiết bị điện tử của drone". Đô đốc Eric Chaperon giải thích: "Các drone nằm trong tầm hoạt động của vũ khí sẽ rơi chỉ trong một giây."  Tập đoàn Pháp cũng đẩy mạnh phát triển một công nghệ trí tuệ nhân tạo "tiết kiệm", có thể được trang bị trên các drone cũng như các giải pháp kết nối và tương tác, đã được thử nghiệm trong cuộc tập trận ở Bồ Đào Nha vào tháng 9 với một số nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu. Là một trong những người tham gia cuộc tập trận này, ông Nicolas Kuhl của tập đoàn Thales nói với AFP: “Khoảng 60 drone đã được triển khai trên không, trên mặt nước và dưới biển để thực hiện đồng thời các nhiệm vụ tác chiến dưới nước, rà phá bom mìn và giám sát”.  Về phần mình, tập đoàn Naval Group đang phát triển loại drone dưới nước với “khả năng hoạt động lâu dài lên đến vài tuần” và “có khả năng tự ra quyết định rất cao”, theo giải thích của ông Pierre-Antoine Fliche, đứng đầu nhóm đặc trách drone của Naval Group, với AFP: “Thay vì lập trình trước một số nhiệm vụ, chúng tôi sẽ đưa ra mệnh lệnh, chẳng hạn như đến đó, chụp ảnh và quay lại nếu ảnh chụp rõ, luôn kín đáo, quyết liệt”. Pierre-Eric Pommellet, chủ nhân Naval Group, nhấn mạnh với AFP: “Các drone sẽ không bao giờ thay thế các tàu chiến có thủy thủ đoàn, nhưng sẽ giúp cho những tàu này có một năng lực rộng hơn”.  Tập đoàn chế tạo máy bay châu Âu Airbus thì chú trọng đến tính bổ sung cho các sản phẩm của họ. Bruno Even, giám đốc điều hành của Airbus Helicopters, nói với AFP: “Yếu tố mới mà chúng tôi thấy cả trên biển và trên đất liền là tính chất bổ sung giữa drone và trực thăng”.  VSR 700 của Airbus là một máy bay trực thăng “không người lái” nhỏ, có thể hoạt động từ một con tàu và có thể bay tới 8 giờ so với 2 giờ đối với trực thăng thông thường. Nó có khả năng thực hiện các nhiệm vụ mà không cần phi công, chẳng hạn như tìm kiếm tàu ​​địch, gửi tọa độ tới tàu khu trục nhỏ có khả năng bắn tên lửa. Airbus cũng đang phát triển một loại drone quan sát mang tên Eurodrone, nhằm bù đắp sự chậm trễ của châu Âu về loại drone đã được Hoa Kỳ và Israel phát triển và sẽ được đưa vào sử dụng vào cuối thập niên này, theo lời ông Jean-Brice Dumont, người đứng đầu bộ phận quốc phòng của Airbus. Đối với những drone ít phức tạp hơn và có thể nhanh chóng được sử dụng như Flexrotor hay Aliaca, tập đoàn Airbus giao việc phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc các công ty khởi nghiệp mà hãng đã mua lại. Chẳng hạn như công ty ArkeOcéan, một doanh nghiệp gia đình với khoảng ba mươi nhân viên chuyên sản xuất các drone siêu nhỏ "chỉ dài 80cm, rộng 35cm, trôi theo dòng nước, rất khó phát hiện”. Ngoài ArkeOcéan, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Pháp chuyên về drone đã có mặt rất đông đảo tại triển lãm Euronaval, như Exail, Diodon và Delair. Riêng công ty Delair từ hai năm qua bán ra thị trường một sản phẩm mang tên Seasam, một loại drone dưới nước cở nhỏ, được dùng để theo dõi tình trạng thân tàu, tàu chở hàng cũng như tàu khu trục. Drone này có 7 động cơ nên rất cơ động, chống chọi tốt với dòng nước. Trả lời RFI Pháp ngữ tại Euronaval, ông Bastien Mancini, giám đốc điều hành của Delair, cho biết công ty này đã cung cấp cho thi trường châu Phi từ lâu và nay đã mở rộng sang các thị trường khác: “Chúng tôi đã có mặt ở khu vực này từ những năm 2010, tại khoảng 15-20 quốc gia châu Phi, rồi mở rộng sang Đông Âu và Đông Nam Á, những thị trường chính của chúng tôi hiện nay. Chúng tôi xuất khẩu rất nhiều trước khi bán cho thị trường Pháp. Công ty hiện sử dụng đến 110 nhân viên và đến cuối năm sẽ có tổng cộng 140 người, với doanh số năm ngoái là 10 triệu euro và dự báo năm nay sẽ đạt khoảng 30 triệu. Tốc độ tăng trưởng này là nhờ các hợp đồng mà chúng tôi giành được gần đây, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng. Ukraina chiếm một phần đáng kể, nhưng không phải là chiếm đa số. Chúng tôi tạo được những hệ thống thích ứng với những điều kiện tác chiến rất ác liệt, với thiết bị gây nhiễu để làm rơi các drone, cho nên khách hàng chúng tôi có thể yên tâm.”  Chiến trường Ukraina dĩ nhiên là nơi mà công ty Delair có dịp thử nghiệm và cải tiến các drone do họ sản xuất để thích ứng tốt hơn với điều kiện chiến tranh ác liệt, theo lời ông Mancini: “Chúng tôi đã làm việc ở Ukraina từ năm 2016, vì thật ra chiến tranh coi như đã bắt đầu từ năm 2014 với thỏa thuận Minsk. Từ năm 2016, các drone của chúng tôi đã được sử dụng để giám sát các đường biên giới. Khi quân Nga vượt qua biên giới, phía Ukraina đã gặp chúng tôi và yêu cầu cho họ xem hệ thống drone của chúng tôi vận hành như thế nào trong điều kiện chiến tranh. Sau khi thấy hiệu quả của các hệ thống này, họ đã nhờ chính phủ Pháp giúp đỡ, mua các drone đó để tặng cho họ. Pháp đã làm theo yêu cầu đó. Chúng tôi thường xuyên, hầu như là mỗi tuần, có những phản hồi từ những người vận hành các drone và chúng tôi trao đổi với họ. Cứ khoảng 3 hoặc 4 tháng, chúng tôi cải tiến để các drone thích ứng tốt hơn với điều kiện chiến tranh. Những yếu tố đó giúp rất nhiều cho ngành công nghiệp vũ khí của Pháp nói chung.”  Để có thể phát triển các loại drone có sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo, công ty Delair đang phải tuyển thêm kỹ sư:  “Chúng tôi có những kỹ sư làm việc về các vấn đề đó. Công ty có một phòng nghiên cứu quy tụ khoảng 45 người, trong đó phân nữa chuyên tạo ra các phần mềm, một số nghiên cứu về các thuật toán và về trí tuệ nhân tạo để có thể giải quyết vấn đề điều khiển drone mà không cần hệ thống định vị GPS, xác định và phân loại những vật thể mà drone nhìn thấy để trợ giúp cho người điều khiển. Không thể có một hệ thống hoàn toàn tự vận hành. Trí tuệ nhân tạo chỉ trợ giúp, chỉ làm đơn giản hóa nhiệm vụ của người điều khiển. Đó không phải là những robot, mà đằng sau bao giờ cũng có con người. Một quân nhân Ukraina đã nói một điều rất đáng chú ý : 'Cái mà có giá trị đối với chúng tôi không phải là các drone, vì drone có thể bị mất, mà là những người được đào tạo để điều khiển drone'. Đó mới là điều mà họ cố gắng bảo vệ.” Vấn đề, theo lời ông Mancini, việc phát triển các loại drone tiên tiến, có khả năng cạnh tranh cao, đòi hỏi rất nhiều vốn đầu tư, mà cả về mặt này, Pháp và châu Âu nói chung càng bị t
Khi trí tuệ nhân tạo và trí tuệ nhân loại được đặt lên bàn cân
2024/07/10
Theo số liệu đầu năm 2024, thị trường trí tuệ nhân tạo (AI) toàn cầu đã đạt hơn 196 tỷ đô la. Một số chuyên gia trong lĩnh vực này dự đoán rằng giá trị của AI dự kiến ​​sẽ tăng gấp 13 lần trong 7 năm tới, vượt ngưỡng 1,81 nghìn tỷ đô la vào năm 2030. Có thể nói, chưa bao giờ, thế giới chứng kiến sự phát triển đáng kinh ngạc như vậy của ngành công nghệ trí tuệ nhân tạo. Đứng trước sự phát triển của AI, nhiều người vẫn tỏ ra hồ nghi về khả năng của nó trong khi số khác lại lo sợ rằng một ngày nào đó, AI sẽ thông minh hơn con người và thống trị thế giới. Sự thực là hiện nay, có nhiều lĩnh vực mà AI thể hiện ưu thế vượt trội so với con người. Vậy nếu ta đặt trí tuệ nhân tạo và trí tuệ nhân loại lên bàn cân thì cán cân sẽ nghiêng về bên nào? Hậu quả ra sao? Hay liệu có cách nào khác kết hợp con người với máy móc để tạo ra một phiên bản tối tân? Trí tuệ nhân tạo là gì?Trước khi để trí tuệ nhân tạo so găng với con người, có lẽ ta cần tìm hiểu xem rốt cuộc trí tuệ nhân tạo là gì. AI hay Artificial Intelligence là thuật ngữ trong khoa học máy tính để chỉ trí thông minh của máy móc do con người tạo ra. Cũng giống như loài người, để trở nên hiểu biết và thông thái, con người cần học hỏi, hay nói đơn giản là nạp và phân tích kiến thức. AI cũng vậy. nhờ vào sự phát triển của Big Data (hay Dữ liệu lớn), các nhà khoa học đã có thể nhập một lượng dữ liệu khổng lồ và phức tạp vào máy tính. AI sau đó sẽ phân tích những dữ liệu được nạp để học hỏi và ứng dụng để thực hiện các tác vụ được giao. Chẳng hạn muốn AI nhận biết được quả cam, người ta sẽ cung cấp hàng ngàn hình ảnh của loại quả này từ những góc chụp khác nhau, trong những giai đoạn khác nhau. Sau đó AI sẽ phân tích các hình ảnh này và phân biệt quả cam với các loại quả khác. Nếu giờ ta đưa cho AI một bức tranh vẽ hàng trăm loại quả khác nhau, nó vẫn có thể nhanh chóng xác định được quả cam. Quá trình này được gọi là Deep learning (hay Học sâu) và chỉ là một nhánh nhỏ trong ngành khoa học trí tuệ nhân tạo. Trên thực tế khả năng nhận diện của AI phức tạp và tân tiến hơn nhiều và được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực từ chẩn đoán hình ảnh y khoa để phát hiện bệnh lý đến hệ thống lái tự động có khả năng nhận diện vật thể xung quanh như biển báo, đèn tín hiệu, hay các phương tiện và vật cản khác trên đường để từ đó đưa ra các phản ứng phù hợp như dừng xe hay giảm tốc. Đâu là những lĩnh vực mà AI thể hiện ưu thế hơn con người?Y học Dù chưa thể thay thế được các bác sĩ nhưng AI đã chứng tỏ là một trợ lý xuất sắc trong việc chẩn đoán các hình ảnh y khoa như X-quang, MRI hay CT để phát hiện những bất thường. Vào tháng 04/2018, FDA, cơ quan quản lý dược phẩm Hoa Kỳ lần đầu tiên cho phép lưu hành thiết bị sử dụng trí tuệ nhân tạo để tự đưa ra chẩn đoán về bệnh tiểu đường qua nghiên cứu hình ảnh võng mạc. Theo ông Olivier Bousquet, giám đốc trung tâm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo của Google ở châu Âu, AI thể hiện mình là một công cụ “đáng tin cậy như một bác sĩ giàu kinh nghiệm, nếu không muốn nói là thậm chí còn đáng tin cậy hơn cả bác sĩ, vì chúng tôi có thể đào tạo AI bằng lượng dữ liệu lớn hơn những gì mà một bác sĩ có thể thấy trong đời họ.” Trả lời RFI Pháp ngữ, ông Jean-Emmanuel Bibault, bác sĩ tại Bệnh viện Georges Pompidou đồng thời là nhà nghiên cứu về ứng dụng AI tại Viện Nghiên cứu Y học và Sức khoẻ Quốc gia Pháp (INSERM) giải thích thêm : “Chúng ta có thể tận dụng AI vào việc nhận diện các dấu hiệu bệnh như là phân tích hình ảnh y khoa. AI có thể làm những tác vụ này nhanh hơn nhiều so với con người. Các bác sĩ có thể tiết kiệm được khoảng 50% thời gian. Trong thử nghiệm mới đây tại một bệnh viện ở Thuỵ Điển, người ta đã chọn ngẫu nhiên 80.000 bệnh nhân và sau đó để hai đội : một đội gồm 2 bác sĩ và một đội gồm 1 bác sĩ và 1 AI cùng đọc hình ảnh y khoa. Và họ thu được kết quả là nhóm có 1 bác sĩ và 1 AI chẩn đoán nhanh hơn hẳn so với nhóm 2 bác sĩ. Ngoài ra cũng có những lĩnh vực mà AI không chỉ làm nhanh mà còn làm tốt hơn con người, ví dụ như việc dự đoán về nguy cơ ung thư hay khả năng hồi phục của bệnh nhân để từ đó đưa ra phác đồ điều trị riêng biệt cho mỗi người.” Dịch thuật Không ít người hiện nay tự hỏi liệu việc học ngoại ngữ có còn cần thiết hay không khi mà người ta dường như có thể dịch tất cả mọi ngôn ngữ với Google Dịch. Trung bình một người bình thường có thể sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau. Cũng có một số người có thể sử dụng tới vài chục ngôn ngữ như Ioannis Ikonomon, phiên dịch viên của Uỷ ban Châu Âu, có thể nói được 47 thứ tiếng; hay Alexandre Arguelles, chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ người Mỹ với khả năng sử dụng 50 thứ tiếng. Tài năng là vậy, nhưng những thiên tài này vẫn phải chào thua Google Dịch khi mà công cụ dịch thuật này có thể dịch hơn 100 ngôn ngữ khác nhau trong vỏn vẹn vài giây. Khi mới ra mắt Google chỉ có thể dịch từ dạng văn bản sang văn bản. Tuy nhiên sau đó vào năm 2014, Google đã mua lại Word Lens, phần mềm sử dụng camera tích hợp trên điện thoại di động để quét và dịch văn bản trên màn hình của thiết bị, nhờ vậy Google sau đó đã có thể dịch cả bằng hình ảnh. Ngoài ra hệ thống này còn có thể tự động nhận dạng ngoại ngữ và giọng nói, sau đó dịch và nói lại như một phiên dịch thực thụ. Đứng sau thành công của Google Dịch chính là trí thông minh nhân tạo. AI đã học từ lượng lớn dữ liệu ngôn ngữ trong sách vở, báo chí, trang web. Đồng thời, cũng giống như loài người, AI học từ chính những sai lầm của mình. AI sẽ dựa vào phản hồi hay đề xuất của người dùng về những phần nó dịch chưa chuẩn để cải thiện dần chất lượng bản dịch. Con người phải chăng đành chịu thua máy móc?Trên đây mới chỉ là hai trong số rất nhiều khả năng mà AI có thể làm và thậm chí là làm tốt hơn con người. Vậy phải chăng ta đã bị AI bỏ lại phía sau? Ít nhất là đến hiện tại, AI chỉ có thể thực hiện các nhiệm vụ được chỉ định. Đây cũng là lý do mà ông Raja Chatila, giáo sư về lĩnh vực Robot và AI tại đại học Sorbonne, Paris, khách mời trong chương trình phát thanh của RFI Pháp ngữ, nhận định rằng trí thông minh nhân tạo rất “kém thông minh” : “AI thực ra rất ngu ngốc, nó không hiểu nó đang làm gì và chỉ có thể làm việc một cách hệ thống và máy móc. Nó sẽ lặp đi lặp lại chuỗi hành động, dù cho những hành động này không phải lúc nào cũng đúng, cũng chính xác.” Cùng quan điểm đó, bà Anne Alombert, giảng viên tại đại học Paris 8, thành viên Hội đồng kỹ thuật số quốc gia, bổ sung thêm : “Trong khi mà máy móc học để thực hiện theo những gì mà nó được yêu cầu làm và tiến tới một mục tiêu đã được hoạch định sẵn thì một đứa trẻ khi học hỏi là học để sáng tạo ra cái mới, khám phá thế giới, đưa ra giải pháp cho những tình huống mà nó chưa bao giờ gặp.” Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt lớn giữa trí thông minh con người và máy móc : sự sáng tạo, tưởng tượng, phát minh. Những đặc điểm này cho đến hiện tại vẫn là khả năng đặc biệt của loài người. Máy móc dù có thể tạo ra các tác phẩm nghệ thuật như một giai điệu hay một bức tranh nhưng không thể đánh đồng điều đó với khả năng sáng tạo của con người vì suy cho cùng AI chỉ có thể dựa trên các thuật toán và dữ liệu đã được cung cấp để tạo ra các tác phẩm nhưng lại không chứa đựng yếu tố cảm xúc, tính cá nhân, trải nghiệm hay tư duy đột phá của con người. Minh chứng cho luận điểm này, bà Anne Alombert đưa ra ví dụ : “Chẳng hạn Chat GPT có thể viết một câu chuyện thần thoại nhờ các tính toán dữ liệu nhưng nếu chúng ta tự viết, ta sẽ không tính toán dựa trên từ ngữ, xem có thể viết từ nào sau từ nào, các từ nào sẽ đi cùng với nhau, mà ta sẽ tự sáng tạo nhờ vào những gì mình đã trải qua, những gì mình tưởng tượng và theo những gì mình muốn vi
Khi thế giới hứng chịu El Niño - La Niña trong bối cảnh biến đổi khí hậu
2023/11/08
Sau La Niña kéo dài 3 năm, từ năm 2020 đến năm 2022, đến lượt hiện tượng El Niño diễn ra trong năm 2023. Năm nay, El Niño đến trong bối cảnh thế giới liên tục ghi nhận các hiện tượng thời tiết cực đoan. Bão tố, lũ lụt, hạn hán diễn ra bất thường ở nhiều nơi trên thế giới, với những kỷ lục về mức tăng nhiệt độ, nắng nóng, cháy rừng, băng tan chảy … do biến đổi khí hậu. Diễn ra ở Thái Bình Dương nhưng El Niño và La Niña không chỉ có những tác động về khí hậu, hệ sinh thái, đánh bắt cá … tại vùng biển đó, mà còn có những ảnh hưởng sâu rộng đến các khu vực xa hơn, kể cả về sản xuất nông nghiệp, sức khỏe con người … Trên thực tế, trải dài từ miền phía nam Bắc Cực đến miền bắc Nam Cực, trải rộng từ phía châu Á, châu Úc sang đến phía châu Mỹ, Thái Bình Dương là đại đương sâu và rộng nhất hành tinh, chiếm khoảng 1/3 diện tích địa cầu. Trái với biến đổi khí hậu chủ yếu là do các hoạt động của con người gây ra, El Niño và La Niña là các hiện tượng thời tiết tự nhiên đã tồn tại từ rất lâu và diễn ra đan xen nhau theo chu kỳ. Để hiểu thêm về hai hiện tượng El Niño và La Niña, và những tác động qua lại với tình trạng biến đổi khí hậu, RFI tiếng Việt ngày 16/10/2023 đã phỏng vấn ông Jérôme Vialard, giám đốc nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp IRD, làm việc tại Cơ quan nghiên cứu về Đại dương và Khí hậu. RFI : El Niño và La Niña có gì giống và khác nhau ?  Jérôme Vialard : Điểm chung là hiện tượng El Niño và La Niña có thể xem là giống như hai mặt của một đồng xu. El Niño thường kéo dài một năm, khi vùng nhiệt đới Thái Bình Dương nóng lên bất thường. Còn La Niña thì gần như ngược lại. Đó là một năm mà vùng nhiệt đới Thái Bình Dương lạnh bất thường. Những thay đổi về nhiệt độ bề mặt vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương sẽ gây ra hậu quả đối với khí hậu khu vực trên quy mô toàn bộ Thái Bình Dương cũng như ở các vùng tương đối xa, làm thay đổi hoàn lưu khí quyển. Như vậy, nhìn qua thì El Niño và La Niña là hai hiện tượng khá đối xứng, có thể xem La Nina là hiện tượng trái ngược với El Niño, thế nhưng khi xem xét kỹ lưỡng hơn, thì có thể thấy hai hiện tượng này vẫn có những điểm khác nhau nhỏ, thậm chí những nét khác biệt đặc trưng. El Niño có thể mạnh hơn nhiều so với La Niña và đôi khi còn có hiện tượng mà chúng ta gọi là « siêu El Niño ». Đó là trường hợp năm 1982-1983 hoặc năm 1997-1998, gần đây hơn là năm 2015-2016. Chúng tôi nghiên cứu rất sâu những siêu El Niño này, bởi vì siêu El Niño gây ra hậu quả đối với khí hậu, xã hội, hệ sinh thái mạnh hơn nhiều so với các El Niño khác. Đó là khác biệt chính, ngoài ra còn có một sự khác nhau về vị trí. El Niño ngả về phía bờ biển Nam Mỹ, trong khi La Niña ngả về phía bờ biển Úc nhiều hơn. RFI : Dường như có nhiều nghiên cứu, kiến ​​thức chuyên sâu về hiện tượng El Niño hơn là về La Niña ? Jérôme Vialard : Các hiện tượng El Niño và La Niña thường được mô tả như một chu kỳ. Trên thực tế, tôi nghĩ rằng trong vòng 15-20 năm qua đã có các nghiên cứu về nguyên nhân chung dẫn đến các hiện tượng El Niño và La Niña. Trái lại, các nghiên cứu về sự bất đối xứng, tức là những khác biệt nhỏ giữa El Niño và La Niña thì xuất hiện gần đây hơn. Có thể nói là nghiên cứu này về cơ bản mới chỉ phát triển từ 10 năm trở lại đây. Đặc biệt, chúng tôi tìm hiểu điều gì tạo ra siêu El Niño và ngược lại tại sao lại không có "siêu La Niña". Chúng tôi cũng tìm hiểu về sự khác biệt về thời lượng của hai hiện tượng này. Rất hiếm khi El Niño kéo dài hơn một năm, trong khi chuyện La Niña kéo dài trong hơn một năm, sang năm thứ 2, thậm chí là năm thứ 3, không phải là hiếm. RFI : Việc dự đoán các hiện tượng El Niño và La Niña liệu có phức tạp ? Jérôme Vialard : Có thể dự đoán El Niño và La Niña, nhưng cũng có thể xảy ra những bất ngờ. Tôi xin nêu một ví dụ không hay lắm đã xảy ra hồi năm 2014. Khi đó, chúng tôi đã có đủ mọi dấu hiệu cho thấy El Niño sẽ xảy ra. Thường thì khi thấy nhiệt độ sâu dưới Thái Bình Dương tăng cao bất thường, chúng tôi nghĩ rằng El Niño sẽ xảy ra. Đó là trường hợp của năm 2014, và khi đó truyền thông đã nhiệt tình quá mức, nói rằng đến cuối năm sẽ có siêu El Niño. Nhưng cuối cùng thì chẳng có siêu El Niño nào xảy ra vào cuối năm 2014. Thế nhưng, đến năm 2015 thì nó lại xảy ra. Thế nên, cũng cần phải thận trọng một chút khi dự báo. Thế nhưng, dẫu sao thì ngày nay, với các mô hình hoàn lưu khí quyển nói chung, trong đó có các mô hình liên quan đến đại dương và khí quyển, khi kết hợp các mô hình và phối hợp với những quan sát từ các vùng đại dương nhiệt đới, thì chúng tôi cũng đã có thể đưa ra những dự báo tương đối đáng tin cậy về El Niño và La Niña từ trước khi chúng xảy ra một năm. Hiện tượng El Niño xảy ra hiện nay đã được dự báo ngay từ đầu năm, thế nhưng chúng tôi khá thận trọng, không vội thông tin cho báo chí. Điểm cuối cùng là có những nghiên cứu cho rằng El Niño và La Niña không thể được dự báo theo cùng một cách. Chúng tôi tin rằng La Niña sẽ dễ dự đoán hơn là El Niño. Đây cũng là một điểm khác nhau giữa hai hiện tượng này. Thế nhưng, dẫu sao cũng cần nghiên cứu thêm để xác nhận điều này. RFI : Đâu là những vùng chịu nhiều tác động nhất từ El Niño và La Niña ? Jérôme Vialard : Khu vực bị tác động nhiều nhất là vùng xung quanh Thái Bình Dương. Như tôi nói ban đầu, các hiện tượng khí hậu đã ảnh hưởng đến vùng nhiệt đới Thái Bình Dương. Những tác động điển hình nhất trong thời kỳ xảy ra El Niño là nạn hạn hán ở phía Úc và Indonesia, mưa lớn hơn ở phía Nam Mỹ, chẳng hạn như ở Peru. Đó là những hậu quả đối với khí hậu. Ngoài ra xin nhắc lại là El Niño là một hiện tượng hải dương và khí quyển. Vì thế, cũng có những hậu quả khá nặng nề đối với các hệ sinh thái biển. Chẳng hạn, vùng đông Thái Bình Dương nhìn chung là nơi khá nhiều cá nên có khá nhiều loài chim biển. Và trong thời kỳ El Niño, một phần hệ sinh thái tại vùng này sụp đổ, có ít cá hơn, các loài chim biển chết đi, kéo theo đó là hoạt động đánh bắt cá bị ảnh hưởng. Đó là vùng ngay sát bờ Thái Bình Dương. Việt Nam, nằm ở Đông Nam Á, cách không xa vùng này nên nhìn chung cũng chịu ảnh hưởng của El Niño. Trong thời kỳ xảy ra El Niño thì chiều hướng chung là toàn bộ khu vực Đông Nam Á nóng lên bất thường. RFI : Các hiện tượng tự nhiên El Niño và La Niña có thể làm trầm trọng thêm tình trạng biến đổi khí hậu? Jérôme Vialard : Nếu nhìn vào nhiệt độ trên quy mô hành tinh trong vòng 100 năm qua, chúng ta thấy nhiệt độ tăng rõ rệt trong vài thập kỷ qua có liên quan đến sự phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, tức là liên quan đến biến đổi khí hậu. Và nếu chúng ta nhìn vào chi tiết, ngoài xu hướng tăng chầm chậm, chúng ta còn thấy có những năm thì nóng hơn, có những năm lại lạnh hơn, nóng hơn rồi lại lạnh hơn, vân vân. Đúng là nhìn chung thì El Niño có liên quan đến sự nóng lên toàn cầu. Trên thực tế, tín hiệu El Niño hay La Niña chồng lên tín hiệu về biến đổi khí hậu, do đó chúng ta có thể thấy nó hơi giống như sự điều hòa không khí trên quy mô hành tinh : thời kỳ El Niño là hệ thống sưởi được bật. Và thời kỳ La Niña là máy điều hòa mát được bật. Đây là hiệu ứng nhỏ hơn so với biến đổi khí hậu. Trái đất bị hâm nóng thì có liên quan đến biến đổi khí hậu, về mức nhiệt thì là hơn một độ một chút. Trong khi đó, mức tăng nhiệt độ từ năm này sang năm khác liên quan đến El Niño thì ở mức vài phần mười độ, tức là vẫn thấp hơn (so với do biến đổi khí hậu). Một điểm khác biệt nữa là dấu hiệu liên quan đến biến đổi khí hậu thì kéo dài, đã xảy ra trong những thập kỷ qua và sẽ vẫn tiếp diễn. Trong khi đó, hiện tượng El Niño có tác động trong thời gian ngắn hơn. Chẳng hạn, như tôi vừa nói, trong những năm qua, chúng ta đã có một thời kỳ La Niña rất dài, trong vòng 3 năm liền. Nói một cách hình tượng thì chúng ta
Nấm-rễ cộng sinh: ‘‘Bí quyết 400 triệu năm tuổi’’ có giúp nhân loại thoát đại họa khí hậu?
2023/09/29
Đại thảm họa chồng chất, do Trái đất bị hâm nóng, đang cận kề. Nhiệt độ toàn cầu sắp ‘‘tăng quá 1,5°C’’ so với thời tiền công nghiệp. Sự phụ thuộc nặng nề vào năng lượng hoá thạch ‘‘đã mở cánh cửa địa ngục với nhân loại’’, như cảnh báo của Liên Hiệp Quốc. Viễn cảnh đen tối ngày một khó tránh khỏi. Tuy nhiên, cái khó làm ló cái khôn. Ít năm gần đây ‘‘nấm rễ’’ đang được hy vọng như một giải pháp chống biến đổi khí hậu hàng đầu, có thể giúp nhân loại thoát hiểm. “Nấm rễ” là gì ? Vì sao nhiều hy vọng được đặt vào “nấm rễ” ? Tạp chí của RFI tổng hợp thông tin về chủ đề này. Khách mời của Tạp chí hôm nay là giáo sư Marc-André Selosse, Viện bảo tàng Quốc gia về Lịch sử Tự nhiên (MNHN), Paris, một chuyên gia trong lĩnh vực nấm rễ cộng sinh xứ ôn đới. Ông cũng là tác giả cuốn “L’Origine du monde : une histoire naturelle du sol à l’intention de ceux qui le piétinent” (tạm dịch là “Nguồn gốc của thế giới : Một lịch sử tự nhiên của đất, dành cho những ai bước đi trên đó mà không hay’’). “Tấc đấc” còn giá trị hơn cả “tấc vàng”. Bởi đất là ‘‘nguồn gốc” của sự sống, đất “nuôi dưỡng” sự sống, “bảo vệ” sự sống. “Đất” có ý nghĩa sống còn với sự sống như vậy, nhưng bản thân cuộc sống của đất, cuộc sống trong lòng đất lại là điều còn rất ít được biết đến, và rất ít được chú ý bảo vệ. “Nấm rễ cộng sinh” - một phần căn bản làm nên sự sống của rừng – cũng chính là một giải pháp chống biến đổi khí hậu hàng đầu, theo ghi nhận của giáo sư Marc-André Selosse, chuyên gia về nấm truffle (hay “nấm cục”), một trong các loài nấm rễ cộng sinh nổi tiếng ở Pháp, và ở châu Âu. Giải pháp căn bản cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu nằm ngay dưới chân ta, ngay trong lòng đất. *** Thiếu “nấm rễ”, cây còi cọcGiới khoa học đã phát hiện ra vai trò của nấm rễ như thế nào ? Trả lời RFI Việt ngữ, giáo sư Marc-André Selosse tóm lược: ‘‘Phát hiện về chuyện này diễn ra vào năm 1885. Vào thời điểm đó, Albert Bernhard Frank, một nhà thực vật học người Phổ (nước Đức hiện nay), được bộ trưởng Nông Nghiệp nước này đặt câu hỏi : vì sao nấm truffle luôn mọc dưới gốc cây ? Albert Bernhard Frank đã phát hiện ra rằng bộ phận tồn tại ổn định của nấm truffle nằm sâu trong lòng đất, với vô vàn các sợi có kích thước hết sức nhỏ bé. Cây nấm, bộ phận nổi trên mặt đất, trên thực tế chỉ là ‘‘cơ quan sinh sản’’, cho phép phát tán các bào tử nấm. Các bộ phận siêu nhỏ tồn tại ổn định nằm trong lòng đất nối liền với các rễ cây, nhà khoa học người Phổ gọi đây là hiện tượng ‘‘nấm rễ cộng sinh’’ (mycorhize). Không chỉ có nấm truffle, mà hàng nghìn loài nấm cũng tồn tại theo một cơ chế tương tự. Khi phát hiện nhiều “nấm rễ cộng sinh” ở cây sồi, Albert Bernhard Frank đặt câu hỏi : Phải chăng các loài nấm như vậy giúp cây phát triển ? Năm 1892, ông viết một bài báo, với nhận định : nếu cắt bỏ nấm rễ của cây thông, loại cây này sẽ phát triển không tốt… (…) Khi người phương Tây di thực các loại thông đến những vùng đất ở Nam Mỹ và châu Phi, thoạt tiên, thông không thể phát triển được nếu không có các loại nấm rễ. Đối với các loại cây thông phát triển tốt ở Nam Mỹ, đến mùa, người ta thấy trên rễ chúng cùng các loại nấm như ở châu Âu’’. Cây cung cấp ‘‘đường’’ cho nấm, nấm ‘‘đi chợ’’ giúp câyNấm rễ cộng sinh sống trên các mô rễ của cây chủ, sống nhờ vào cây chủ, nhưng tham gia vào thúc đẩy sự sống của cây chủ, trái ngược với các loại nấm hoại sinh, nấm phân giải chất hữu cơ sống nhờ vào các thực thể hữu cơ chết, phân huỷ, hay các loại nấm ký sinh xâm nhập vào cơ thể vật chủ, gây bệnh và thậm chí tiêu diệt vật chủ. Nấm rễ cộng sinh cụ thể như thế nào với cây? Giáo sư Marc-André Selosse giải thích : ‘‘Trong thế kỷ 20, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy nấm rễ nhận được từ cây chất đường, chắc chắn là các loại vitamin, và trong nhiều trường hợp cả các axit béo, tức các sản phẩm có được nhờ ở tiến trình quang hợp của cây. Ngược lại, nấm làm việc công việc ‘‘đi chợ’’ trong lòng đất, hay nói cách khác lấy từ đất các chất azot, photphat, potasium, các chất vi lượng, nước… để tự nuôi nó, nhưng cũng để nuôi cây (…) Trong lòng đất có rất nhiều chất, nhưng tồn tại rất tản mát. Nấm rễ nhỏ li ti làm công việc hút lấy các nguồn dưỡng chất, với hiệu suất cao hơn nhiều so với các rễ cây to. Nấm rễ cũng làm cả công việc bảo vệ rễ cây. Khi quan sát rễ cây ở các vùng ôn đới, cả Nam bán cầu cũng như Bắc bán cầu, và một số nơi ở xứ nhiệt đới, nấm rễ làm nên một thứ vỏ bọc bao xung quanh rễ cây. Có một số loại thông hay bạch đàn không thể mọc được trên đất đá vôi chẳng hạn, nếu không có nấm cộng sinh bao bọc rễ. Nấm rễ giúp cây trong việc tiếp nhận calcium, điều hoà lượng nước tiếp nhận, và cả chống lại các vi sinh vật có hại tấn công rễ. Và có một điều tinh vi, quan trọng khác mới được phát hiện gần đây, đó là nấm rễ giúp cả việc tăng cường hệ miễn dịch của cây, đối với toàn bộ cây, không chỉ với rễ cây. Tóm lại, nấm rễ bảo vệ cây, và và hoạt động tương trợ này diễn ra có tổ chức, bởi khi bảo vệ cây, nấm cũng bảo vệ chính kho thực phẩm của mình’’. Không có “nấm” thì không có rừngNấm rễ cộng sinh mang lại sự sống cho đại đa số các hệ sinh thái trên mặt đất là điều mà giới khoa học, và một số định chế quốc tế ghi nhận từ khá lâu nay. Hội Đồng Toàn Châu Âu (Council of Europe), trong một văn bản năm 2001, liên quan đến nấm, làm rõ Phụ lục 1 Công ước Bern (tức Công ước Bảo tồn Thiên nhiên hoang dã ở châu Âu, có hiệu lực từ năm 1982), nhấn mạnh: “Các loài nấm rễ tham gia vào nhiều quan hệ cộng sinh : khoảng 85% cây thân gỗ có cơ chế cộng sinh nấm rễ, và đây là điều quan trọng nhất trong các chức năng sinh thái của chúng – không có nấm rễ thì sẽ không có rừng, và không có các hệ sinh thái tự nhiên có tổ chức khác’’. Châu Âu có hai tổ chức toàn châu lục bảo vệ nấm rễ : Hội đồng châu Âu Bảo tồn Nấm (The European Council for the Conservation of Fungi - ECCF), thành lập từ năm 1985, và Hiệp hội chuyên về Nấm rễ châu Âu (European Mycological Association - EMA), thành lập năm 2003. Không kể các hiệp hội quốc gia nhiều nước tồn tại từ lâu đời. Hiệp hội nấm rễ Pháp (Société mycologique de France) xuất hiện từ năm 1884, cùng thời với phát hiện của nhà nghiên cứu người Phổ. Từ rừng bị hâm nóng...Tuy nhiên, tại châu Âu và với quốc tế nói chung, trong một thời gian dài nấm rễ về cơ bản vẫn chỉ được nhìn nhận về phương diện đa dạng sinh học, không trực tiếp liên quan đến chuyện biến đổi khí hậu. Cuộc chiến bảo vệ đa dạng sinh học diễn ra gần như độc lập với cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sinh giới. Đa dạng sinh học ngày càng trở thành nạn nhân của việc trái đất bị hâm nóng. Rừng bị biến đổi khí hậu làm cho suy yếu đến mức mà nhiều nơi rừng trở thành nguồn phát thải khí CO2, thay vì là nơi hấp thụ. Vai trò của nấm rễ với biến đổi khí hậu ngày càng trở thành chuyện được quan tâm hàng đầu trong các nghiên cứu về rừng. Nấm rễ được hy vọng như một cứu tinh (1). Nhìn chung ‘‘nấm rễ’’ có vai trò như thế nào trong việc hấp thu khí thải CO2 ? Về vấn đề này, giáo sư Selosse lấy trường hợp rừng ở khu vực ôn đới làm ví dụ giải thích: ‘‘Nấm rễ có hai vai trò trong việc hấp thu khí thải CO2. Vai trò gián tiếp và vai trò trực tiếp. Vai trò gián tiếp khi nấm rễ giúp cây phát triển. Khi cây hút khí thải CO2 chính là nhờ sự trợ giúp của nấm rễ. Vai trò thứ hai là trực tiếp hấp thụ cac-bon. Các nấm rễ ở xứ ôn đới rất phàm ăn cac-bon. Nấm rễ tiếp thu đến 40% lượng cac-bon được cây hấp thu trong quá trình quang hợp. Đây là một con số cực lớn. Đặc điểm thứ hai là nấm
Nước thải : Mỏ vàng thông tin ?
2023/08/02
Nước thải là một nguồn gây ô nhiễm quan trọng do việc xử lý các chất thải thực phẩm và việc trừ khử các loại hóa chất độc hại rất khó. Nhưng nước đã qua sử dụng lại chứa đựng nhiều thông tin « hữu ích », cho phép tìm thấy tất cả những gì tham gia vào đời sống thường nhật của nhân loại, kể cả thói quen sử dụng dược phẩm hay các chất gây nghiện tại nhiều thành phố lớn. Dưới lòng đất thành phố Paris là một hệ thống ống dẫn thoát nước rộng lớn, có tổng chiều dài là 2.600 km, tức khoảng cách giữa Paris và thành phố Saint-Petersburg của Nga. Ông Olivier Rousselot, giám đốc phòng nghiên cứu và môi trường của Tổ hợp liên tỉnh xử lý nước thải vùng đô thị Paris – Syndicat Interdépartemental pour l’assainissement de l’agglomération parisienne – SSIAP, trước hết cho biết, tổ hợp này mỗi ngày xử lý đến 2,4 tỷ lít nước đã qua sử dụng, tức tương đương với khoảng 1.000 bể bơi Olympic. « Hàng ngày và 365 ngày mỗi năm, chúng tôi phải thu thập các mẫu nước nguyên ở đầu vào trạm xử lý và nước đã qua xử lý ở đầu ra. Quy trình này được thực hiện suốt cả năm. Riêng các mẫu nước lấy ngày thứ Bảy và Chủ Nhật được để tủ lạnh để có thể xử lý vào ngày thứ Hai. Những mẫu nước này sau đó được mang đến các phòng thí nghiệm để làm phân tích theo như luật định. » Những mẫu nước được lấy ban ngày còn nhằm một mục đích khác, chúng sẽ được gởi đến Berlin để nghiên cứu. Mục tiêu ban đầu là tiến hành khảo sát đối chiếu liên quan đến hơn 80 loại hóa chất chứa trong nước thải giữa Paris và Berlin. Frederik Zietzschmann, phụ trách nhà máy xử lý nước thải Wassmanndorf ở Berlin, trong một chương trình của kênh truyền hình ARTE giải thích : « Chúng tôi hy vọng có được những kết quả tương tự tại hai thủ đô. Sau đó, chúng tôi thải toàn bộ những nước đã qua sử dụng qua bồn xả. Mặt khác, các đầu vào công nghiệp có thể là không giống nhau. Vì vậy, điều thú vị là biết được những gì mọi người tiêu thụ qua phân tích các chất ô nhiễm vi mô ví dụ như dư lượng thuốc, hóa chất công nghiệp hay chất gây nghiện. » Nghiên cứu này nhận được sự hỗ trợ của một trong những viện phân tích nước thải lớn nhất thế giới : Institute For Analytical Research (IFAR), trường đại học Fresenius, ở Idstein, Đức, dưới sự điều hành của Thomas P Knepper, lãnh đạo phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu về vi vết trong các mẫu vật. Dịch bệnh Covid-19 và nước thải ParisTrận đại dịch Covid-19 là một minh chứng gần đây nhất cho sự phong phú thông tin chứa trong nước thải. Mùa xuân năm 2020, gần như toàn châu Âu bị phong tỏa, các cửa hiệu, hàng quán và sở làm đều bị đóng cửa, còn người dân thì bị hạn chế lưu thông, nhưng bệnh viện vẫn bị quá tải. Người ta không chắc về số người thực sự nhiễm virus. Làm thế nào vén màn vùng tối này ? Nhà virus học người Pháp Sebastien Wurtzer, làm việc cho công ty quản lý nước Paris nằm trong số những chuyên gia được huy động ngay từ đầu cuộc khủng hoảng dịch tễ. Công việc chính của ông là tìm kiếm những tác nhân gây bệnh trong nước sạch, có thể uống và nước bẩn. Theo nhà khoa học này, « việc theo dõi sự hiện diện của những mầm bệnh không phải là điều gì mới mẻ cả. Nhưng điểm mới ở đây là có thể định lượng chúng trong nước đã qua sử dụng và liên kết được với tình trạng dịch tễ của dân cư. » Các công trình nghiên cứu công bố năm 2015 cho phép ông thiết lập được mối tương quan, theo đó, lượng virus đường ruột – được tìm thấy trong phân người bệnh dưới dạng các phân tử thải ra trong đường ống thoát nước, rồi trong các trạm xử lý nước thải – càng nhiều, thì số người bị nhiễm bệnh càng cao. Phát hiện này đã được ông áp dụng trong việc khảo sát các mẫu nước được lấy tại 6 trạm xử lý nước thải ở vùng thành phố Paris và 11 trạm khác ở vùng Ile-de-France (Paris và các vùng phụ cận). Những dữ liệu có được không những cho thấy tình trạng lây nhiễm, mà còn giúp các nhà khoa học có thể suy ra tiến triển của số ca nhiễm trước khi các bệnh viện chuyển giao số liệu chính thức cho các nhà chức trách y tế. Nước thải đã cho thấy trong một chừng mực nào đó, là một chỉ báo sớm cho việc tầm soát coronavirus. Trên đài ARTE, Sebastien Wurtzer giải thích : « Cuối tháng 6/2020, chúng tôi đã có thể nhận thấy rất sớm, thậm chí trước cả khi có các chỉ số của bệnh viện, lượng virus tăng trở lại trong nước thải, đặc biệt là tại vùng Ile-de-France, khu vực chẳng may phải thông báo đợt dịch thứ hai như chúng ta đã biết. » Nước thải : Chỉ báo thói quen ăn uống, tiêu thụ dược phẩmTrở lại với nghiên cứu đối chiếu mẫu nước giữa Paris và Berlin, kết quả phân tích các mẫu nước đầu tiên cho thấy có sự hiện diện của nhiều hóa chất thông thường được biết đến như carbon, phosphore và azote, được thải ra theo đường nước tiểu và ruột, giữa Paris và Berlin là giống nhau. Nhưng điều thú vị và gây bất ngờ là hàm lượng những chất này được tìm thấy ở Berlin cao gấp hai lần so với Paris. Vì sao nước thải ở Paris lại chứa ít các loại chất dinh dưỡng hơn so với Berlin ? Liệu người ta có thể giải thích bằng thói quen tiêu thụ nước làm hòa tan nồng độ dưỡng chất trong nước thải ? Các khảo sát cho thấy, một cư dân thành Berlin tiêu thụ khoảng 100dl nước/ngày (10 lít) cho sinh hoạt thường nhật từ nấu ăn, tắm rửa, vệ sinh so với mức 120 đến 150 dl cho một người thành Paris. Về điểm này, Frederik Zietzschmann cho rằng, « tại Đức, người ta đã được giáo dục từ sớm phải tiết kiệm nước. Có nhiều khả năng là họ không tắm lâu, hay như họ có máy giặt hiệu quả hơn và ít hao nước hơn. Còn người Pháp rất có thể là họ ít nghiêm túc hơn trong việc tiêu thụ nước. » Nghiên cứu đối chiếu này còn cho thấy thói quen sử dụng dược phẩm của cư dân giữa Paris và Berlin. Chẳng hạn, các nhà khoa học phát hiện nồng độ chất paracetamol trong nước thải ở Paris cao gấp 3 lần so với Berlin. Sự khác biệt này là ấn tượng này được Thomas P Knepper đưa ra nhận định : « Đây là một giả thuyết nhưng điều đó có thể được giải thích do việc loại thuốc này chỉ được cấp theo đơn tại Đức. Trong khi đó, ở Pháp chúng dược bán tự do. Chúng tôi cần phải đào sâu hơn khía cạnh thói quen sử dụng thuốc giảm đau. » … Và là một công cụ điều tra tội phạm ?Không chỉ cho thấy thói quen sinh hoạt, dùng dược phẩm, nghiên cứu nước thải còn cho thấy mức độ sử dụng các chất gây nghiện và phát hiện các tổ chức tội phạm. Qua các phân tích mẫu nước, các nhà khoa học Đức đã lập được một danh sách dài sự hiện diện các loại ma túy tổng hợp. Nhà nghiên cứu Niklas Koke, đồng nghiên cứu với Thomas P Knepper, cho biết thêm : « Đối với loại thuốc phiện, không có sự khác biệt nào giữa Paris và Berlin. Ngược lại, nồng độ chất amphetamine tại Berlin lại cao hơn rất nhiều so với Paris. Những gì liên quan đến methamphetamine và MDMA, Berlin có nồng độ thấp hơn ». Điều đó có nghĩa là chất gây nghiện lưu hành ở Paris và Berlin là giống nhau. Tuy nhiên, thuốc lắc (ecstasy) và hồng phiến (speed, amphetamin) lại hiện diện rộng rãi ở Berlin. Ghi nhận này được củng cố bởi một nghiên cứu đối chiếu về dư lượng chất thải lắng đọng trong nước qua sử dụng tại nhiều thành phố khác nhau và làng xã châu Âu. Theo đó, Berlin vượt xa Paris trong việc tiêu thụ thuốc lắc, xếp hạng tư chỉ sau Zurich, Utrecht và Amsterdam theo một nghiên cứu rộng lớn của Liên Hiệp Châu Âu. Những khảo sát mẫu nước còn cho phép các nhà nghiên cứu phát hiện một loại thuốc phiện mới : Lidocain, thường được sử dụng như là một dạng thuốc tê ở nha sĩ, ngày càng được dùng phổ biến trong ngành giải trí, nhất là trong giới nhạc rap ở Đức. Điều này giải thích vì sao nồng độ chất lidocain thải ra ở Berlin cao gấp 50 lần so với với Paris. Nhưng theo ARTE, việc phân tích các mẫu nước thải phần nào còn cho phép cảnh sát hình sự liên bang Đức xác định những xưởng bào chế thuốc phiện
Văn minh công nghiệp sụp đổ trong 15 năm tới ?
2020/04/22
Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, những hậu quả kinh hoàng và khó lường do Trái đất bị hâm nóng vì khí thải gây hiệu ứng nhà kính, tốc độ diệt vong nhanh chóng của sinh giới, cũng như một loạt suy thoái môi trường ghê gớm khác là những thực tế khốc liệt ngày càng ít người không công nhận. Trái đất dường như sắp quá tải (Tạp chí phát lần đầu ngày 08/09/2016). Nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đặt câu hỏi : Đâu là tương lai của nền văn minh công nghiệp, mô hình kinh tế trụ cột của nhân loại từ hơn hai thế kỷ nay ? Về chủ đề này, chương trình tạp chí « C’est pas du vent » của RFI giới thiệu cuốn sách mới « Comment tout peut s’effondrer ? » (Mọi thứ có thể sụp đổ như thế nào ?) của hai nhà khoa học Pháp : Kỹ sư nông học Pablo Servigne, chuyên gia về nông nghiệp sinh thái và chuyển đổi hệ thống và nhà tư vấn kinh tế - sinh thái Raphael Stevens. Cuốn « Comment tout peut s’effondrer ? », dày 206 trang, được viết với một văn phong kể chuyện hóm hỉnh, đầy hình ảnh, nhẹ nhõm và khá dễ hiểu, với các đúc kết được chắt lọc từ rất nhiều nghiên cứu cơ bản về lĩnh vực hệ trọng này, có thể trở thành cuốn sách gối đầu giường đối với nhiều bạn đọc Pháp ngữ. Ngay cả khi không đồng quan điểm với các tác giả, đọc sách này ắt hẳn cũng mang lại nhiều điều bổ ích. Cỗ xe sắp hết xăng, rời chính lộ Để nói về nguy cơ tan vỡ của nền văn minh công nghiệp, các tác giả đưa ra hình ảnh « chiếc xe hơi ». Vào đầu kỷ nguyên công nghiệp, chỉ một số ít quốc gia tham gia chuyến đi. Sau một giai đoạn khởi động từ từ, kể từ sau Thế chiến Hai, xe tăng tốc. Hiện nay, tốc độ xe đã lên đến cực điểm. Cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã có mặt trên xe. Sau một vài dấu hiệu động cơ gằn lại và tỏa khói, cây kim chỉ vận tốc run lên bần bật. Liệu xe tiếp tục bò lên ? Xe khựng lại ? Hay lao dốc ? (chương 1). Theo các tác giả cuốn « Mọi thứ có thể sụp đổ như thế nào ? », chiếc xe chở nhân loại chúng ta đã rời khỏi trục đường chính, đang lao xuống thung lũng trên một lộ trình bất định, với đầy chướng ngại vật và tầm nhìn gần như bằng không. Một số hành khách trên chuyến xe hiểu rằng chiếc xe rất mong manh, nhưng người lái thì không nhận ra, và vẫn tiếp tục nhấn mạnh chân ga. Theo hai nhà khoa học, một loạt các chỉ báo cho thấy khả năng tăng trưởng, được coi là « vô hạn » của nền kinh tế thế giới xét về mặt toán học, nay đều có thể nói đã « kịch trần » : về dân số, về GDP, về tiêu thụ các tài nguyên (nước, năng lượng…), sử dụng phân bón, khí thải gây hiệu ứng nhà kính… Chiếc xe hơi chở các quốc gia công nghiệp đứng trước hai thách thức. Thứ nhất là động cơ của « chiếc xe hơi », tuy vẫn còn sung sức, nhưng lâm vào tình trạng « nhiên liệu » sắp cạn kiệt. Thứ hai là, tốc độ quá nhanh của xe khiến khả năng quan sát giảm mạnh và nguy cơ tai nạn gia tăng (chương 2). Đọc thêm : Kinh tế Xanh : Giới đầu tư gây áp lực với G20Sau nhiều thế kỷ phát triển, chiếc xe hơi ngày càng hoàn thiện hơn, rộng rãi hơn, tiện nghi hơn, hiện đại hơn. Nhưng cái giá để trả cho « những thành tựu » này là quá lớn : Xe (dường như) đã bị cố định vào một hướng, chân ga bị cột lại, chỉ có thể tăng, chứ không thể giảm tốc. Việc điều chỉnh để thích nghi, tránh thảm họa, dường như là bất khả. Trong phần một « Các dấu hiệu của sự sụp đổ », các tác giả nhấn mạnh một loạt yếu tố cho thấy nền kinh tế dựa trên năng lượng giá rẻ đang lùi vào quá khứ (1), trong khi hiệu suất của các năng lượng tái tạo mới được coi là không đủ. Mà một nền năng lượng giá rẻ chính là nền tảng của tăng trưởng. Bên cạnh đó, hệ thống tài chính, tín dụng – liên hệ mật thiết với hệ thống khai thác năng lượng hóa thạch – cũng đang trong tình trạng hụt hơi. Cần một môn khoa học về sự sụp đổ Trái đất nóng lên, phá hết kỷ lục này đến kỷ lục khác, các thiên tai diễn ra dồn dập, khó dự đoán hơn. Theo một nghiên cứu, được công bố trên tạp chí khoa học Nature năm 2009, được cập nhật năm 2015, có 9 ranh giới tuyệt đối cần thiết cho sự sống của con người trên hành tinh không thể bị xâm phạm. Mà, theo các tác giả cuốn sách về viễn cảnh sụp đổ, chỉ riêng việc xâm phạm các ngưỡng về Khí hậu và Đa dạng sinh thái đã đủ để đưa loài người vào thảm họa khôn lường (chương 3). Tuy nhiên, theo các tác giả, mức độ « khủng hoảng » kinh tế-tài chính và khí hậu-sinh thái hết sức trầm trọng hiện nay đã không được giới cầm quyền chính trị và kinh tế nhận thức đúng mức. Viễn cảnh sụp đổ của toàn bộ nền văn minh công nghiệp và thậm chí của toàn bộ Hệ sinh thái – Hành tinh là điều còn ít người chấp nhận đối diện. Ông Raphel Stevens tâm sự : « Chúng ta thiếu một môn khoa học về sự sụp đổ của ‘‘nền văn minh’’ của chúng ta, nền văn minh đương đại. Chúng tôi muốn xây dựng một môn khoa học liên ngành, tự trang bị cho mình những hiểu biết của nhiều bộ môn khoa học, để phân tích về những gì xảy ra với xã hội chúng ta ngày hôm nay. (…) Chúng tôi không lạc quan, cũng không bi quan, chúng tôi cũng không sáng tạo ra gì mới, mà chỉ tổng hợp lại các nghiên cứu khoa học từ ba, bốn, năm năm trở lại đây, khoảng 3.000 bài báo và 300 cuốn sách. Có một khoảng cách rất lớn giữa các sản phẩm của giới khoa học và hiểu biết của công chúng bình thường, chúng tôi muốn lấp đầy khoảng trống này. Nỗ lực của chúng tôi là cập nhật các hiểu biết trong lĩnh vực sinh thái học ». Mô hình dự báo-dấu hiệu dự báo-trực cảm Ông Raphel Stevens giới thiệu một công cụ quan trọng của môn khoa học về sự sụp đổ : « Đó là các mô hình ‘‘Meadow’’ (2), mô hình ‘‘Handy’’. Các mô hình không trực tiếp dự báo tương lai, mà là công cụ để hình dung khả năng chuyển hóa của hệ thống… Chúng ta có hai mô hình tuyệt vời. Theo mô hình Handy (Human And Nature DYnamical), sự bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng về kinh tế, là các nhân tố dẫn đến sụp đổ. Xã hội càng bất bình đẳng, sẽ càng sớm sụp đổ, và điều này là chắc chắn. Mà trong xã hội chúng ta hiện nay, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, và điều này rất nguy hiểm. Điều này khiến xã hội chúng ta trở nên rất mong manh. (…) Mô hình Meadow, ra đời vào năm 1972, là một mô hình rất vững chắc. Sau hơn 40 năm tồn tại, mô hình này vẫn chưa bị bác bỏ. Dựa trên việc phân tích các cuộc khủng hoảng trước đây, mô hình Meadow dự báo nền văn minh công nghiệp (nhiệt năng) của chúng ta sẽ sụp đổ trong nửa đầu thế kỷ XXI. Căn cứ vào các biểu đồ trong cuốn sách này, có thể thấy chúng ta đang đứng bên bờ vực của tiến trình. Sau khi phỏng vấn Dennis Meadow, đồng tác giả mô hình này, vào năm 2011, tôi đã rơi vào trạng thái trầm cảm trong suốt hai tháng. Đó là điểm khởi đầu cho quyết định đi vào nghiên cứu này của chúng tôi ». Về các công cụ của môn khoa học mới, Raphel Stevens đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của trực giác : « Đối diện với những biến cố hoàn toàn không thể dự báo, ông Nassim Nicholas Taleb triết gia/cựu giao dịch tài chính (trader) gọi đó là ‘‘những con thiên nga đen’’ (cygnes noirs) hay các biến cố hiếm khi xảy ra. Đây là những gì chúng ta không thể nhìn thấy được, nhưng chúng để lại những dấu ấn trong lịch sử. Về chuyện này, khoa học về xác suất, thống kê bất lực. Vì vậy, chúng ta cần đến trực giác. Chúng tôi tự nhủ : Chúng ta hãy tin tưởng vào trực giác của mình ! Về hiện tại, theo trực giác của chúng tôi, nền văn minh của chúng ta sẽ sụp đổ trong khoảng từ năm 2020 đến 2030. Sau khi đọc tất cả những nghiên cứu nói trên, chúng tôi hoàn toàn không còn nghĩ rằng thời hạn của sự sụp đổ sẽ bắt đầu vào 2050 hay 2100. Tuy nhiên, không có chứng cứ nào để xác nhận điều này. Một công cụ khác của ngành dự báo là các dấu hiệu cảnh báo. Các chuyên gia về những hệ thống phức tạp biết rằng, trước khi một hệ thống sụp đổ, ngay trước khi đó, có những tiếng ồn r
Andre Brahic, người đưa công chúng đến với trời sao
2020/04/08
Các đêm từ ngày 6 đến ngày 8/8/2016, tại hàng trăm địa điểm ở Pháp, đã diễn ra một hoạt động đặc biệt. Ngắm nhìn bầu trời sao với sự hỗ trợ của các phương tiện thiên văn, cùng các chuyên gia. Đây là năm thứ 26 ''đêm các vì sao'' (Nuit des étoiles). ''Đêm các vì sao'' năm nay tôn vinh nhà thiên văn học Andre Brahic, một chuyên gia nổi tiếng thế giới về Hệ Mặt trời, người truyền bá không mệt mỏi tình yêu thiên văn, khao khát khám phá các chân trời xa xôi. Andre Brahic sinh năm 1942 tại Paris, trong một gia đình khiêm tốn. Được sớm nhập môn vào ngành vật lý thiên văn bởi chính Evry Schatzman, cha đẻ môn khoa học này tại Pháp, Andre Brahic sau đó đã có cơ hội được tham gia vào cuộc thám hiểm Hệ Mặt trời, thông qua phi thuyền Voyager trong những năm 1980. Cùng với nhà thiên văn Mỹ William Hubbard, Andre Brahic đã phát hiện ra vành đai của Hải Vương Tinh, hành tinh xa xôi nhất trong Hệ mặt trời, gấp 30 lần khoảng cách giữa Mặt trời và Trái đất. Andre Brahic là một trong số không nhiều chuyên gia lớn đặc biệt quan tâm đến việc phổ biến các hiểu biết chuyên môn cho công chúng rộng rãi. Ông là tác giả năm cuốn sách phổ biến khoa học, trong đó có cuốn « Những đứa con của Mặt trời » (1999) và « Những trái đất xa xăm. Phải chăng chúng ta chỉ có một mình trong vũ trụ ? » (2015). Nhà vật lý thiên văn Andre Brahic vừa qua đời hôm 15/05/2016. Vào thời điểm đó, trả lời đài Europe 1, kỹ sư Jean-François Clervoy, nhà du hành vũ trụ làm việc cho Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) đã thốt lên : « Tôi coi ông như một vị anh hùng của thế giới các vì sao. Đó là một con người kỳ lạ, xuất chúng, một nhà kể chuyện hấp dẫn, người mang lại cho tất cả những ai từng nghe ông, khao khát trở thành nhà vật lý thiên văn. Tôi không thể nào tin được ông ấy đã ra đi ». Ngay sau khi Andre Brahic qua đời, chương trình « Autour de la question » của RFI đã thực hiện một tạp chí truyền thanh, giới thiệu lại với thính giả một số trích đoạn phỏng vấn mà nhà thiên văn đã dành cho đài trước đây. Trước hết, mời quý vị nghe lại tiếng nói của Andre Brahic về một kỷ niệm vô cùng đặc biệt trong cuộc đời ông. Vẻ đẹp và ý nghĩa của vũ trụ « Tôi có một kinh nghiệm tuyệt vời. Đó là vào năm 2006, khi tôi đi tìm hiểu về nhật thực ở giữa sa mạc Teneray, nằm ở phía bắc nước Niger. Đây là một nơi hoàn toàn không có ánh sáng (vào ban đêm). Tôi vốn có thói quen qua đêm tại một khách sạn thường là có « nhiều sao », tôi là nhà thiên văn mà. Nhưng lần này, tôi đã trải qua một đêm dưới vòm trời sao. Đêm đó là một đêm vô cùng xúc động trong cuộc đời tôi. Tôi muốn truyền lại cho mọi người một lời khuyên như sau. Hãy tới một nơi hoàn toàn không có ánh sáng, cách xa các nguồn sáng gần nhất vài chục cây số. Bởi vì một ngọn nến nhỏ cách xa vài cây số là đã sáng hơn những gì trên trời. Cần làm sao để mắt bạn quen với màn đêm đen như mực. Vào một đêm không trăng như thế, ta sẽ không còn thấy mặt đất. Ta sẽ chỉ thấy bầu trời. Hay nói một cách khác, ta bập bồng trong không gian. Chính vào lúc đó mà tôi thấu hiểu cái xúc cảm dấy lên trong lòng tổ tiên chúng ta cách nay hai, ba nghìn năm. Họ đã tự hỏi : Ta là ai ? Từ đâu ta đến ? Chúng ta đi về đâu ? Liệu có những người ngoài Trái đất không ?... Những câu hỏi sâu xa mà mỗi cộng đồng người, từ Polynésie, Eskimo, từ châu Phi, đến châu Á, đều đưa ra câu trả lời riêng của mình. Biết bao chuyện kể, huyền thoại, triết học, đã ra đời, khi con người ngước nhìn lên bầu trời trong đêm tối, không bị ánh sáng làm ô nhiễm. Một đêm như vậy chắc chắn sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn. Hai phản ứng chắc chắn sẽ đến : Vẻ đẹp của vũ trụ khiến ta sững sờ và rất nhiều câu hỏi kích thích trí tò mò của ta. Và đối với những ai đi xa hơn, đó là những vấn đề lớn. Mà chúng ta biết rằng các vấn đề lớn đó chính là cuộc chiến chống lại sự ngu tối, mà hiện nay đang có xu hướng xâm chiếm thế giới chúng ta. Chính trong cuộc chiến đó mà tri thức ra đời. Điều đó còn xa hơn cả vẻ đẹp của bầu trời. Nhưng hãy nhìn lên bầu trời mà xem. Nó thật tuyệt vời. Khi có trăng, bạn hãy cầm lấy ống kính. Nhìn vào khoảng ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối, bạn sẽ có cảm giác như đang bay lượn trên Mặt trăng. Đấy cũng là một cảnh tượng thật tuyệt vời nữa ». Mỗi hành tinh có một đời sống riêng Nhà thiên văn Andre Brahic cho biết, khi ông còn là học sinh, ở trường học, người ta dạy rằng các hành tinh trong Hệ Mặt trời cũng khá giống với Trái đất. Ông đã từng chờ đợi các hành tinh xa xôi khác cũng có những vệ tinh tương tự như Mặt trăng của Trái đất. Nhưng sau đó, ông dần dần hiểu ra một điều khác hẳn. Đó là mỗi hành tinh có một « đời sống » hoàn toàn khác biệt. Khát khao tìm hiểu về « đời sống » của mỗi hành tinh đã thúc đẩy Andre Brahic suốt cuộc đời. Là người đồng phát hiện ra vành đai của hành tinh khổng lồ Hải Vương, hành tinh thứ 8 và là hành tinh xa nhất của Hệ Mặt trời, Andre Brahic giải thích một cách tóm tắt với thính giả về cơ chế nào đã tạo nên vành đai rất đặc biệt này. « Có một hiệu ứng giống như thủy triều lên. Có nghĩa là, nếu như bạn đặt một vệ tinh vào một quỹ đạo xung quanh Hải Vương. Vào một thời điểm nhất định, điểm gần nhất và điểm xa nhất của vật thể này sẽ bị kéo giãn ra. Giãn đến mức, nó bị vỡ thành nhiều mảnh. Hay nói một cách khác, ở vào một khoảng cách gần hành tinh, sẽ không có vệ tinh nào tồn tại nổi. Ví dụ như, nếu xích gần Mặt trăng, ở khoảng cách 384.000 km lại gần Trái đất ở khoảng cách 180.000 km, thì Mặt trăng sẽ vỡ tan. Các mảnh vỡ rải rác khắp trong không gian, khi chuyển động sẽ va chạm vào nhau. Khi va đập, chúng sẽ mất năng lượng, và vì vậy chúng bị hút vào vùng tâm của hành tinh. Nhưng vì chúng va đập vào nhau theo chiều song song với quỹ đạo hành tinh, nên rốt cục các mảnh vỡ bị dàn mỏng lại thành các vành đai, hơn là co cụm lại ». Bốn lợi ích của nghiên cứu vũ trụ Nghiên cứu vũ trụ là một nỗ lực đòi hỏi rất nhiều đầu tư, hết sức tốn kém. Vậy tại sao nhiều xã hội lại chọn con đường hết sức phiêu lưu này ? « Nghiên cứu vũ trụ có ba ích lợi. Thứ nhất về mặt văn hóa. Ta sẽ trở nên thông minh hơn, với những hiểu biết về nhiều điều hết sức thú vị. Thứ hai là hiểu biết về vũ trụ giúp giải quyết cả vấn đề thất nghiệp. Bởi vì các động cơ du hành vũ trụ đòi hỏi độ tin cậy rất cao. Không có bất cứ sai sót nào được phép. Bởi nếu một trục trặc nhỏ như một miếng hàn long ra, thì sẽ không thể có một xưởng sửa chữa nào trên vũ trụ để giúp giải quyết. Ý nghĩa thứ ba là hiểu biết về vũ trụ cho phép hiểu hơn về Trái đất. Những hiện tượng tự nhiên dữ dội trên Trái đất như núi lửa, động đất, bão tố, ô nhiễm… không dễ dự đoán trước chúng sẽ diễn ra lúc nào, biến đổi như thế nào. Nghiên cứu Trái đất, giống như đối với vật thể khác mà các nhà vật lý – các nhà hóa học nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Trái đất phải được cắt ra làm hai, làm ba. Phải nhào nặn nó, để xem các phản ứng của nó. May mắn thay đối với chúng ta, là Trái đất không bị đưa vào các thí nghiệm như vậy ! Mà thật ra điều này không cần thiết. Bởi vì chúng ta có thể nghiên cứu Diêm Vương Tinh, Hải Vương Tinh và các hành tinh khác. Chúng ta quan sát thấy các vật thể kích cỡ to nhỏ khác nhau, đặc lỏng khác nhau. Từ đó, chúng ta có thể hiểu được vai trò của từng nhân tố một, từ khối lượng, cho đến nhiệt độ, độ đặc, thành phần hóa học… Từ đó mà ta hiểu rõ hơn về Trái đất. Tôi có tóm tắt điều này lại bằng một điều như sau. Khi mà trong cuộc sống chúng ta gặp phải một vấn đề, thì không phải bằng cách chúi đầu vào góc đó mà chúng ta có thể giải quyết được. Mà ta cần phải có một độ lùi. Mà lấy một độ lùi chính là nghiên cứu thiên văn học (Đây có thể nói là lợi ích thứ tư của thiên văn học - người viết bổ sung) ». Ba giai đoạn của thiên văn học Nhà thiên văn h

Podcast reviews

Read Tạp chí khoa học podcast reviews


0 out of 5
0 reviews

Podcast sponsorship advertising

Start advertising on Tạp chí khoa học relevant audience podcasts


What do you want to promote?