
Advertise on podcast: Tạp chí kinh tế
Rating
5from
This podcast has
26 episodes
Language
VietnamesePublisher
RFI Tiếng ViệtExplicit
No
Date created
2021/07/01
Latest episode
2026/10/06
Average duration
10 min.
Release period
8 days
Description
Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân
Unlock Tạp chí kinh tế podcast Email contact info,
Listeners & Audience details
Email contact information
Direct podcast contact details

Listeners
Audience numbers & engagement insights

Audience details
Podcast Insights

Podcast episodes
Check latest episodes from Tạp chí kinh tế podcast
100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ giúp Venezuela trở thành một cường quốc dầu hỏa thế giới ?
2026/10/06
Ngày 28/08/2026 tổng thống Donald Trump loan báo Hoa Kỳ đầu tư 100 tỷ đô la vào ngành dầu hỏa Venezuela để đổi lấy quyền khai thác 17 mỏ dầu chiến lược của nước này trong 100 năm. Tại Caracas, quyền tổng thống Delcy Rodriguez nói đến một thỏa thuận « lịch sử » cho phép Venezuela thu hơn 200 tỷ đô la tiền thuế. Với 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ, Venezuela thực hiện giấc mơ trở thành một nguồn cung cấp dầu hỏa lớn nhất thế giới, ngang hàng với Ả Rập Xê Út ?
Nói chuyện với báo chí, tổng thống Trump khẳng định : Mỹ sẽ « trở nên giàu có, Venezuela cũng vậy ». Trước đó trên mạng xã hội cá nhân Truth Social nguyên thủ Mỹ giải thích : Ngoại trưởng Marco Rubio cùng với bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, Pete Hegseth đã tiến hành đàm phán với Venezuela và đạt được kết quả cụ thể là Mỹ huy động 100 tỷ đô la đầu tư tư nhân, để giành quyền kiểm soát 65 tỷ thùng dầu trong dự trữ của Venezuela và như vậy, trong tương lai, « tổng dự trữ dầu hỏa của Mỹ sẽ được nhân lên gấp đôi » so với hiện tại.
Quyền tổng thống Venezuela, bà Delcy Rodriguez phấn khởi thông báo với toàn dân viễn cảnh 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ sẽ mang lại công việc làm cho người dân, nhân viên ngành dầu mỏ được trả lương cao hơn, với nguồn thu nhập trong tương lai mà dầu hỏa mang lại cho đất nước, chính quyền sẽ bảo đảm cho người dân những dịch vụ công cộng tốt hơn, đầu tư vào giáo dục, người dân sẽ được ấm no … Bà kết luận : « Đầu tư của Mỹ sẽ là mộtđòn bẩy, một cú hích mạnh mẽ » cho phép Venezuela cất cánh.
Tính bất thường trong thỏa thuận
Trên đài truyền hình Arte, chuyên gia về năng lượng Francis Perrin, thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp thận trọng hơn rất nhiều trước những tuyên bố rất lạc quan từ phía tổng thống Donald Trump cũng như quyền tổng thống Delcy Rodriguez. Ông đồng thời nêu bật « tính bất thường » trong thỏa thuận về dầu hỏa giữa Mỹ và Venezuela lần này. Đó là sự can thiệp của chính quyền Washington :
« Trong lĩnh vực năng lượng và dầu hỏa, tầm nhìn thuộc về trung và dài hạn. Điều đó có nghĩa là Venezuela không sản xuất được một giọt dầu nào trước bầu cử giữa kỳ năm nay, sang năm tới hay năm 2028 và kể cả trước cuối nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump. Thỏa thuận giữa Washington và Caracas liên quan đến 17 mỏ dầu với tiềm năng rất lớn. Nhưng đó là một thỏa thuận giữa hai Nhà nước và sau đó còn phải thuyết phục các nhà đầu tư huy động vốn. Đó là những tập đoàn tư nhân. Đừng quên rằng để khai thác dầu của Venezuela, cần 100 tỷ đô la đầu tư. Câu hỏi đặt ra là liệu rằng ba tập đoàn dầu hỏa lớn nhất của Mỹ (ExxonMobil, Chevron và ConocoPhillips) có muốn bỏ vốn vào Venezuela hay không. Cái đó còn phải đợi xem đã. Điểm thứ hai là nét đặc thù của thỏa thuận này liên quan đến vai trò của chính phủ Mỹ. Chính quyền liên bang trực tiếp can thiệp ở ba cấp độ khác nhau : thứ nhất là tham gia khoảng 35 % , tỷ lệ này còn phải được xác định lại, vốn của một tập đoàn dầu hỏa tư nhân Venezuela. Thứ hai là chính Lầu Năm Góc, tức bộ Quốc Phòng Mỹ đứng ra bảo lãnh cho việc huy động vốn. Điều kiện thứ ba là Mỹ đã điều đình để trong tương lai, có thể mua lại 20 % sản lượng dầu của Venezuela với giá thành chứ không phải là với giá thị trường ».
Trên đài RFI Pháp ngữ, Rafael Ramirez cựu bộ trưởng bộ Dầu Hỏa Venezuela, nguyên chủ tịch Tập Đoàn Dầu Hỏa Quốc Gia PDVSA trả lời câu hỏi liệu « thỏa thuận lịch sử » mà nguyên thủ Hoa Kỳ và lãnh đạo Venezuela cùng nói tới có lợi cho Venezuela hay không :
« Không, không, không. Hoàn toàn là không. Thỏa thuận này là một tai họa, đi ngược lại với tất cả lợi ích của Venezuela. Trong lịch sử nền công nghiệp dầu hỏa quốc gia, thì đây là một bước thụt lùi : Mỹ tước đoạt quyền kiểm soát 65 tỷ thùng dầu của Venezuela, tương đương với 21 % dự trữ dầu hỏa quốc gia. Hoa Kỳ hành xử như thể Venezuela là một tỉnh trực thuộc chính quyền liên bang ở Washington. Đây không hơn không kém là một hành vi tịch thu tài sản của Venezuela (…) Hợp đồng 100 năm thực ra là một hành động cướp đoạt trái phép, nhất là khi mà có sự can thiệp trực tiếp của Lầu Năm Góc, tức là của quân đội Hoa Kỳ. Đây là một mô hình thực dân mới mà Mỹ đang áp dụng từ hôm 03/01/2026 khi oanh kích Venezuela và quân đội Venezuela thì lại hoàn toàn không kháng cự. Chính quyền Caracas trong tay tổng thống Delcy Rodriguez lại tuyên bố sẵn sàng thực hiện tất cả những yêu sách của Washington … Venezuela từ đó đến nay bị đặt dưới sự bảo hộ của Mỹ ».
Quyền tổng thống Venezuela cố gắng trình bày thỏa thuận về dầu hỏa ký kết với Washington như một thắng lợi đem lại sự thịnh vượng cho nhân dân và cho quốc gia Nam Mỹ này và nhất là bảo đảm chủ quyền của Venezuela. Tuy nhiên trong lúc tổng thống Donald Trump nói đến quyền hạn khai thác dầu hỏa của Venezuela trong vòng 100 năm thì lãnh đạo Venezuela lại chỉ nên lên thời hạn là 25 năm mà thôi. Đây là khác biệt đầu tiên đáng chú ý nhất. Hiện tại các chuyên gia và báo chí chưa thể xác định thời hạn Mỹ khai thác dầu của Venezuela là bao lâu.
Venezuela : Tiềm năng trở thành nhà cung cấp lớn nhất thế giới
Theo các thống kê chính thức do Caracas cung cấp, Venezuela hiện đang có nguồn dự trữ dầu lớn nhất thế giới còn đợi được khai thác. Dự trữ tiềm ẩn của Venezuela ước tính là hơn 300 tỷ thùng dầu tức là còn cao hơn cả so với dự trữ của Ả Rập Xê Út (267 tỷ thùng) hay Iran (208 tỷ thùng dầu). Để so sánh, Mỹ đang cất giấu khoảng 45 tỷ thùng dầu chưa được khai thác (Nga là 80 tỷ thùng).
Với một trữ lượng lớn như vậy nhưng Venezuela hiện tại chỉ sản xuất chưa tới 1 triệu thùng dầu mỗi ngày trong lúc Ả Rập Xê Út cho đến trước khi nổ ra chiến tranh Iran và eo biển Hormuz bị phong tỏa, lại sản xuất được hơn 9 triệu thùng mỗi ngày mà phần lớn trong số đó là để cung cấp cho thế giới. hơn 13 triệu thùng dầu cũng được sản xuất tại Mỹ nhưng chủ yếu là để phục vụ thị trường nội địa.
Vành đai Orinoco
Nhìn kỹ hơn, các mỏ dầu của Venezuela tập trung ở khu vực miền bắc trong vùng được gọi là Vành đai Orinoco, trải rộng trên diện tích khoảng 55.000 cây số vuông và đây chính là nơi có những mỏ dầu Mỹ đang nhắm tới. « 17 mỏ dầu chiến lược » trong thỏa thuận Washington - Caracas ông Trump nhắc đến hôm 28/08/2026 tập trung cả ở khu vực này.
Tại khu vực Vành đai Orinoco, hiện đã có sẵn từ các nhà máy lọc dầu đến hệ thống các đường ống dẫn. Có điều cơ sở hạ tầng tại đây đã bị xuống cấp đáng kể từ nhiều thập niên qua. Công nghiệp dầu hỏa của Venezuela bị Hoa Kỳ trừng phạt từ 2014 dưới thời tổng thống đảng Dân Chủ Barack Obama. Chính quyền Trump trong nhiệm kỳ đầu, vào năm 2019 đã ban hành lệnh cấm vận dầu hỏa Venezuela. Điều đó không cấm cản Caracas lách lệnh trừng phạt của Mỹ và đã tiếp tục xuất khẩu dầu cho nhiều đối tác, quan trọng nhất là Trung Quốc và Cuba.
Cần 183 tỷ đô la để trở lại với thời kỳ của năm 1997
Một điểm quan trọng khác đó là khả năng sản xuất và thị phần của Venezuela trên thị trường quốc tế ngày càng bị thu hẹp : năm 1997 Venezuela sản xuất hơn 3,5 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm 7 % sản lượng toàn cầu. Năm 2024, dù hoạt động hết công suất mỗi ngày, các nhà máy của Venezuela chỉ có thể cung cấp hơn 900 ngàn thùng dầu.
Sự sụt giảm đó là hậu quả của hơn 20 năm thiếu đầu tư vào công nghiệp dầu hỏa dưới nhiệm kỳ của cố tổng thống Hugo Chavez (cuối 1999-2013) và nhất là dưới nhiệm kỳ của tổng thống Nicolas Maduro (2013-2026) khi mà đảng cầm quyền cánh tả PSUV xem công nghiệp dầu hỏa và nhất là tập đoàn dầu hỏa quốc gia như « máy rút tiền » : PDVSA được đặt dưới sự quản lý của q
Vận tải đường biển qua Bắc Cực : Thách thức và cơ hội
2026/09/29
Cách nhau đúng một tuần, Trung Quốc và Hàn Quốc cùng mở tuyến vận tải đường biển qua Bắc Cực, Northern Sea Route -NSR nối liền hai quốc gia Đông Bắc Á này với châu Âu. Sự kiện làm dấy lên nhiều hy vọng cho giao thương hàng hải trong bối cảnh chiến sự làm xáo trộn khu vực Hồng Hải, eo biển Hormuz bị phong tỏa. Con Đường Phương Bắc không chứng minh được khả năng sinh lời. Đây trước hết là một tính toán « chiến lược và chính trị ».
Phần lớn lộ trình NSR bọc theo bờ biển phía đông nước Nga : Các hãng vận tải đường biển châu Âu không muốn bị phụ thuộc vào Nga vốn đang bị nhiều nước phương Tây trừng phạt kinh tế. Bắc Kinh với một « tầm nhìn xa » muốn tận dụng mối quan hệ tốt đẹp với Matxcơva để vừa chen chân vào Bắc Cực, vừa giảm bớt áp lực tại một vùng biển nhậy cảm như eo biển Malacca.
Đối với tổng thống Vladimir Putin, NSR trước hết là công cụ để phá vỡ thế cô lập và chận đứng các đòn trừng phạt mà phương Tây ban hành từ 2014, khi Matxcơva chiếm bán đảo Crimée của Ukraina.
Rút ngắn thời gian giao hàng bằng mọi giá ?
Với hai chuyến tàu, tập đoàn Trung Quốc Sea Legend và Hàn Quốc PanStar - khởi hành ngày 15 và 22/08/2026, đã làm dấy lên hy vọng thu ngắn 1/3 lộ trình và 20 % thời gian cho những chuyến tàu kết nối châu Á với châu Âu qua Bắc Cực và Bắc Băng Dương. Cả hai góp phần « mở đường » cho một tuyến hải trình mới.
Công ty vận tải biển Trung Quốc thậm chí còn thông báo từ nay cho đến « giữa tháng 9/2026 », tức là khi tuyết đóng băng, bảo đảm dịch vụ định kỳ với tần suất mỗi tuần một chuyến khởi hành từ Ninh Ba đến cảng Felixstowe tại Anh Quốc. Nhưng sau chuyến tàu duy nhất đã được rầm rộ loan báo, vẫn chưa thấy Sea Legend thông báo những chuyến tiếp theo.
Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung từng vinh danh Acro là con tàu « tiên phong, khai mở một trục giao thương mới lên Bắc Cực » nhưng cho dù tàu Acro của hãng vận tải PanStar đã cập bến an toàn từ hôm 11/09/2029, Seoul khá kín tiếng về « sự khai mở » quan trọng này.
Tuyến hải trình cho tàu container
Trả lời đài RFI Tiếng Việt, Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR ghi nhận, đằng sau sự hồ hởi ban đầu, các hãng vận tải đường biển đang phải cọ sát với một thực tế : NSR không đáp ứng nhu cầu giải tỏa căng thẳng trên thị trường năng lượng cho Trung Quốc, không chứng minh được khả năng sinh lời và trước mắt còn rất nhiều rủi ro trong việc khai thác hành trình qua Bắc Băng Dương và Bắc Cực.
Paul Tourret : « Từ khoảng 15-20 năm nay, Nga bắt đầu phát triển tuyến hàng hải đi qua Bắc Cực, cho phép rút ngắn hành trình nối liền châu Âu và Viễn Đông của Nga. Trên thực tế con đường biển này chỉ liên quan đến Bắc Âu và Đông Bắc Á, chính xác hơn là liên quan đến các vùng miền bắc Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Cần biết là tuyến đường phương bắc chủ yếu là để vận chuyển hàng hóa chứ không phải để chở năng lượng hay nguyên liệu. Cho nên việc mở thêm lộ trình phương Bắc này không giúp giải tỏa căng thẳng dầu khí do xung đột ở Trung Đông, eo biển Hormuz bị phong tỏa gây nên.
Ngược lại tuyến đường qua Bắc Băng Dương một khi đi vào hoạt động sẽ rất có ý nghĩa với vận chuyển container, cho phép rút ngắn hành trình. Tuy nhiên với các tuyến tàu chở hàng, việc đi qua nhiều thành phố cảng như Thượng Hải, Sài Gòn rồi Singapore cũng có nhiều lợi thế : Tàu có thể nhận thêm hàng hay dỡ hàng trong suốt hành trình. Do vậy, ngành vận tải container không nhất thiết cần một tuyến đường nhanh ở phía Bắc. Nếu muốn vận chuyển nhanh thì có thể sử dụng đường sắt xuyên qua lãnh thổ Nga, hay qua ngả hàng không ».
RFI : Thu ngắn hành trình và thời gian trên biển là hai lợi thế đầu tiên của dự án con đường giao thương phương Bắc, bên cạnh những rủi ro chiến tranh như tình hình ở eo biển Hormuz và Hồng Hải … nhưng rút ngắn thời gian trên biển liệu có là yếu tố quan trọng nhất hay không ?
Paul Tourret : « Kể từ cuối năm 2023, vì chiến tranh Gaza rồi việc lực lượng Houthi ở Yemen tham gia vào cuộc xung đột, ngày càng ít tàu container đi qua Hồng Hải (…)Vì lý do an toàn, các hãng vận chuyển đường biển tránh eo biển Hormuz và chọn đi vòng qua phía nam châu Phi, qua mũi Hảo Vọng. Đúng là hành trình giữa Trung Quốc và châu Âu hay Trung Quốc với Mỹ mất thêm khoảng một tuần. Trước đây thời gian vận chuyển khoảng 25–28 ngày, giờ đây cần khoảng 35 ngày, trong khi nếu đi theo tuyến phía Bắc -qua Bắc Băng Dương thì chỉ khoảng 15 ngày. Tuy vậy cần hiểu rằng ngành vận tải container gắn liền với các hoạt động phân phối hàng hóa một cách rộng rãi. Và trong lĩnh vực phân phối ở quy mô lớn, ngoại trừ ngành dệt may và những linh kiện giữa châu Á và châu Âu, đối với phần còn lại, nhìn chung không phải lúc nào cũng có nhu cầu vận chuyển nhanh hàng hóa hay phải đạt tốc độ cao. Cho nên không nhất thiết phải có một tuyến đường hàng hải phương Bắc ».
NSR không là một « giải pháp thay thế »
RFI : Khu vực Bắc Băng Dương thuộc khí hậu là môi trường khắc nghiệt, thời gian tàu thuyền có thể qua lại khu vực này chỉ kéo dài vài tháng trong năm. Trái đất bị hâm nóng được coi là thuận lợi cho việc khai thác tuyến đường NSR nhưng hiện tượng tan băng cũng là một rủi ro rất lớn đối với tàu thuyền qua lại khu vực này, chẳng hạn như hiện tượng băng trôi ….
Paul Tourret : « Vâng đúng là thời gian để khai thác tuyến hàng hải này trong năm khá hạn hẹp. Nhờ hiện tượng trái đất bị hâm nóng, cho nên cách nay 40 hay 50 năm, mới khoảng tháng 8- 9 là tất cả đã đóng băng, giờ đây mùa hè rõ ràng là đã được kéo dài hơn, và khả năng vận hành mở ra từ tháng 5 đến khoảng tháng 10.
Tuy nhiên một tuyến đường hàng hải chỉ có lợi và dễ được chiếu cố, nếu giá vận chuyển không quá đắt. Chúng ta đang bàn về một tuyến giao thương ở Bắc Băng Dương, một vùng nước nguy hiểm và còn xa lạ với giới trong ngành. Khí hậu ở đây khắc nghiệt, với những hiện tượng cực đoan, băng trôi … cho nên các hãng vận tải đường biển cần trang bị tàu phá băng, sử dụng tàu chuyên dụng và nhất là cần những phương án cứu hộ riêng : Thí dụ như nếu tàu gặp vấn đề về động cơ ở vùng biển này, thì trước khi lực lượng cứu hộ có thể đến được, sẽ mất khá nhiều thời gian ; hoặc tàu có thể phải được tàu phá băng hộ tống. Các thủy thủ cũng cần được đào tạo một cách phù hợp với tuyến hàng hải đặc biệt này. Với những rủi ro lớn như vậy, chi phí bảo hiểm cũng sẽ rất cao….
(...) Hiện chưa có các nghiên cứu về khả năng sinh lời của dự án nhưng câu hỏi chính là nếu đi qua Bắc Cực thì giá vận chuyển một tấn hàng sẽ lên đến bao nhiêu. Nếu đi qua các ngả truyền thống, -mà chúng tôi gọi là tuyến đường hàng hải phương Nam, với giá là 2000 đô la, tuy rằng đây sẽ là chuyến đi dài ngày và tốn kém nhưng trong trường hợp phí tốn khi đi qua tuyến phương Bắc cao gấp đôi thì liệu rằng tính toán đó có lợi hay không ? Câu trả lời sẽ là có nếu như cần giao hàng gấp và những phí tổn phụ trội đương nhiên sẽ do bên khách hàng chi trả.
Bên cạnh đó còn có vấn đề liên quan đến hình ảnh và uy tín của một tập đoàn vận chuyển đường biển. Ai cũng biết mở thêm tuyến đường qua Bắc Băng Dương sẽ gây ô nhiễm (làm ô nhiễm nguồn nước và không khí) và tàn phá môi trường, phá hoại môi trường sống của các loại sinh và động vật trong khu vực … cho nên có nhiều hãng không muốn thương hiệu của họ bị công luận đả kích là thiếu thân thiện với môi tường và thiên nhiên. Năm 2019 nhiều hãng vận tải đường biển châu Ấu đã từ chối tham gia dự án đi qua Bắc Băng Dương. Tránh để bị quy trách nhiệm làm hâm nóng trái đất ».
Mở rộng ảnh hưởng của Nga
RFI : Tránh để hình ảnh của công ty bị hoen ố vì tàn phá môi trường chỉ là một trong số nhiều lý do khiến các nước phương Tây đứng ngoài các dự án khai thác tuyến đường phương Bắc. Từ 1987 lãnh đạo Liên Xô Michail Gorbatch
Kêu gọi giảm tốc độ phát triển công nghệ AI : Hình thức bảo hộ của Mỹ
2026/09/22
Vì sao đột nhiên các « ông lớn » trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo ở Mỹ đồng loạt kêu gọi « giảm tốc độ phát triển các mô hình AI » ? Tại xứ sở của tự do kinh doanh mà lãnh đạo các tập đoàn trị giá hàng trăm tỷ đô la như OpenAI, Anthropic, SpaceXAI … lại đòi chính phủ quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động phát triển mô hình Trí tuệ Nhân tạo.
Magnificent Seven quy tụ bảy công ty AI hàng đầu của Mỹ đang tính toán những gì ? Hay đơn giản đây là một hình thức bảo hộ, chận đường AI Trung Quốc tranh giành thị phần ?
Trí tuệ Nhân tạo (AI) không chỉ gây ra những lo ngại cướp đi công việc làm của con người hay cướp đi các nguồn điện và nước của nhân loại vì các công trình khổng lồ xây dựng trung tâm xử lý dữ liệu. Giờ đây, những tập đoàn AI báo động về nguy cơ những mô hình do chính họ kiến tạo vì phát triển quá nhanh, vượt ngoài sự hiểu biết của con người và rồi những phương trình AI càng lúc càng thông minh và hiệu quả sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát của những người đang lập ra chúng.
Hôm 12/09/2029 Dario Amodei, tổng giám đốc Anthropic, một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực này, đã kêu gọi chủ động giảm tốc độ phát triển những mô hình AI mạnh nhất của mình. Lập tức các đối thủ của ông đã hưởng ứng lời kêu gọi đó -từ Elon Musk đến kình địch của Dario Amodei là Sam Altman, chủ nhân OpenAI. Tiếp theo đó các chính trị gia ở Mỹ nhập cuộc. Tất cả cùng đòi chính phủ can thiệp, lập ra những khung pháp lý kiểm soát các hoạt động trong một lĩnh vực còn quá mới mẻ này. Chỉ có mỗi tổng thống Donald Trump chủ trương phải để cho các doanh nghiệp của Mỹ thực sự « tự do » phát triển và có như vậy mới có thể dẫn đầu cuộc chạy đua công nghệ, không lo bị Trung Quốc qua mặt.
Điều đáng nói ở đây là chính chủ nhân những tập đoàn công nghệ AI của Mỹ, những người đã đầu tư hàng trăm tỷ đô la để phát triển một công cụ mới lại dóng lên tiếng chuông báo động và đòi Nhà nước kiểm soát các hoạt động phát triển AI. Theo thẩm định của hãng tin Anh Reuters Google, Amazon, Meta và Microsoft đầu tư 650 tỷ đô la trong năm nay để có những công cụ càng lúc càng « thông minh hơn và hiệu quả hơn ».
Thắng gấp một đoàn tàu cao tốc
Làm thế nào để hiểu được nghịch lý giữa một bên là những khoản đầu tư rất lớn để đào tạo các mô hình AI thông minh nhất, mạnh nhất và hiệu quả nhát với lời kêu gọi giảm tốc độ phát triển những mô hình này, trước nguy cơ AI phát triển quá nhanh và ngày càng độc lập với những chức năng mà con người đặt ra cho chúng ? Sáng lập viên công ty SaferAI, Siméon Campos với chủ trương phát triển Trí tuệ Nhân tạo an toàn hơn cho nhân loại ví von : kêu gọi điều tiết nhịp độ cho ra đời những mô hình AI mới như thể là đòi « thắng gấp một đoàn tàu đang chạy hơn 300 km/giờ ».
Quyền lực trong tay một vài tập đoàn hàng trăm tỷ của Mỹ
Trên đài truyền hình Pháp France24, Edouard Fillias, đồng sáng lập viên và giám đốc điều hành công ty tư vấn chuyên về kỹ thuật số JIN, cho rằng tranh cãi về mức độ nguy hiểm của AI có phần « chệch hướng »
« Bởi vì thực tế cho thấy vấn đề không phải là AI có nguy hiểm hay không và nguy hiểm đến mức nào. Điều đáng sợ ở đây là nhờ công cụ mới là Trí tuệ Nhân tạo mà một vài tập đoàn của Mỹ có thể áp đặt những biện pháp bảo hộ trên thị trường Mỹ và với toàn thế giới. Cho nên những cảnh báo gần đây chính từ phía các đại tập đoàn AI rằng chỉ vài năm nữa công nghệ này sẽ làm chủ nhân loại … chẳng qua là do một thủ thuật của chính các đại công ty này khai thác sự hoang mang của công luận. Không biết trước được AI sẽ thay đổi đời sống của chúng ta như thế nào và đến đâu. Cho nên một tiếng nói như của Jacob Coxon, một cựu nhân viên Anthropic cũng đủ làm mọi người rúng động. Các tập đoàn AI khai thác nỗi sợ hãi của con người trước một công nghệ hoàn toàn mới mẻ và họ đưa ra những tai họa tiềm tàng kiểu như AI sẽ điều khiển thế giới, sẽ là một dạng ‘siêu quyền lực’ kiểm soát và chi phối đời sống của mỗi chúng ta… Thực tế chỉ là một vấn đề kinh tế »
Cũng trên đài France24, nhà kinh tế Julien Pillot, giảng dậy tại trường INSEEC xem những báo động về mức độ nguy hiểm của AI và kêu gọi chính phủ can thiệp, đặt ra những khung pháp lý là một sự giả dối từ phía các đại tập đoàn AI Mỹ. Mục tiêu sau cùng của họ là áp đặt một chính sách bảo hộ :
« Khai thác nỗi sợ hãi để tiếp cận công luận, để kiếm lời là mục đích của các tập đoàn AI ở Mỹ vào thời điểm mà công luận hoang mang vì những hệ quả từ công nghệ Trí tuệ Nhân tạo tạo sinh. Sau một thời gian đầu tư rất nhiều và rất tốn kém vào AI, giới trong ngành bắt đầu cần bảo đảm thu lại tiền lãi, Họ cần đưa ra những tín hiệu rằng AI là một lĩnh vực có tiềm năng và dễ kiếm lời …
Để đạt được mục đích này, thì các ‘ông lớn’ trong ngành vừa phải dẫn đầu cuộc đua, vừa phải áp đảo và thậm chí là loại bớt các đối thủ. Cho nên khi những ông chủ công nghệ AI của Mỹ kêu gọi ‘điều tiết’, ‘đưa ra những chuẩn mực’ để quản lý công nghệ mới này… trước hết là để bảo vệ công nghệ AI của Hoa Kỳ, để bảo vệ kỹ thuật của Mỹ.
Qua đó cấm các đối thủ khác xâm nhập vào thị trường Mỹ. Hiện tại Hoa Kỳ và Trung Quốc đang đi theo hai mô hình phát triển khác nhau, sử dụng những công nghệ và kỹ thuật khác nhau … Cho nên những báo động về mối nguy AI, những kêu gọi kiểm soát thị trường AI … vừa cho phép các hãng của Mỹ tự vệ, vừa loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, mà nguy hiểm nhất trong mắt họ là các mô hình Trí tuệ Nhân tạo của Trung Quốc ».
Mũi tên nhắm vào AI Trung Quốc
Hiện tại chỉ có Trung Quốc là đối thủ duy nhất khiến các ông lớn trong lĩnh vực AI của Hoa Kỳ lo ngại. Siméon Campos sáng lập viên công ty SaferAI phân tích
« Liên quan đến Trung Quốc, vấn đề khá phức tạp bởi vì Trung Quốc vừa có một đội ngũ các chuyên gia về AI rất giỏi, công nghệ của họ cũng rất tốt. Tuy nhiên so với Hoa Kỳ thì ở thời điểm hiện tại Trung Quốc thua Mỹ trên hai phương diện : một là năng xuất của các bộ xử lý đồ họa GPU của Mỹ cao gấp 20 lần so với của Trung Quốc. Nhược điểm thứ hai là công nghệ Trung Quốc phát triển từ những mô hình của Hoa Kỳ : Trung Quốc vẫn đi sau Mỹ một bước ».
Điều đó không cấm cản Trung Quốc có hướng đi riêng của chính mình. Lãnh đạo SafeAI Siméon Campos nhắc lại :
« Trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản, Anthropic là công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất : Doanh thu của tập đoàn này đang từ 10 tỷ đô la đầu năm, mà hiện tại là 60 tỷ. Để so sánh, tập đoàn Meta đã mất rất nhiều năm mới có được nhịp độ phát triển tương đương ».
Chính sách bảo hộ trá hình
Cho nên theo giới trong ngành, các tập đoàn Mỹ chẳng chỉ « giả vờ báo động để bảo vệ quyền lợi của chính mình, kêu gọi chính phủ đặt ra quy định đạo đức trong ngành AI để áp đặt những chuẩn mực của mình với thế giới ».
Theo chuyên gia kinh tế Julien Pillot Magnificent Seven ở Mỹ đang rất cần trấn an các cổ đông rằng AI là một lĩnh vực cho phép nhanh chóng thu về lợi nhuận và cần xua tan đe dọa « một quả bóng AI vỡ tung »
« Quả thực, OpenAI hiện phải đối mặt với một vấn đề, đó là không chứng minh khả năng sinh lời từ những mô hình AI họ phát triển. Trong khi đó thì Anthopic trong hai quý gần đây đã hòa vốn. Đây không là thời điểm thuận lợi để đưa OpenAI lên sàn chứng khoán. Tuy nhiên không thể phủ nhận là các công ti Trí tuệ Nhân tạo đã đầu tư rất, rất nhiều - chủ yếu là qua nhóm 7 tập đoàn lớn nhất ở Mỹ. Đầu tư của họ tiếp tục tăng hàng năm và đã đạt đến những số tiền không tưởng : Có lẽ đến cuối năm nay, tổng vốn đầu tư vào AI vượt quá ngưỡng 750 tỷ đô la, trong đó bao gồm đầu tư xây dựng hạ tầng (data center) và đầu tư để huấn luyện cho các mô hình AI càng lúc càng thông minh hơn
Thượng đỉnh BRICS : Chiến tranh Ukraina và Trung Đông, cơ hội của Trung Quốc và Nga
2026/09/16
Thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế đang trỗi dậy BRICS 2026 tại New Delhi là cơ hội tốt đối với Nga và Trung Quốc để mở rộng ảnh hưởng kinh tế với các nước « phương Nam ». Là hai cột trụ chính trong khối, Matxcơva và Bắc Kinh tranh thủ cảm tình của nước chủ nhà là Ấn Độ nhất là khi vì chiến tranh Iran và Ukraina, thủ tướng Modi và các lãnh đạo trong nhóm BRICS bị đẩy vào thế kẹt.
Quan hệ giữa Ấn Độ và Mỹ rạn nứt. Những khó khăn quân sự của Mỹ ở Trung Đông và chính sách đối ngoại của Washington làm suy yếu đồng đô la : Chuyên gia kinh tế Jean-Joseph Boillot cố vấn Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp phân tích về những cơ hội đang mở ra cho hai đối thủ của Hoa Kỳ là Nga và Trung Quốc.
Từ thượng đỉnh Ekaterinbourg - Nga năm 2009 đến hội nghị tại New Delhi, Ấn Độ hôm 12-13/09/2029, khối các nền kinh tế đang trỗi dậy với 4 rồi 5 thành viên sáng lập ban đầu, đã mở rộng đến một số nước ở Trung Đông, Đông Nam Á và châu Phi.
Trong số 11 thành viên chính thức hiện tại, có Iran, Ai Cập, Ả Rập Xê Út… và đương nhiên là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi. Vai trò nước chủ nhà của thủ tướng Narendra Modi lần này không đơn giản. Vì chiến tranh Trung Đông, drone và tên lửa Iran đang nhắm vào nhiều quốc gia vùng Vịnh đồng minh của Hoa Kỳ như Ả Rập Xê Út hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất.
Kết thúc hai ngày họp, các bên đã ra thông cáo chung nhưng tránh sử dụng cụm từ « chiến tranh Iran » cho dù vì cuộc chiến này eo biển Hormuz bị phong tỏa, ngăn cản Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất xuất khẩu dầu hỏa.
Cùng lúc chiến tranh Iran đang làm thay đổi cách nhìn của các nước trong Vùng Vịnh về Hoa Kỳ, ô dù an ninh của toàn khu vực. Cũng vì dầu hỏa và năng lượng, bản thân nước chủ nhà, Ấn Độ bị dồn vào thế « trên đe dưới búa ». Chỉ riêng bài toán năng lượng đã khiến thủ tướng Narendra Modi phải đau đầu : Để thay thế nguồn cung cấp dầu khí của Trung Đông, New Delhi buộc phải trông cậy nhiều hơn vào nhà cung cấp truyền thống là Nga, thế nhưng Ấn Độ lại liên tục bị Hoa Kỳ gây sức ép để hạn chế nhập khẩu dầu của Nga và mua thêm dầu của Mỹ.
Trả lời RFI Việt Ngữ chuyên gia Jean-Joseph Boillot, cố vấn Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp phân tích về những điểm quan trọng nhất của thượng đỉnh khối BRICS lần này.
Jean-Joseph Boillot : "Rõ ràng là hiện nay chúng ta đang đối diện với một khối ‘Phương Nam' toàn cầu đã được mở rộng. Ngày càng có nhiều quốc gia không còn chấp nhận sự bá quyền của Mỹ khi thấy chính sách ngoại giao của Donald Trump hoàn toàn đi ngược lại lợi ích của họ. Trong số này, có các nước Trung Đông như Ả Rập Xê Út, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), cả hai đã gia nhập nhóm BRICS từ 2024. Nhưng đừng quên ba đầu tàu của BRICS là Trung Quốc, Nga và Ấn Độ."
RFI Tiếng Việt: Thượng đỉnh New Delhi 2026 thắt chặt thêm quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Lần cuối ông Tập Cận Bình công du Ấn Độ là hồi 2019. Đôi bên thực sự sưởi ấm quan hệ cả về ngoại giao, lẫn kinh tế?
Jean-Joseph Boillot : Kinh tế và địa chính trị thực ra là hai mặt của cùng một đồng tiền. Về mặt địa chính trị, giữa Ấn Độ và Trung Quốc vẫn tồn tại những bất đồng đáng kể, đặc biệt là tranh chấp tại đường biên giới. Bên cạnh đó, chính sách ngoại giao của Ấn Độ, vốn chủ trương liên kết đa chiều, nhưng khoảng 15 năm trở lại đây, rõ ràng New Delhi ngày càng có xu hướng thân Mỹ hơn.
Tuy nhiên, hiện tại trên phương diện này, Trung Quốc và Ấn Độ đang bước vào giai đoạn tan băng. Đôi bên đang nối lại đối thoại về đường biên giới.
Còn đối với Hoa Kỳ, sự ‘phản bội’ từ phía Mỹ là một gáo nước lạnh đối với chính sách của thủ tướng Modi khi mà Washington đưa Ấn Độ vào nhóm các quốc gia phải chịu mức thuế quan cao nhất. Mặt khác, Nhà Trắng còn cấm Ấn Độ nhập khẩu dầu hỏa của Nga, trong khi đối với các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ, nguồn dầu này đã trở thành một ‘món quà từ trên trời rơi xuống’ kể từ khi chiến tranh Ukraina bắt đầu.
Vì vậy, rõ ràng phía Ấn Độ đang có một sự thất vọng rất lớn. Điều này tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho việc xích lại gần Trung Quốc. Cùng lúc thì Trung Quốc, ở thời điểm này, đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ trong khoảng 3 năm trở lại đây, đặc biệt trong những lĩnh vực thiết yếu như thiết bị năng lượng mặt trời, năng lượng gió, cũng như trong lĩnh vực điện tử. Trung Quốc cũng là một nguồn đầu tư rất lớn đối với Ấn Độ, vào thời điểm các nhà đầu tư thận trọng hơn với Ấn Độ.
Về kinh tế và thương mại, Ấn Độ và Trung Quốc vừa cần nhau, vừa là những đối thủ của lẫn nhau?
Jean-Joseph Boillot : Tôi nghĩ rằng trên thực tế, giữa Ấn Độ và Trung Quốc đang trong tình huống ‘đôi bên cùng có lợi’ thuần túy trên phương diện kinh tế mà nói. Song cần lưu ý rằng, từ trước đến nay New Delhi hoàn toàn không tin tưởng Trung Quốc. Các chiến lược gia Ấn Độ hiểu rất rõ rằng giữa hai nước hiện nay tồn tại một khoảng cách rất lớn và Trung Quốc có năng lực công nghệ cũng như tiềm lực đầu tư mạnh đến mức có thể khiến Ấn Độ trở nên phụ thuộc.
Vì vậy, Ấn Độ sẽ luôn duy trì một mức độ dè chừng nhất định và áp dụng các biện pháp kiểm soát đối với đầu tư của Trung Quốc, xét theo từng lĩnh vực. Điều này nhằm tránh một thực tế mà ai cũng biết về Trung Quốc : chính sách dumping. Bắc Kinh trợ giá cho các doanh nghiệp quốc gia để hàng hóa tràn ngập các thị trường trên thế giới. Ấn Độ không muốn đi vào vết xe đổ của phương Tây, tức là để rồi các nhà máy của mình cũng phải đóng cửa vì cạnh tranh không lại với hàng rẻ của Trung Quốc.
Còn về phía Trung Quốc, Bắc Kinh ý thức được rằng tình hình hiện nay không mấy thuận lợi. Nếu chỉ dựa vào xuất khẩu như hiện nay, thúc đẩy tăng trưởng thì không đủ : Trung Quốc lại không thể trông cậy vào các thị trường phương Tây Âu-Mỹ. Washington thì đã dần đóng cửa với hàng xuất khẩu của Trung Quốc, trong lúc châu Âu cũng đang xây dựng hàng loạt biện pháp kiểm soát đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, chỉ còn lại thị trường từ các quốc gia đang trỗ dậy và trong số này thì Ấn Độ là ông khổng lồ với gần 1,5 triệu dân.
Nhìn từ Ấn Độ, chúng ta có thể thấy rất rõ rằng cả các nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng đều ưa chuộng dùng đồ ‘Made in China’ : Ấn Độ là một quốc gia mà người dân nhìn chung còn khá nghèo chỉ có hàng của Trung Quốc mới đủ rẻ để cho phép họ mua vào từ đôi giày cho đến điện thoại di động… Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia duy nhất có khả năng bán những sản phẩm như vậy trên thị trường Ấn Độ. Các nhà sản xuất Ấn Độ chưa thực sự có thể sản xuất hàng loạt những sản phẩm như vậy.
Nhìn từ phía các nhà sản xuất Ấn Độ, máy móc và thiết bị của Trung Quốc đang rất được ưa chuộng. Tôi biết khá rõ các tập đoàn lớn của Ấn Độ, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng, từ Tata đến Reliance : Họ hiện gần như chỉ sử dụng thiết bị của Trung Quốc. Vì vậy, đối với ngành công nghiệp Ấn Độ hiện nay thì Trung Quốc là nguồn cung cấp thiết bị tốt nhất xét về mặt giá cả và chất lượng.
Thúc đẩy thêm quan hệ với Ấn Độ đặc biệt là trên vấn đề năng lượng, chinh phục cảm tình của 11 thành viên khối BRICS và 10 quốc gia đối tác của khối này : phải chăng đó là mục tiêu chuyến công du Ấn Độ dài ngày của tổng thống Vladimir Putin?
Jean-Joseph Boillot : Khi Vladimir Putin khởi xướng thành lập nhóm BRICS, ban đầu chỉ có 4 quốc gia: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, sau đó thêm quốc gia thứ 5 là Nam Phi, ý tưởng lúc đó thực ra không hẳn là tạo ra một mặt trận chống phương Tây. Bởi ngay từ đầu, lập trường của Ấn Độ, xin nhắc lại, khi ấy ngày càng có xu hướng xích lại gần thế giới phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Chính phủ đầu tiên có đường lối
Thương mại : Mỹ phải hoàn trả hơn 100 tỷ đô la thuế nhập khẩu. Ai hưởng lợi ?
2026/09/08
Nếu là một doanh nghiệp xuất khẩu từng là nạn nhân của chính sách bảo hộ Washington ban hành từ 2025, thì làm thế nào để thu hồi những khoản thuế đã nộp cho Hải Quan Mỹ ? Tính đến cuối tháng 7/2026 chính phủ đã phải hoàn trả 100 tỷ đô la cho các công ty nhập khẩu và các nhà phân phối của Hoa Kỳ. Hơn 40 tập doàn trong danh sách S&P500 đã nhận lại được gần 10 tỷ đô la. Các công ty xuất khẩu sang Mỹ có hy vọng gì hay không ?
Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng 90 % gánh nặng thuế quan Nhà Trắng ban hành, là do người Mỹ hứng chịu. Vậy, 10 % còn lại thì sao ?
Để trả lời câu hỏi làm thế nào đòi lại tiền từ chính phủ Mỹ nếu là một doanh nghiệp nước ngoài giao thương với Hoa Kỳ, Le Figaro hôm 01/09/2026 có một bài viết với hàng tựa : « Các khoản thuế quan do Donald Trump áp đặt mà các doanh nghiệp Pháp đang kín đáo thu hồi ».
Về mặt lý thuyết các hãng của Pháp có thể đòi lại 10 tỷ đô la do là nạn nhân của chính sách « thuế đối ứng » « không hợp lệ » mà Donald Trump đã ban hành hồi đầu tháng 4/2025.
Tiền của Mỹ vẫn ở lại trên đất Mỹ
Luật gia Olivier Dorgans, chuyên về luật thương mại của văn phòng Stephenson Harwood được tờ báo trích dẫn giải thích ngắn gọn : Tiền của Mỹ thì vẫn ở lại trên đất Mỹ.
Một doanh nghiệp Pháp xuất khẩu sang Hoa Kỳ qua trung gian cơ quan dưới tên gọi IOR - Importer of Record. Đây có thể là một chi nhánh đại diện tại Mỹ, hay là một nhà phân phối độc lập, hoạt động tại Hoa Kỳ.
Cho nên khi Hoa Kỳ hoàn trả lại các khoản thuế đã thu vào « bất hợp pháp » thì bên nhận lại cũng phải là IOR. Điều đó có nghĩa là « tiền của Mỹ thì vẫn ở lại trên đất Mỹ ». Trong trường hợp của Pháp, do Liên Âu và Mỹ đã đạt thỏa thuận về mức thuế đối ứng 15 % thì các hãng của Pháp đã phải giảm giá để « chia sẻ gánh nặng » với khách hàng. Đối lại khi khoản thuế đối này này bị hủy, thì Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) phải hoàn trả lại tiền cho IOR. Điều đó không có nghĩa là số tiền đó được đưa trở lại về Pháp. Đây chỉ là một dàn xếp « bí mật » giữa IOR và nhà sản xuất của Pháp.
Trả lời đài truyền hình France5, Baptiste Reybier, tổng giám đốc FerMob chuyên cung cấp bàn và ghế sắt sử dụng trong vườn giải thích, ông thực sự đau đầu khi bị Mỹ đánh thuế 15 %
« Chúng tôi không được hướng dẫn rõ ràng về quy trình để biết phải làm những gì. Các quy định về hạn ngạch thuế quan thay đổi liên tục. FerMob do vậy bắt buộc phải thích nghi với tình huống, phải giải quyết một cách nhanh gọn và thực tế nhất (…) Chúng tôi tin rằng Mỹ là một quốc gia có chính sách thân thiện với các doanh nghiệp, ủng hộ kinh doanh và lại rất thực tiễn. Cho nên các chính sách của Washington cũng có thể dễ được điều chỉnh một khi họ thấy là các biện pháp ban hành gây rối loạn các hoạt động kinh tế, kinh doanh ».
Christine Sévillano, chủ một hầm rượu tại Champagne mà Hoa Kỳ là thị trường quan trọng nhất, trong một năm qua, xuất khẩu sang Mỹ chỉ còn bằng 1 phần 6 so với trước đây. Hầm rượu của bà bị thiệt hại rất nhiều :
« Trước khi bị đánh thuế, loại phân khúc thấp, tức là loại rượu phổ thông chúng tôi bán sang Mỹ với giá cao nhất 55-60 đô la một chai. Nhưng từ vì mức thuế đối ứng 15 %, mỗi chai rượu champagne đẩy giá lên đến 70 đô la. Hệ quả kèm theo là chúng tôi khó bán sang Hoa Kỳ. Thị trường này bị đóng băng. 2025 là một năm cực kỳ khó khăn, như thể là hàng của mình cấm xuất khẩu sang Mỹ vậy ! »
Cuộc chiến còn dài Từ khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặt các hàng rào thuế quan với toàn thế giới, nhiều hãng lớn của Hoa Kỳ như Apple, Nike hay FedEx đã nhanh chóng thu về lại được những khoản tiền lớn. Theo báo tài chính The Wall Street Journal tính đến ngày 31/07/2026 đã có hơn 250.000 trong số 330.000 công ty nhập khẩu của Mỹ nộp đơn yêu cầu Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) trả lại tiền. Đến trung tuần tháng 8/2026 CBP thông báo đã xử lý các hồ sơ để hoàn trả 128,7 tỷ đô la cho các doanh nghiêp Mỹ.
Apple đã nhận lại được hơn 2 tỷ đô la, nhà cung cấp quần áo, giày… thể thao Nike được hoàn trả gần 1 tỷ đô la, hãng xe Ford cũng thu về lại được 500 triệu …
Một số doanh nghiệp khác của Mỹ kém may mắn hơn. Thủ tục đòi lại những khoản thuế phụ trội phức tạp hơn, số tiền thu hồi lại ít hơn và chậm hơn so với mong đợi.
Đau đầu hơn nữa là lập tức sau khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ ra phán quyết bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặc các hàng rào thuế quan, Donald Trump trong hai ngày liên tiếp (20 và 21/02/2026) thông báo thêm hai mức thuế bổ sung 10 rồi 15 %.
Những lớp thuế chồng chất Cho đến hôm nay 08/09/2026 quy định về mức thuế quan của Hoa Kỳ với thế giới là một vùng sương mù dày đặc.
Cho dù mức thuế đối ứng (đối với hàng của Việt Nam là 20 %, đối với Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc là 15 %...) đã bị hủy nhưng các đối tác thương mại xuất khẩu sang Hoa Kỳ vẫn tạm thời phải chịu một mức thuế phụ thu 10 %. Bên cạnh đó là mức thuế đánh vào những sản phẩm đặc biệt như nhôm, thép ... Lúc thì Washington ấn định thuế nhôm, thép là 25 %, lúc lại đẩy mức thuế này lên tới 50 % như đang áp dụng với Canada.
Trên đài phát thanh Pháp France Info, Denis Ferrand thuộc Viện nghiên cứu và dự phóng kinh tế vĩ mô độc lập Rexecode cho rằng chính sách thuế quan của Hoa Kỳ giờ đây đang mở ra những trận đấu pháp lý gay go. Để đòi lại tiền từ chính phủ Mỹ đã là một chuyện khó đối với một doanh nghiệp hay một nhà phân phối ở Hoa Kỳ. Với một nhà xuất khẩu ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới,điều đó lại càng khó hơn.
« Đây là một nguồn gốc tranh chấp cơ bản. Trong bối cảnh bất ổn định vừa nêu, chúng ta ở vào đúng thời điểm mà chưa ai biết tình hình sẽ lắng xuống như thế nào. Tranh chấp sẽ dẫn tới những vụ kiện kéo dài. Các doanh nghiệp sẽ đòi phải được hoàn trả những khoản thuế quan mà họ đã nộp cho Hoa Kỳ trong khuôn khổ chính sách bảo hộ ông Trump ban hành. Thí dụ như hãng xe Toyota đang đòi được trả lại tiền. Nhưng bên cạnh đó là rất nhiều những câu hỏi. Theo các ước tính, chính phủ phải hoàn lại hàng trăm tỷ đô la cho các doanh nghiệp. Nhưng cụ thể thì sẽ phải chia sẻ số tiền hàng trăm tỷ đô như thế nào cho các công ty nhập khẩu của Mỹ, số tiền đó liệu có được trả lại cho người tiêu dùng hay không ? Chi nhánh của Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ ở New York thẩm định, 90 % thuế hải quan ông Trump ban hành do các doanh nghiệp, các nhà phân phối và người tiêu dùng ở Mỹ hứng chịu ».
Cũng trên đài phát thanh France Info, nhà kinh tế Stéphane Carcillo, cộng tác với Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế nói đến những thiệt hại đối với Mỹ do các biện pháp bảo hộ gây nên :
« Về phương diện pháp lý, ẩn số ở đây liên quan đến việc sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp đòi được trả lại tiền. Hơn nữa chính sách thuế quan của Mỹ tác hại đến các doanh nghiệp, đến các nhà phân phối ở Mỹ đến mức độ nào và cũng không biết là các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, hay những cá nhân có kiện và đòi chính phủ trả lại tiền hay không. Còn đối với chính phủ, thì đây cũng là một gánh nặng tài chính : ngân sách của Liên Bang thiếu đi mất 175 tỷ đô la. Đây là một khoản tiền lớn. Hiện tại chính quyền Trump liên tục thông báo áp thêm các biện pháp thuế quan, rồi đòi mở điều tra từng quốc gia, xem đối tác thương mại đó có cạnh tranh bất bình đẳng làm phương hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ hay không… »
Có một điều chắc chắn là trong thời gian tới, các nhà sản xuất các chủ doanh nghiệp sẽ rất mệt mỏi vì các chính sách thuế quan, vì các đòn trừng phạt. Cây bút xã luận của báo kinh tế Pháp Les Echos, Dominique Seux đánh giá, các đòn thuế quan mà Hoa Kỳ liên tục sử dụng đã làm thay đổi hẳn cách tiếp cận của các doanh nghiệp về môi trường chung quanh. Để tồn tại, một doanh nhân ngày càng phải chú ý đến yếu tố « địa chín
Chiến tranh kinh tế Iran giúp Ấn Độ - Trung Quốc sưởi ấm quan hệ
2026/09/01
Chiến tranh Iran là một bước ngoặt trong bang giao giữa Ấn Độ và Trung Quốc ? Vì lợi ích kinh tế, đôi bên tạm gạt sang một bên những tranh chấ lãnh thổ để đối phó với một cuộc xung đột Washington đã khai mào và đang đe dọa tăng trưởng của hai quốc gia đông dân nhất địa cầu. Bắc Kinh và New Delhi có thể hợp tác trên những lĩnh vực nào ? Đâu là giới hạn trong những nỗ lực sưởi ấm quan hệ song phương ?
Ngày 01/09/2026 lãnh đạo hai nước cùng tham dự thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải - SCO lần thứ 26 diễn ra tại Bishkek, thủ đô Kyrgyzstan. Có nhiều khả năng trong chưa đầy 2 tuần nữa, (12-13/09/2026) chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến New Delhi dự thượng đỉnh BRICS.
Ấn Độ và Trung Quốc cùng đang chịu áp lực sau hơn nửa năm chiến tranh Iran kéo dài và từ mặt trận quân sự, Hoa Kỳ đòi mở rộng cuộc xung đột này sang mặt trận kinh tế. New Delhi và Bắc Kinh cùng là những khách hàng lớn mua dầu hỏa Trung Đông, chiến tranh Iran đã ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Ấn Độ và Trung Quốc như thế nào ?
Theo các số liệu chính thức, tăng trưởng của quốc gia Nam Á này vẫn còn vững chắc trong 6 tháng đầu năm 2026. GDP tăng 7,8 % trong quý 1, cao hơn so với dự báo của Ngân Hàng Trung Ương.
Tuy nhiên, do phụ thuộc đến 90 % năng lượng nhập khẩu, giá dầu tăng vì chiến tranh Trung Đông, do eo biển Hormuz bị phong tỏa, chi phí nhập khẩu, thâm hụt cán cân thương mại bị đẩy lên cao, lạm phát gia tăng. Theo báo Financial Times, lạm phát tại Ấn Độ tăng 4,45 % trong tháng 7/2026, vượt ngoài dự phóng của New Delhi.
Tương tự như Ấn Độ, Trung Quốc cũng là một nguồn nhập khẩu dầu của thế giới, đặc biệt là dầu của Vùng Vịnh, của Iran, cho nên khi giá dầu vì chiến tranh vượt ngưỡng 100 đô la/thùng thay vì 68 đô la như trước ngày Mỹ và Israel tấn công Iran, Bắc Kinh cũng phải đối mặt với những thách thức tương tự như New Delhi. Cỗ máy sản xuất, công nghiệp và qua đó là các hoạt động xuất khẩu của « công xưởng » thế giới này bị đe dọa.
Tình huống càng thêm khó khăn sau khi Nhà Trắng đòi trừng phạt gián tiếp mọi quốc gia giao dịch với Iran, tức là nhắm trực tiếp vào các doanh nghiệp, ngân hàng ... của Trung Quốc vẫn liên hệ với Teheran.
Trung Quốc và Ấn Độ cùng là những đối tác thương mại quan trọng bậc nhất của Iran, cả hai cùng là những khách hàng lớn nhất mua vào dầu hỏa Iran. Do vậy, đối thoại giữa nguyên thủ hai nước tại Bishkek đặc biệt được truyền thông chú ý.
Chiến tranh Iran và cơ hội cho Bắc Kinh
Thế nhưng về mặt ngoại giao và địa chính trị, đối với Bắc Kinh chiến tranh Trung Đông lần này cũng là một cơ hội tốt ngoài mong đợi. Tuần báo uy tín ấn hành tại New Delhi, Economic&Policy Weekly ghi nhận : Chiến tranh Iran đánh dấu một « bước ngoặt về địa chính trị » của Ấn Độ đối với Trung Quốc. Vào lúc Washington « sa lầy » ở Trung Đông, Bắc Kinh « củng cố vị thế chiến lược của mình mà không cần hao công tổn sức ».
Đây cũng là cơ hội để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng trên nhiều phương diện từ kinh tế đến đối tác chiến lược, tài chính, công nghệ … Hơn nữa, Mỹ bị chia trí vì Trung Đông, bớt « kềm tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc » ở châu Á -Thái Bình Dương.
Cải thiện quan hệ từ trước khi chiến tranh Iran khai mào
Thực ra bang giao giữa hai nước đông dân nhất địa cầu đã liên tục được cải thiện từ năm ngoái. Tháng 9/2025, sau 7 năm không đặt chân đến Hoa Lục và 5 năm từ khi xảy ra xung đột ở biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc trên dãy Himalaya, thủ tướng Narendra Modi đã trở lại Trung Quốc. Ông dự thượng đỉnh SCO tại Thiên Tân, hội đàm với chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh. Đó là thời điểm Washington đánh thuế 50 % vào hàng của Ấn Độ xuất khẩu sang Hoa Kỳ và trong nửa đầu nhiệm kỳ 2, tổng thống Donald Trump chọn đứng về phía Pakistan, kẻ thù của Ấn Độ trong tranh chấp lãnh thổ giữa New Delhi và Islamabad tại Cachemire.
Cách nay đúng một năm nhà báo Pierre Haski chuyên về địa chính trị giải thích : Ấn Độ xích lại gần Trung Quốc không phải vì Bắc Kinh có sức thu hút hơn Washington. Trong mắt kinh tế gia Agath Kratz chuyên nghiên cứu về Trung Quốc bất luận động lực nào thúc đẩy Ấn Độ sưởi ấm quan hệ với Trung Quốc, nhưng về dài hạn, lợi ích kinh tế của New Delhi vẫn được đặt tại Hoa Kỳ. Cũng trên đài truyền hình Arte ngày 03/09/2025 bà phân tích :
« Xích lại gần Trung Quốc, về phương diện kinh tế, Ấn Độ không hưởng lợi được bao nhiêu. Trái lại, mở rộng quan hệ với Mỹ để trong tương lai, thay thế Trung Quốc trở thành một nhà cung cấp, một nguồn xuất khẩu cho Hoa Kỳ và cho châu Âu : đó mới là lợi ích thực sự mà New Delhi muốn nhắm tới. Thâm hụt mật dịch của Ấn Độ với Trung Quốc lên tới 100 tỷ đô la, cao gấp đôi so với 5 năm trước đây. Ấn Độ cũng đã phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, cho nên, chỉ cần xảy ra tranh chấp ở biên giới là cũng đủ để đe dọa một số các lợi ích cốt lõi của New Delhi. Thủ tướng Modi muốn giảm mức độ phụ thuộc của Ấn Độ vào Trung Quốc ».
Về phần nhà nghiên cứu Valérie Niquet Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược – FRS của Pháp, và cũng là giám đốc đặc trách chương trình nghiên cứu về châu Á của quỹ này, bà nhấn mạnh đến chính sách đối ngoại rất cân bằng của thủ tướng Modi từ trước đến nay.
« Ngay trước chuyến đi Bắc Kinh của thủ tướng Ấn Độ, New Delhi đã cho thử một loại tên lửa mới có khả năng nhắm trúng mọi nơi trên lãnh thổ Trung Quốc. Trước khi đi Trung Quốc, Narendra Modi cũng đã công du Nhật Bản, một đối tác kinh tế và quân sự quan trọng khác. Điều đó chứng tỏ chính sách đối ngoại của New Delhi rất cân bằng. Đó là chưa kể đến vai trò của Nga. Nói cách khác, Ấn Độ trong cách đối đầu với những áp lực từ phía Hoa Kỳ vẫn không quên đâu mới là những lợi ích cơ bản của chính mình ».
Mỹ « đánh mất » Ấn Độ ?
Trở lại với câu hỏi vì xung đột Iran và trước đó nữa là vì chiến tranh thuế quan của Hoa Kỳ Bắc Kinh và New Delhi có thể hợp tác trên những lĩnh vực nào và đâu là giới hạn trong những nỗ lực của các ông Tập Cận Bình, Narendra Modi để cải thiện quan hệ song phương, Sylvia Malinbaum, chuyên gia về Nam Á Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI ghi nhận từ thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải – mà Iran là một thành viên toàn phần, tổ chức Thiên Tân 2025 – hình ảnh các lãnh đạo Trung Quốc, Ấn Độ và Nga đoàn kết đã là một thông điệp mạnh. Khi đó tổng thống Mỹ cay đắng bình luận trên mạng xã hội Truth Social : « Dường như chúng ta đã để Ấn Độ và Nga rơi vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, một quốc gia ngày sàng sâu sắc và đen tối hơn ».
Trước mắt về kinh tế thương mại, Trung Quốc và Ấn Độ có chung một mục đích : Đối phó với các biện pháp bảo hộ của Hoa Kỳ. Cả hai cùng có cán cân thương mại thặng dư so với Mỹ nên cùng bị Nhà Trắng trừng phạt bằng các đòn thuế quan. Nhưng bản thân Trung Quốc và Ấn Độ vừa là đối tác vừa là những đối thủ cạnh tranh của lẫn nhau.
Trung Quốc trong thế xuất siêu với Ấn Độ, cán cân thương mại của Bắc Kinh với bạn hàng Nam Á này thặng dự gần 100 tỷ đô la. Nền công nghiệp của Ấn Độ phụ thuộc vào Trung Quốc từ nguyên vật liệu đến linh kiện, phụ tùng xe hơi, các bộ phận lắp ráp điện tử, máy móc, các hoạt chất dược phẩm để vẫn được mệnh danh là « tủ thuốc của thế giới ».
New Delhi cũng muốn cạnh tranh với Trung Quốc để trở thành « công xưởng của thế giới trong lĩnh vực điện thoại thông minh » và đồ dùng điện tử nhưng các chuỗi sản xuất của Ấn Độ lại phải nhập khẩu kinh kiện và phụ tùng made in China.
Liên minh tình thế ?
Vào lúc Ấn Độ là nguồn nhập khẩu dầu thô lớn thứ 3 toàn cầu, nhập khí tự nhiên lớn thứ tư trên thế giới, vừa cần dầu hỏa của Nga và của Trung Đông, đặc biệt là của Iran, thì chính quyền Trump gia tăng sức ép đòi New Delhi mua dầu của Mỹ, Washington đòi đánh thuế 100 % vào hàng của Ấn Độ bán sang Mỹ nếu như New Delhi k
Với 40.000 tỷ đô la nợ, Mỹ vẫn là nam châm hút đầu tư và tín dụng
2026/08/25
Cường quốc kinh tế số 1 cũng là quốc gia mang nợ nhiều nhất toàn cầu. Hoa Kỳ vừa vượt ngưỡng 40.000 tỷ đô la nợ công. Các chuyên gia lo ngại khi thấy phí tổn ngân hàng để trả nợ của chính quyền liên bang cao hơn cả so với ngân sách quốc phòng của siêu cường quân sự hàng đầu thế giới này. Điều đó không cấm cản, Mỹ vẫn là khối « nam châm » hút đầu tư, tín dụng của thế giới.
Hôm 18/08/2026 bộ Tài Chính Mỹ thông báo nợ của chính phủ lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 40.000 tỷ đô la. Cùng lúc, lãi suất từ công trái phiếu thời hạn 30 năm đạt mức cao nhất từ năm 2007 đến nay (hơn 5,7 %). Điều đó có nghĩa là chính phủ Hoa Kỳ phải trả giá đắt hơn khi cần huy động vốn.
Gánh nợ của chính quyền Liên bang thêm nặng và làm dấy lên lo ngại Mỹ thiếu hụt thanh khoản. Bộ trưởng Tài Chính Hoa Kỳ đã gấp rút can thiệp. Scott Bessent thông báo chuẩn bị mua vào từ 2 đến 4 tỷ đô la công trái phiếu do chính Hoa Kỳ phát hành.
Thêm 3.000 tỷ đô la nợ trong 12 tháng Có nhiều vấn đề khiến giới tài chính, ngân hàng và tiền tệ quốc tế lo ngại.
Đầu tiên hết là mức nợ của Hoa Kỳ tăng quá nhanh so với các dự báo. Năm 2017, chính quyền liên bang nợ 20.000 tỷ đô la, tức là bằng một nửa so với hiện tại. Chưa hết năm 2026 mà nợ công đã vượt ngưỡng 40.000 tỷ đô la trong lúc các dự phóng của Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội Hoa Kỳ -Congressional Budget Office - CBO thì nợ công cho đến cuối năm nay vẫn chưa chạm ngưỡng tâm lý 40.000 tỷ đô la, tương đương với 125 % GDP. So với một năm trước đây, vào tháng 8/2025, nợ công của Mỹ tăng thêm 3.000 tỷ đô la như báo Financial Times ghi nhận.
Về khoản nợ thêm 3.000 tỷ đô la trong một năm, báo The Wall Street Journal giải thích, nợ của Mỹ bị thổi phồng lên nhanh như vậy vì chiến tranh Iran, lạm phát và bội chi ngân sách.
Nhìn xa hơn về quá khứ, bội chi ngân sách và nợ của Mỹ không ngừng gia tăng, do Hoa Kỳ trải qua nhiều cuộc khủng hoảng : Vụ « vỡ quả bóng tin học đầu những năm 2000, đến khủng hoảng tín dụng địa ốc 2007 rồi ngân hàng Lehman Brothers phá sản năm 2008 (…) rồi đến lượt đại dịch Covid 19 năm 2020 làm tê liệt tăng trưởng. Thuế thu vào giảm sụt trong lúc các chi phí về y tế, xã hội lại tăng nhanh. Thâm hụt ngân sách lớn dần ».
Những cuộc khủng hoảng chồng chất Một lý do khác nữa là dân số Mỹ cũng như tại các nước công nghiệp phát triển đang lão hóa : « Bảo hiểm y tế, lương hưu bị đẩy lên cao … ». Trở lại với tình trạng tài chính của Hoa Kỳ từ đầu 2025 cho dù tổng thống Trump tái đắc cử với hứa hẹn giảm bội chi ngân sách và trong những tháng đầu nhiệm kỳ hai ông đã đã mạnh tay cắt giảm nhân sự trong guồng máy hành chính nhà nước, trong các cơ quan của chính phủ liên bang nhưng thâm hụt ngân sách tháng 7/2026 lên tới 432 tỷ đô la thay vì 291 tỷ cùng thời kỳ năm ngoái (tăng 11,85 %).
Cùng thời kỳ, chi tiêu của chính quyền liên bang tăng thêm hơn 130 tỷ. Vì chiến tranh Iran, tổng thống Trump đã yêu cầu Quốc Hội bổ sung thêm 500 tỷ đô la cho ngân sách quốc phòng. Nhà Trắng cũng đòi cho tài khóa 2027 ngân sách của Lầu Năm Góc phải được đẩy lên tới 1.500 tỷ đô la thay vì hơn 800 tỷ như hiện tại.
Trả 3 tỷ tiền lãi cho chủ nợ mỗi ngày Cũng chính trong hoàn cảnh chiến tranh hiện nay, kinh tế gia kiêm giám đốc cơ quan tư vấn Pete G. Peterson, ông Michael Peterson trên đài truyền hình Arte nói đến một hiện tượng bất thường khi mà Mỹ trả tiền lãi cho các chủ nợ nhiều hơn cả tổng ngân sách quốc phòng và đáng quan ngại hơn nữa là chỉ trong 10 năm nữa, chi phí lãi vay của khoản nợ công Mỹ có thể tăng gấp đôi :
« Tiền lãi phải trả cho ngân hàng là khoản chi tiêu liên tục tăng lên và tăng mạnh nhất trong khoảng thời gian gần đây. Hiện tại mỗi ngày Hoa Kỳ phải trả hơn 3 tỷ đô la tiền lãi cho các chủ nợ. Có nghĩa là Mỹ trả tiền lãi còn nhiều hơn cả số tiền để trang trải những phí tổn quốc phòng. Trong 10 năm sắp tới, Hoa Kỳ sẽ phải trả đến 16.000 tỷ đô la tiền lãi ngân hàng. Khoản nợ 40.000 tỷ đô la của chính phủ liên bang hiện tại nhắc nhở chúng ta chấn chỉnh lại các khoản chi tiêu công (…) Khi mà lãi suất chỉ đạo tăng, sẽ kéo theo những lãi suất khác, như là tiền lãi khi ta phải đi vay để mua nhà, để mua xe. Chi phí cho dịch vụ dùng thẻ tín dụng cũng sẽ bị đẩy lên cao. Do vậy để vẫn tiếp cận được với các nguồn tín dụng thì cần phải đòi Washington nhanh chóng giải quyết vấn đề nợ công này ».
Cần thêm 39 tỷ đô la mỗi tuần Nói cách khác, Washington liên tục trong thế phải « đi vay nợ mới để thanh toán nợ cũ - thậm chí là chỉ để trả tiền lãi cho các chủ nợ ». Nhưng Hoa Kỳ vẫn dễ dàng thu hút đầu tư và tín dụng trên thế giới.
Ngân hàng JP Morgan trong một nghiên cứu dựa trên các dữ liệu hồi 2024 đưa ra ba yếu tố giải thích vì sao cả thế giới vẫn muốn đầu tư vào Mỹ.
Một là năng suất của người lao động Mỹ 171.000 đô la/năm, (tính theo sức mua tương đương) trong lúc của Đức là 120.000 đô la. Giải thích cho năng suất lao động cao đó, ngân hàng Mỹ Goldman Sachs đưa ra vài con số cụ thể : Xét về số năm một người lao động được đào tạo để có chuyên môn cao, Mỹ chỉ thua có Hàn Quốc. Hoa Kỳ cũng là nơi có những trường đại học hàng đầu thế giới và số giờ lao động tại Hoa Kỳ cũng cao hơn khoảng 20 % so với ở Pháp.
Bí quyết thứ hai giải thích vì sao dù Mỹ có mang nợ chồng chất vẫn là điểm đầu tư được ưa chuộng nhất đó là « sức sáng tạo » của các doanh nghiệp Hoa Kỳ.
Vẫn theo điều tra của ngân hàng Goldman Sachs, chi tiêu cho khâu nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Hoa Kỳ là 800 tỷ đô la một năm, cao gấp đôi so với Trung Quốc. Hoa Kỳ đang dẫn đầu thế giới với 48 công ty có lợi nhuận hơn 1 tỷ đô la/ năm. Để so sánh, toàn khu vực eurozone với 19 quốc gia cũng mới chỉ có được 7 tập đoàn lãi hàng năm hơn 1 tỷ đô la.
Cũng không một nơi nào có sức tiêu thụ « khủng khiếp như ở Mỹ » và xét về chỉ số này thì Trung Quốc dù là nền kinh tế thứ hai thế giới nhưng vẫn còn cách xa nước Mỹ đến « nhiều năm với tốc độ ánh sáng » như một nhà báo đã ví von.
Đặc quyền quá lớn của đô la Lý do thứ ba và có lẽ cũng là lợi thế mạnh nhất của Hoa Kỳ là sức hút của đồng đô la. Năm 1964 bộ trưởng Kinh Tế Pháp, Valéry Giscard d’Estaing từng nói, « chừng nào mà đồng đô la còn thống lĩnh hệ thống tiền tệ quốc tế, thì Washington muốn đi vay bao nhiêu tín dụng cũng được ».
Kinh tế trưởng công ty kiểm toán BDO France Anne - Sophie Alsif được tuần báo Le Point trích dẫn cho rằng, ai cũng muốn đầu tư bằng đô la. Giới tư bản trên toàn thế giới đều muốn đầu tư vào Mỹ. Công trái phiếu của Hoa Kỳ vẫn là « sản phẩm tài chính có sức thu hút cao nhất, an toàn nhất ».
Vì thế dù có nợ đến đâu đi chăng nữa, thì bộ Tài Chính Mỹ vẫn dễ dàng huy động vốn và với những điều kiện thuận lợi hơn bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới.
Theo các số liệu chính thức từ Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội Mỹ CBO, trung bình mỗi tháng Hoa Kỳ phải đi vay thêm 155 tỷ đô la và trong 8 tháng đầu năm 2026 bộ Tài Chính đã thanh toán 857 tỷ đô la tiền lãi cho các chủ nợ !
Hãng tin Anh Reuters lưu ý, không một quốc gia nào trên thế giới hàng tuần có thể đi vay thêm 39 tỷ đô la như Hoa Kỳ. Nhưng cũng chính « lợi thế quá mức đó đẩy nguy cơ Mỹ bị thiếu tiền mặt ra xa », bởi vì như chuyên gia tài chính Philippe Trainar nhận định, nếu như « đầu tàu kinh tế và tài chính này của thế giới mà sụp đổ thì coi như là ngày tận thế đã đến ».
Phát biểu lần cuối trước khi rời khỏi chức vụ thống đốc ngân hàng trung ương, Jerome Powell cảnh báo chính quyền về mức nợ của Mỹ đang tăng nhanh và nhất là trước viễn cảnh các giới chức Hoa Kỳ « không có khả năng đảo ngược tình thế » bởi vì, với nợ công 40.000 tỷ đô la có nghĩa trung bình mỗi công dân Mỹ mang nợ 115.000 đô !
Trái với những báo động từ phía các chuyên gia ngân hàng về mức nợ quá lớn của Mỹ, trong mắt đại đa số các nhà đầu tư quốc tế, H
Công nghiệp quốc phòng Iran : Chiến lược phát triển dưới trừng phạt quốc tế
2026/08/18
Chịu nhiều lớp trừng phạt của quốc tế nhất trên thế giới từ năm 1979, Iran đã tìm một hướng đi riêng để cứu vãn nền kinh tế. Bên cạnh ngành dầu khí, sản xuất vũ khí là cột trụ thứ nhì của kinh tế quốc gia Hồi Giáo này. Đâu là những bí quyết để « công nghiệp quốc phòng » trở thành điểm mạnh của nền kinh tế luôn bên bờ vực thẳm ? Giới chuyên gia thậm chí nói đến « những nét đặc thù » trong mô hình công nghiệp quốc phòng Iran.
Từ khi khai chiến với Teheran cuối tháng 2/2026, Washington chủ trương bóp ngạt kinh tế Iran dẫn đến sự sụp đổ của chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng. Sau gần nửa năm xung đột với Iran, tổng thống Trump bắt đầu nóng ruột.
Hôm 09/08/2026 ông cam đoan sẽ « giáng đòn mạnh vào kinh tế Iran ». Bộ trưởng Tài Chính Scott Bessent đe dọa Iran sẽ sớm « hứng chịu những biện pháp mạnh tay chưa từng thấy ». Báo chí bình luận Nhà Trắng không chỉ đe dọa « dội bom, xóa sổ Iran », nay đang nhắm tới những loại vũ khí « kinh tế » để Teheran phải nhượng bộ, đặc biệt là giải tỏa eo biển Hormuz.
Chính sách cấm vận và hiệu quả ? Cuối tháng 7/2026 Mỹ đánh tiếng sẽ áp dụng một loạt các biện pháp trừng phạt mới, phong tỏa kinh tế Iran. Trả lời báo Les Echos chuyên gia về Iran Clément Therme, cộng tác viên Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI nói đến một « kỷ lục » Iran đang nắm giữ về những « lớp » trừng phạt chồng chất khác nhau.
« Có nhiều cấp trừng phát khác nhau : có những biện pháp của cộng đồng quốc tế, của một số quốc gia trong khối phương Tây, của Liên Hiệp Quốc ... Bên cạnh đó là những quyết định đơn phương, nhắm vào một số các tổ chức tư nhân hay của chính phủ, nhắm vào một số nhân vật trong chính quyền, trong giới tướng lĩnh Iran. Về mặt lý thuyết, Iran liên tục bị trừng phạt từ năm 1979 sau vụ Teheran bắt giữ 52 nhà ngoại giao Hoa Kỳ làm con tin ».
Lệnh trừng phạt đa phương hay song phương của cộng đồng quốc tế nhắm vào Iran bao gồm các biện pháp phong tỏa, cấm mua bán dầu hỏa, khí đốt của Iran, cấm cung cấp vũ khí cho quốc gia Hồi Giáo này, cấm xuất khẩu thiết bị và phần mềm cho Teheran, hạn chế các khoản giao dịch tài chính, ngân hàng, cấm thanh toán bằng đô la, cấm đầu tư vào Iran, phong tỏa tài sản của một số cá nhân và doanh nghiệp… Đương nhiên tất cả những biện pháp này đè nặng lên đời sống của người dân Iran.
300 % lạm phát ? Tình hình càng trở nên ngặt nghèo hơn dưới tác động của chiến tranh Ukraina từ 2022, của cuộc xung đột vũ trang 12 ngày đêm với Nhà nước Do Thái hồi tháng 6/2025 và nhất là với cuộc chiến với Mỹ và Israel từ cuối tháng 2/2026. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế thẩm định, GDP của Iran năm nay do tác động chiến tranh sẽ giảm 5,4 %. Teheran cũng thừa nhận vì chiến tranh, lạm phát trong cả năm sẽ ở mức ngạt thở gần 90 %. Tại Washington, Donald Trump nói đến một nền kinh tế của Iran đã « hoàn toàn khánh tận » với lạm phát lên tới 300 %.
Trong mắt chuyên gia kinh tế Ahamad Alavi làm việc cho một tổ chức tại Thụy Điển được báo Deutsche Welle trích dẫn thì cuộc chiến lần này đang đẩy thêm từ 3,5 đến 4,5 triệu dân Iran vào cảnh bần cùng. Nhưng đó không phải là mối quan tâm số 1 của chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo, như Thierry Coville, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS phân tích với báo Les Echos. Người dân có khổ cực, thì cỗ máy kinh tế để kiếm tiền nuôi chế độ vẫn vận hành gần như suôn sẻ :
« Nhìn vào những kết quả từ 15 năm trở lại đây, chúng ta thấy kinh tế Iran đã khổ sở vì các biện pháp trừng phạt. Trung bình lạm phát dao động từ 30 đến 40 % một năm, thế nhưng thực ra chế độ vẫn tồn tại bất chấp áp lực rất lớn của phương Tây. Iran cầm cự được chủ yếu là nhờ hai lĩnh vực : Năng lượng và quốc phòng. Năm 2024 Iran vẫn xuất khẩu 1,5 triệu thùng dầu mỗi ngày, gần như tuyệt đối là để bán cho Trung Quốc. Để xuất khẩu dầu khí, năng lượng thì Iran sử dụng những hạm đội tàu ma, mua bán qua một hệ thống ‘chợ đen’, chấp nhận thanh toán bằng nhân dân tệ của Trung Quốc hay bằng tiền crypto (…) ».
Kỹ thuật lạc hậu Mối bận tâm lớn nhất đối với chế độ Iran là chính sách trừng phạt liên tiếp hạn chế quốc gia này phát triển và tiếp cận với công nghệ mới. Clément Therme, Viện IFRI giải thích :
« Thí dụ như vì không tiếp cận được với công nghệ khai thác năng lượng ở ngoài khơi mà ngành công nghiệp khí đốt của Iran bị tụt hậu, bỏ lỡ cơ hội. Thí dụ này rất tiêu biểu cho cái mà tôi gọi là vì cơ hội bị bỏ lỡ. Iran trả giá đắt cho chính sách dựa trên hệ tư tưởng của chế độ (…) »
Nhưng điểm mạnh của Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Iran là khả năng thích nghi với tình huống. Chuyên gia Coville bên Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược, phân tích, chính những biện pháp trừng phạt kéo dài từ nhiều thập niên qua đã cho phép Teheran đào sâu quan hệ với các đối tác khác, đặc biệt là với Nga và Trung Quốc :
« Đầu những năm 2000 Iran đẩy mạnh trao đổi mậu dịch với các quốc gia trong khu vực. Irak nhanh chóng trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của Teheran. Từ khi chế độ Saddam Hussein sụp đổ, ngoài các sản phẩm chế biến từ dầu ra thì Irak là khách hàng quan trọng nhất. Bên cạnh đó, Iran đã mở rộng ảnh hưởng với Afghanistan, với các quốc gia Trung Á. Thế rồi từ sau 2018 khi ông Trump rút nước Mỹ khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran thì Teheran đã thắt chặt quan hệ với Trung Quốc ».
Drone Shahed, thành công của một sự kết hợp từ 3 yếu tố Cũng chính vì không tiếp cận được những công nghệ mới, với các thiết bị điện tử càng lúc càng tinh vi cho nên Iran tương kế tựu kế : Chuyển sang chế tạo drone giá rẻ và lại dễ sử dụng, không quá tốn kém trong khâu sản xuất và nhất là không cần công nghệ tối tân.
Tháng 9/2022, vài tháng sau khi Nga xâm lược Ukraina, thế giới ngỡ ngàng phát hiện drone Iran trên bầu trời Kiev. Teheran cung cấp drone cho quân đội Nga. Làm thế nào một quốc gia chịu các lệnh trừng phạt trong hơn bốn thập kỷ lại có thể làm thay đổi cục diện của các cuộc xung đột quốc tế? Những yếu tố nào đã tạo nên thành công đó?
Chuyên gia quân sự Akram Kharief nghiên cứu về drone Iran giải thích : Từ 1979 dưới áp lực các lệnh trừng phạt, Teheran đã tìm kiếm những giải pháp để thoát khỏi bế tắc. Bí quyết của Iran để phát triển công nghiệp - đặc biệt là công nghiêp quốc phòng khá đơn giản : Thứ nhất là kết hợp năng lực kỹ thuật trong nước với các đối tác nước ngoài, đứng đầu là Nga.
Thứ hai là khai thác công nghệ trong lĩnh vực dân sự để sử dụng trong các mục tiêu quân sự, « trám vào những lỗ hổng », hậu quả từ lệnh cấm vận quốc tể để lại.
Cuối cùng chọn những giải pháp kỹ thuật đơn giản không đòi hỏi những phụ tùng hay linh kiện quá hiện đại - vốn không thể tiếp cận. Drone Shahed của Iran là thí dụ tiêu biểu nhất cho thấy sự kết hợp thành công từ những yếu tố vừa nêu.
Chuyên gia Julia Tomasso, viện nghiên cứu và chiến lược IRIS, trong một bài tham luận hôm 28/02/2025 (tức đúng 1 năm trước khi Iran bị Hoa Kỳ tấn công), phân tích một cách cụ thể hơn khi cho rằng : Iran biết là không thể chỉ trông cậy vào vũ khí do Nga cung cấp cho nên từ nhiều năm qua đã phải tự lo bằng cách chọn những công nghệ low cost, sử dụng một cách hiệu quả nhất những nguồn lực và phương tiện ít ỏi trong tay, đồng thời thích nghi với môi trường địa chính trị. Chính vì thế mà drone giá rẻ (Shahed 136, Mohajer 6) của Iran hiện đang được xuất khẩu sang nhiều quốc gia, trong đó có Nga và Soudan hay Ethiopia. Giá thành của mỗi đơn vị chỉ vài ngàn đô la.
Về điều mà tác giả bài viết gọi là « tận dụng tối đa những phương tiện đang có » thì điển hình là việc trang bị vũ khí cho tàu chở hàng thành tàu chiến ; dùng mô-tơ xe đạp và xe máy để trang bị cho drone chiến đấu.
Còn chiến thuật mà nhà nghiên cứu Julia Tomasso gọi là « sự nhạy bén trong việc nắm bắt tình hình địa chính trị », bà giải thích : Trước n
« Cứu » đồng yen : Mỹ trung thành với nguyên tắc America First
2026/08/11
Đồng yen Nhật Bản đang mất giá so với đô la Mỹ, tỷ giá hối đoái giữa hai đơn vị tiền tệ này đã rơi xuống mức thấp nhất từ 40 năm nay. Ngày 31/07/2026 Washington và Tokyo « cùng can thiệp » để giữ giá cho đồng yen, vào lúc phải mất 160 yen mới đổi lấy được 1 đô la. « Cứu » đồng yen không chỉ là một cử chỉ « thân thiện » mà Mỹ dành cho một nước bạn.
Tổng thống Donald Trump trước hết muốn tránh để đồng yen « yếu » đe dọa cán cân thương mại của Hoa Kỳ, và trái lại một đồng đô la « mạnh » phá hỏng chính sách khởi động lại cỗ máy công nghiệp do chính ông đề xướng.
Nhật Bản và Hoa Kỳ cùng thông báo, đôi bên đã « đã can thiệp » trên thị trường hối đoái để giữ giá cho đồng yen. Điều đó có nghĩa là Tokyo và Washington đã tung tiền mua vào đơn vị tiền tệ của Nhật. Các nguồn tin báo chí đưa tin Ngân hàng Trung ương Nhật hôm 31/07/2026 đã huy động 36,58 tỷ đô la để mua lại yen. Bất ngờ hơn nữa là, theo tiết lộ của báo tài chính Financial Times, chi nhánh tại New York của Cục Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ Fed cùng ngày đã bán ra « một khối lượng lớn » bằng euro để mua vào đồng yen cho bộ Tài Chính.
Đây là lần đầu tiên từ năm 1998 Fed trực tiếp can thiệp vào tỷ giá hối đoái giữa đồng yen và đô la. Nhờ sự phối hợp này, đồng tiền của Nhật đã tăng giá trở lại (tăng 0,6 % hôm 03/08/2026) vào tuần trước, để rồi lại mất giá trong phiên giao dịch hôm nay 11/08/2026. Điều này phản ánh « áp lực » rất lớn đang đè nặng lên đồng tiền của Nhật, cường quốc kinh tế thứ ba toàn cầu.
Vì sao Mỹ phải can thiệp để giữ giá cho đồng tiền Nhật Bản ?
Mỹ tung hàng chục triệu để mua vào yen không đơn thuần là một cử chỉ « thân thiện để giúp đỡ bạn bè » như tổng thống Trump đã khoe với báo chí. Thực ra, nguyên thủ Hoa Kỳ đã rất thành thật khi nói thêm rằng về mặt tài chính, trong thương vụ này « nước Mỹ cũng có lợi ». Bộ trưởng Tài Chính Mỹ, Scott Besson, mau mắn trấn an thị trường rằng « nếu cần Washington có thể can thiệp thêm một và thậm chí là nhiều lần nữa nhằm điều chỉnh lại tình trạng đồng tiền của Nhật không được đánh giá đúng mức ».
Đằng sau những lời lẽ bóng bảy này bao gồm ba thực tế. Thứ nhất, một đồng yen « rẻ » tạo đà cho xuất khẩu của Nhật. Nhà Trắng không muốn kịch bản này xảy ra nhất là khi thâm hụt mậu dịch của Mỹ với Nhật Bản năm 2025 lên tới 900 tỷ đô la.
Kinh tế trưởng cơ quan tư vấn PwC Stéphanie Villers giải thích trên đài phát thanh tư nhân Radio Classique như sau :
« Donald Trump luôn rất rõ ràng : ông không muốn đô la cao giá. Vì lợi ích của bản thân Hoa Kỳ mà Washington đã can thiệp để giữ giá đồng yen Nhật Bản. Đồng tiền Nhật trượt giá tức là sẽ tỷ giá hối đoái của đô la trên thị trường bị đẩy lên cao. Một đồng đô la ‘mạnh’ bất lợi cho xuất khẩu của Hoa Kỳ. Ông Trump luôn chủ trương thúc đẩy xuất khẩu của Mỹ, tăng sức cạnh tranh cho hàng Mỹ trên thương trường. Nói cách khác, Washington can thiệp và giúp đỡ Nhật Bản, nhưng trước hết là để kích thích xuất khẩu của Mỹ ».
Lãi suất ngân hàng - carry trade
Điểm thứ nhì mà chính quyền Trump muốn tránh bằng mọi giá là một đồng yen mất giá ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách chính sách tài chính của Mỹ. Nhà Trắng muốn giữ lãi suất chỉ đạo ở mức thấp để tạo đà cho tăng trưởng. Nhưng mục tiêu này có thể bị đe dọa nếu đồng yen đổ dốc.
Một đồng yen bị suy yếu như hiện nay là bất lợi cho kinh tế Nhật Bản. Ngân Hàng Trung Ương Nhật sớm muộn gì cũng phải tăng lãi suất chỉ đạo. Hiện tại, lãi suất chỉ đạo của Nhật là 1%, của Mỹ là hơn 3,5 đến 3,75%. Cho đến nay, chính cách biệt này là động lực thúc hối các nhà đầu tư bán bớt yen để mua vào đô la, đầu tư sang Hoa Kỳ. Do vậy nếu Ngân Hàng Trung Ương Nhật tăng lãi suất chỉ đạo, Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ vì tránh để bị xoáy vào lạm phát, cũng sẽ phải tăng lãi suất hay ít là là không thể hạ lãi suất chỉ đạo.
Khả năng Fed tăng lãi suất ngân hàng cũng là một điều mà tổng thống Trump không hề mong muốn.
Nguy cơ Nhật bán công trái phiếu của Mỹ
Điểm thứ ba tối kỵ với Washington là khả năng vì để có thể giữ giá cho đồng yen, tức là phải huy động hàng chục tỷ đô la, Tokyo sẽ buộc phải bán bớt công trái phiếu của Mỹ. Hiện nay, Nhật Bản đang nắm giữ 1.100 tỷ đô la công trái phiếu của Mỹ và là « chủ nợ lớn nhất » của Uncle Sam.
Công trái phiếu của Mỹ nếu bị bán đi « ồ ạt » sẽ bất lợi cho tăng trưởng, kinh tế và tài chính của Hoa Kỳ. Gần đến bầu cử giữa kỳ, tổng thống Trump không muốn lạm phát hay bất kỳ một chỉ số kinh tế tiêu cực nào đè nặng lên lá phiếu của cử tri.
Nhìn từ ba khía cạnh vừa nêu, « cử chỉ thân thiện » mà ông Trump nói đến khi can thiệp để giữ giá đồng yen, chẳng phải do Hoa Kỳ hào phóng hay Nhà Trắng tử tế với nữ thủ tướng Nhật Sanae Takaichi. Washington trước hết bảo vệ quyền lợi kinh tế, tài chính, thương mại của Hoa Kỳ, đúng với chủ trương đặt quyền lợi của nước Mỹ lên trên hết - « America First ».
Dùng euro để mua yen
Hãng tin Anh Reutes trích dẫn nhiều nguồn tin thông thạo từ bộ Tài Chính Mỹ cho biết là để « cứu » đồng yen Nhật Bản, chi nhánh tại New York của Ngân Hàng Trung Ương chủ yếu bán ra đồng euro, đơn vị tiền tệ của châu Âu. Theo giới trong ngành, điều này có nghĩa là chính quyền Trump không bán đi đô la, tránh gây hiểu nhầm là đồng đô la Mỹ đang bị mất giá … bởi vì một đồng đô la « yếu » tuy thúc đẩy xuất khẩu của Hoa Kỳ như Donald Trump mong muốn nhưng đồng thời cũng là mầm mống của lạm phát, kịch bản mà Nhà Trắng « không cho phép xảy ra » khi gần đến bầu cử giữa kỳ, tháng 11/2026.
Reuters lưu ý, trước mắt cả Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu và bộ Tài Chính Hoa Kỳ cùng từ chối bình luận về tin trên. Song việc các giới chức tiền tệ Mỹ dùng đồng tiền chung châu Âu để mua vào yen Nhật Bản để lộ rõ thế cân chênh vênh trong chính sách kinh tế của Washington hiện tại.
Vì sao đồng yen mất giá và đâu là mức độ hiệu quả từ biện pháp can thiệp nhằm giữ giá cho đồng yen ?
Nhìn từ phía Nhật, các nhà sản xuất và xuất khẩu hài lòng với một đồng yen liên tục mất giá từ năm 2020 đến nay. Trong 5 năm, trị giá của đơn vị tiền tệ Nhật Bản so với đô la Mỹ mất đi khoảng 1/3. Bên cạnh đó xứ hoa anh đào phụ thuộc đến hơn 80 % vào năng lượng của nước ngoài. Với chiến tranh Iran và eo biển Hormuz bị phong tỏa, tình trạng bất ổn ở Trung Đông, chiến tranh Ukraina … giá dầu khí bị đẩy lên cao.
Một đồng yen mất giá bất lợi cho các nhà sản xuất của Nhật và cũng là một mầm mống gây ra lạm phát cho nền kinh tế số 3 toàn cầu này.
Điều này diễn ra vào lúc thủ tướng Sanae Takaichi có kế hoạch giảm thuế giá trị gia tăng TVA để tăng thêm mãi lực cho người dân, khuyến khích tiêu thụ. Hệ quả kèm theo là thâm hụt ngân sách và nợ công của Nhật trong tương lai sẽ bị đẩy lên cao.
Báo Nihon Keizai Shimbun cho rằng lo ngại lạm phát và nợ công sẽ là hai yếu tố khiến đồng yen sẽ tiếp tục mất giá. Do vậy, dù Washington và Tokyo có can thiệp để giữ giá đồng yen, hiệu quả cũng sẽ không « lâu bền ». Có lẽ dấu hiệu đầu tiên chứng minh cho điều này là trong phiên giao dịch hôm nay 11/08/2026, đồng yen lại mất giá so với cả đô la và euro, trở lại với tỷ giá khoảng 160 yen đổi lấy 1 đô la, tương tự như trong phiên giao dịch hôm 31/07/2026, trước khi Mỹ - Nhật phối hợp cùng can thiệp.
Kinh tế - An ninh : Châu Âu trước thách thức Mỹ giảm quân số
2026/08/04
Hoa Kỳ đã thông báo kế hoạch giảm quân số tại châu Âu, nơi mà từ sau Thế Chiến Thứ Hai, Washington đã thiết lập các căn cứ thường trực trải dài từ Groenland xuống đến tận Địa Trung Hải. Gần 40 % lính Mỹ đồn trú ở hải ngoại tập trung tại châu Âu, nhất là tại Đức, Ý và Tây Ban Nha. Sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã thiết lập các căn cứ quân sự tại nhiều nước đông Âu như Rumani, Ba Lan, Bulgari và cũng đã mở rộng địa bàn tại vùng Baltic.
Những kế hoạch thu hẹp sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu là một thách thức lớn đối với các đối tác của Hoa Kỳ tại châu lục này cả về kinh tế lẫn an ninh.
Từ đầu tháng 5/2026 bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, rồi tổng thống Hoa Kỳ liên tiếp thông báo kế hoạch « cắt giảm quân số tại châu Âu ». Hôm 18/06/2026 Lầu Năm Góc cho biết đang « xét lại » việc triển khai lực lượng tại các nước châu Âu thành viên NATO (Liên Minh Bắc Đại Tây Dương).
Từ Anh Quốc đến Thổ Nhĩ Kỳ, từ Iceland đến Rumani, nơi Hoa Kỳ đã đặt những cơ sở quân sự, nước nào cũng lo ngại. Đứng đầu trong số này là Đức, nơi có hơn 30 cơ sở quân sự của Mỹ đã hoạt động từ 70-80 năm nay và khoảng 50.000 lính Mỹ đang đồn trú đã thực sự trở thành một yếu tố trong đời sống xã hội và kinh tế của nền kinh tế số một châu Âu này.
Đức và lo ngại mất một phần trong số 50.000 quân nhân Mỹ
Ramstein, miền tây nam nước Đức, là căn cứ không quân lớn nhất của Hoa Kỳ ở hải ngoại. Căn cứ này là cả « một thành phố trong một thành phố » với trường học, bệnh viện ... dành riêng cho các quân nhân Mỹ và gia đình. Rất nhiều đường phố ở Ramstein mang tên các vị tổng thống Mỹ. Tại các cửa hàng, người ta cũng có thể thanh toán bằng đô la bên cạnh đồng euro.
Phóng sự trên đài phát thanh Pháp France Inter của thông tín viên Sébastien Baer từ căn cứ quân sự Mỹ tại thị trấn Vilseck cho thấy quyết định của Washington cắt giảm 5.000 lính Mỹ tại Đức là một tai họa:
« Một góc nhỏ của nước Mỹ, thị trấn Vilseck của vùng Bayern, đông nam nước Đức từ hơn 80 năm nay gắn bó với sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. Với khoảng 6.500 dân cư, Vilseck là nơi mà một lữ đoàn của Mỹ đóng quân, thế nhưng sự hiện diện này có thể sẽ chấm dứt, do Donald Trump thông báo sẽ rút 5.000 lính Mỹ trong thời gian tới. Nào là nước ngọt Coca-Cola, nào là bia Mỹ và sốt BBQ chồng chất ngay lối vào một siêu thị. Travis, một quân nhân Mỹ 27 tuổi từ bang Texas đến, đang chất hàng vào xe, anh nói :
‘Tôi được điều đến đây đã 9 tháng. Tối rất thích nơi này. Phong cảnh ở đây rất đẹp. Tôi thích các món ăn bản địa như xúc -xích, thịt thăn chiên bột. Người dân ở đây thì thân thiện, đi lại cũng dễ dàng. Ở Texas phải lái xe hàng giờ để đi từ nơi này đến nơi khác. Tại đây chỉ chỉ cần 5 phút là tôi đến được một công viên xinh đẹp. Tôi đang học tiếng Đức với ứng dụng Duolingo’.
Travis tìm được một ngôi nhà trên sườn đồi của thành phố, nhà có vườn. Mười ba ngàn quân nhân Mỹ đóng quân ở khu vực này. Từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, kinh tế địa phương phụ thuộc vào sự hiện diện của quân đội Mỹ. Là chủ một tiệm tạp hóa nhỏ của gia đình đã hoạt động từ những năm 1950, Katrin Kredle kể lại :
‘Một trong những người lính Mỹ đầu tiên đến mua hàng của bà ngoại tôi là danh ca Elvis Presley. Khi đang nhập ngũ, anh đến đây mua chuối. Bà tôi rất tự hào được phục vụ một khách hàng như anh. (…) Những người Mỹ đã hoàn toàn hòa nhập vào cuộc sống ở đây. Trẻ nhỏ đi học ở trường hay được gửi trong các nhà trẻ, chúng tham gia các câu lạc bóng đá, các hội đoàn hóa trang trong mùa lễ Carnaval… Rất nhiều người lấy vợ Đức, họ sống ở đây. Thậm chí ở lại hẳn một khi xuất ngũ ».
Do vậy đối với cả thành phố này, thông báo Mỹ rút 5.000 quân khỏi nước Đức là một bất ngờ. Chỉ riêng căn cứ quân sự tại Vilseck mỗi năm đem về 700 triệu euro doanh thu cho chính quyền quyền đia phương.
Valantis, 32 tuổi, vừa từ Anh Quốc đến đây mở một hiệu ăn, chủ yếu để phục vụ các thực khách Mỹ. Nhà hàng của ảnh chỉ cách căn cứ Rose Barracks vài trăm mét. Anh nói :
‘Chúng tôi đã thu xếp tất cả để phục vụ các quân nhân Mỹ, chiều theo khẩu vị của họ. Chúng tôi có món bánh mì kẹp thịt ba chỉ, sốt BBQ và thịt heo xé phay … Nếu người Mỹ bỏ đi thi mọi chuyện sẽ kết thúc. Nhà hàng phải đóng cửa. Tháng trước họ ra nước ngoài một tháng để tập luyện, lượng khách của chúng tôi lập tức giảm đi 70 %’ ».
Nói cách khác, chỉ cần Mỹ rút bớt quân khỏi Đức thì sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực kinh tế của người dân địa phương, không chỉ có doanh thu của giới tiểu thương, mà còn đến cả thị trường địa ốc của những thành phố như Stuttgart, hay Kaiserslautern …. cũng bị tác động lây. Việc làm của hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người tại những địa phương có căn cứ của Mỹ đều sẽ bị ảnh hưởng.
Một kế hoạch được báo trước
Thực ra từ cuối 2025 Nhà Trắng đã báo trước « rà soát lại toàn bộ và sẽ bố trí lại » sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Châu Âu cũng như trên toàn thế giới. Cũng cuối năm ngoái Washington nêu lên khả năng giảm 1.000 quân đang đồn trú tại Rumani. Ngoài thông báo rút 5.000 lính Mỹ tại các căn cứ quân sự ở Đức, giữa tháng 5/2026, Lầu Năm Góc vào giờ chót đã hoãn lại chương trình triển khai 4.000 quân sáng Ba Lan.
Theo giới quan sát được báo Le Monde trích dẫn, cho dù những thông báo từ phía chính quyền Trump gây hoang mang cho các đối tác châu Âu nhưng cho đến hiện tại Lầu Năm Góc vẫn duy trì khoảng 80.000 binh sĩ trên Lục Địa Già. ngay cả trong trường hợp giảm quân số, chỉ để thu hẹp hiện diện quân sự của Mỹ đang từ 80.000 xuống còn 76.000 lính thì « chính quyền Trump cần có sự chấp thuận của Quốc Hội ».
Trên đài truyền hình Arte của Pháp và Đức, chuyên gia quân sự giảng dạy tại đại học Sorbonne Guillaume Lasconjarias nhắc lại, trước Donald Trump, tổng thống Barack Obama từ 2014 đã chủ trương giảm sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu.
Riêng trong giai đoạn 2022-2023, khi Nga đưa quân xâm chiếm Ukraina, nhất thời dưới chính quyền Biden, quân số Mỹ tại châu Âu được tăng lên tới 100.000.
Tác động về an ninh
Nghịch lý ở đây là vào lúc căng thẳng về địa chính trị tại nhiều nơi trên thế giới không ngừng gia tăng, không chỉ vì chiến tranh Iran và xung đột Ukraina, thì Hoa Kỳ lại thông báo các kế hoạch thu hẹp sự hiện diện quân sự.
Về câu hỏi Mỹ giảm quân tại châu Âu sẽ dẫn tới những hệ quả nào về an ninh đối với lục địa này, chuyên gia về quân sự Jean- Baptiste Noé chủ nhiệm tạp chí chuyên đề Conflits lưu ý, ở châu Âu, Hoa Kỳ hiện có hơn 20 căn cứ quân sự thường trực, phần lớn tại các nước Tây Âu như Ý, Đức, Tây Ban Nha hay Anh Quốc … Bên cạnh đó, lính Mỹ được triển khai tại các căn cứ của các nước châu Âu mà chủ yếu là ở các quốc gia từng thuộc Liên Xô cũ.
Trên đài truyền hình Arte nhà nghiên cứu Aurélien Duchêne thuộc cơ quan tư vấn Eurocréative, đặc trách các khu vực Trung và Đông Âu, giải thích vì sao Hoa Kỳ là quốc gia đã thiết lập một mạng lưới các căn cứ ở hải ngoại « dày đặc » tại châu Âu:
« Các căn cứ quân sự của Mỹ ở hải ngoại đóng một vai trò kép : sự hiện diện của lĩnh Mỹ tại một quốc gia như Estonia không làm Matxcơva thay đổi chiến lược nếu Nga muốn xâm chiếm quốc gia vùng Baltic này, thế nhưng Điện Kremlin cũng phải cân nhắc rất kỹ khi biết rằng can thiệp vào Estonia nơi có các đơn vị của Mỹ đồn trú tức là sẽ đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ. Nói cách khác, các căn cứ của Mỹ trong trường hợp này là một công cụ răn đe.
Bên cạnh đó các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại châu Âu còn đóng vai trò hậu cần, là các trạm tiếp liệu … cho các chiến dịch ở ngoài lãnh thổ Mỹ, như trong trường hợp xung đột tại Trung Đông hiện nay (…) Căn cứ Ramstein tại Đức có thể ví như một ‘hàng không mẫu hạm’khổng lồ : đây là nơi có hai sân bay quân sự v
Các hãng xe hơi Trung Quốc ồ ạt chiếm lĩnh thị trường Anh
2026/07/28
Thị trường xe hơi và nay là xe điện (electric car-EV) của Anh có truyền thống bị quốc tế hóa từ lâu, với các tập đoàn Nhật, Hàn, Pháp, Đức và Trung Quốc. Nhưng gần đây, sự xuất hiện của xe Trung Quốc và xe nhãn hiệu châu Âu nhưng do công ty Trung Quốc đầu tư sản xuất trở thành hiện tượng nổi bật.
Các dòng xe Trung Quốc vào Anh tăng nhanh tới mức nào và tại sao người Anh ưa chuộng xe Trung Quốc?
Theo các tạp chí chuyên ngành, từ năm 2024 đến hết 2025, xe hơi mới do Trung Quốc sản xuất đăng ký sử dụng ở Anh đã tăng gần gấp đôi, từ 100 nghìn xe lên gần 200 nghìn, chiếm khoảng 10% xe hơi đăng ký mới ở Anh (2 triệu xe). Điều đáng nói là số bán rất ngoạn mục thể hiện ba điều đặc biệt. Một là các nhãn hiệu xe Trung Quốc từ chỗ mấy năm trước không ai biết đến mà nay đã rất phổ biến. Các tạp chí xe, chương trình TV, mạng xã hội đều tham gia quảng cáo xe Trung Quốc rất mạnh.
Thứ hai là xe Trung Quốc rất đa dạng về chủng loại, về nhãn hiệu chứ không phải chỉ có vài loại từ một nước. Ví dụ như Pháp thường bán sang Anh xe Peugeot, Renault, Nhật thì có Nissan, Toyota, Mazda...Xe Trung Quốc ngay lập tức có ít nhất hơn 10 loại, từ các tập đoàn khác nhau.
Thứ ba là Trung Quốc dẫn đầu về số xe điện EV đăng ký ở Anh. Nếu tính xe Trung Quốc và cả các dòng xe châu Âu nhưng thực tế là sản xuất, lắp ráp, đặt pin ở Trung Quốc, thì tới 27,9% xe EV bán ở Anh là đến từ Trung Quốc.
Cụ thể hơn, các dòng xe Trung Quốc đang ồ ạ vào Anh là gì? Sức cạnh tranh là nhờ rẻ hơn xe các nước khác, hay có gì nổi trội nữa?
Tạp chí xe Motorpoint nêu ra 26 nhãn hiệu xe Trung Quốc hàng đầu đã và sắp vào Anh (26 Chinese car brands coming for the UK market), trong đó có tới 18 nhãn hiệu đã được bán ở Anh. Nổi bật nhất là 4 loại xe:
· Chery Tiggo 8: Được trang Carwow ở Anh bình chọn là Xe của Năm. Chiếc SUV gia đình hybrid cắm sạc (PHEV) này gây ấn tượng với khoang cabin cảm giác cao cấp, tính thực dụng và mức giá cạnh tranh.
· MG4 EV: Được trang What Car? khen là xe điện nhỏ tốt nhất. Các chuyên gia đánh giá là lái ổn, giá rẻ và phạm vi dùng pin khá rộng.
· BYD Dolphin Surf: Được Auto Express nhấn mạnh là một trong những xe điện đô thị hàng đầu, có cabin rộng rãi, trang thiết bị phong phú và giá khởi điểm chưa tới 19 nghìn bảng Anh.
· Jaecoo 7: Từng bị phê phán trên các tạp chí xe hơi Anh, chiếc SUV gia đình dẻo dai này đã trở thành cơn sốt doanh số lớn ở Vương quốc Anh nhờ kiểu dáng sắc nét và khoang cabin công nghệ cao..
Ngoài ra còn Xpeng 6, Changan, SkyWell là các nhãn mác khác đang dần vào Anh... Xe TQ cạnh tranh tốt nhờ giá thấp, từ 3-5 nghìn bảng mỗi chiếc xe mới cùng hạng.
Xin so sánh một chút: Những ai sử dụng một số đồ điện như nồi cơm điện của Xiaomi và đồng hồ điện tử của hãng này nên biết là Xiaomi cũng làm xe hơi động cơ điện và xe này sẽ tới Anh nay mai. Hàng điện tử, từ loa đài, điện thoại thông minh, đồ gia dụng Trung Quốc bán ở Anh đều rẻ hơn 10-15%, đôi khi 20% so với hàng châu Âu. Xe hơi và xe điện cũng vậy. Ví dụ, MG HS của TQ cạnh tranh đồng hạng với Kia Sportage, nhưng bán với giá rẻ hơn, từ 6 đến 8 nghìn bảng.
Người Anh nay đã biết nền tảng cơ khí và công nghiệp Trung Quốc quá mạnh, nên một công ty làm điện thoại, đồng hồ cũng có thể chuyển sang làm ô-tô chỉ trong một vài năm. Người ta nói ở Trung Quốc sản xuất xe hơi nay như làm bánh mì vậy.
Tại sao ngành ô-tô Trung Quốc chọn Anh?
Lý do đầu tiên là thương chiến Mỹ-Trung và Liên Hiệp Châu Âu (EU)-Trung Quốc. Anh là nước duy nhất không áp thuế cao lên xe EV của Trung Quốc nên khi bán vào Anh, các hãng Trung Quốc có biên độ lợi nhuận khác hẳn với việc bán vào Hoa Kỳ và EU. Ví dụ, xe điện Trung Quốc bán vào EU chịu thuế nhập khẩu từ 7,8% tới 35,3% tùy phần trăm vật liệu và công nghệ, còn ở Anh thuế chỉ có 10%.
Lý do thứ nhì là thị trường xe hơi Anh trên thực tế đã lọt vào tay các tập đoàn nước ngoài sau đợt tự do hóa từ mấy chục năm trước. Ở Anh, ngành xe hơi hiện có trị giá thị trường 100 tỷ bảng, tuyển dụng hơn 700 nghìn người, nên là một mũi nhọn của nền kinh tế, nhưng từ lâu nay đều là do các tập đoàn nước ngoài của Nhật, Đức và các nước khác đầu tư và sản xuất. Sự có mặt của các công ty Trung Quốc là chuyện bình thường. Chỉ có điều là họ vào quá nhanh và bán quá tốt.
Lý do thứ ba, các công ty Trung Quốc lâu nay đã mua lại các dòng xe châu Âu, như MG, Lotus của Anh hay Volvo của Thụy Điển. Tôi đi xe Volvo nên biết rằng Geely từ Chiết Giang làm chủ hãng này, xe sản xuất ở Bỉ, lắp vô-lăng tay lái nghịch theo hệ của Anh để bán sang Anh. Chi tiết đó cho thấy tiền đầu tư của Trung Quốc đã có ở châu Âu, gồm Anh, nhiều năm rồi. Tới đây, Geely sẽ bán sang Anh các dòng xe Geely, Zeekr, Farizon, bên cạnh Polestar, Lotus, Smart, Volvo, LEVC đã có mặt.
Ví dụ nữa, MG là tập đoàn truyền thống của Anh được công ty SAIC của Trung Quốc sở hữu và triển khai khá nhiều nhãn hiệu xe ở Anh. Điều đáng nói là một số tạp chí xe của Anh không coi MG là ‘xe Trung Quốc’ nữa mà xếp vào mục xe Made in the UK – Sản xuất tại Vương quốc Anh.
Chiến lược tới đây của các tập đoàn xe Trung Quốc với nước Anh ?
Thị trường Anh được cho là ‘phòng thí nghiệm’ cho công ty xe hơi và xe điện Trung Quốc. Ngoài lý do thuế quan thấp, các công ty xe hơi Trung Quốc có hai chiến lược thâm nhập thị trường Anh.
Một là các nhà chế tạo xe ở Trung Quốc đã làm chủ các thương hiệu mạnh thì họ sẽ nhấn mạnh vào tính truyền thống, như thể họ đã làm một phần của văn hóa xe hơi ở Anh và châu Âu. Ví dụ MG bán xe theo phong cách Anh. Leapmotor, công ty khác của Trung Quốc, thì hợp tác với Stellantis và trình bày hình ảnh họ thuộc đại gia đình xe châu Âu gồm Vauxhall (ở Đức là Opel), Peugeot, Citroën, Fiat… để bán xe ‘quen thuộc’ với người Anh. Từ đó, họ sẽ bán xe sang các nước nói tiếng Anh, dựa vào dòng thông tin tiếng Anh toàn cầu. Đó là một phần của chiến lược marketing và giành thị phần toàn cầu mà Anh Quốc là mắt xích quan trọng.
Hai là chiến lược của các dòng xe rất mới, tên khá lạ, từ Omoda tới BYD, Changan, Xiaomi, Chery, Skywell, GWM (Great Wall Motor-xe Trường Thành)...thì chọn hẳn tương lai của ngành xe điện, trình bày sản phẩm thuộc thế hệ mới, xe EV, plug-in hybrids, bán pin có thời gian chạy được lâu. Hiện nay, xe điện mới chiếm chưa tới 50% xe hơi mới bán ra ở Anh, nên tiềm năng của thị trường Anh còn rất lớn, nhờ chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh của chính phủ. Các công ty TQ đang chờ sẵn.
Có những ý kiến trái chiều nào về xe Trung Quốc ở Anh ?
Có những bài bình luận nói một số loại xe EV của Trung Quốc khi trời lạnh, pin bị hao nhanh hơn mức được quảng cáo. Có loại xe bị chê là vỏ quá mỏng, sơn chưa đạt nên chóng hoen rỉ. Còn theo nhà báo Stuart Masson viết trên trang The Car Expert, nhiều xe mới của Trung Quốc bị chê là có quá nhiều màn hình (screen-heavy), màu sắc nhấp nháy, và thiếu ‘cảm giác châu Âu’ (European feel) khi lái. Vô-lăng xe có khi như là bộ phận đồ chơi điện tử. Xe Trung Quốc cũng nổi tiếng với nhiều tính năng giải trí bên trong, có các app, phần mềm và màn hình nhiều hơn so với xe châu Âu. Nhưng kiểu thiết kế đầy ắp các chức năng điện tử thế chưa chắc đã được người châu Âu thích. Vì thế, Trung Quốc sẽ thử bán ở Anh, thu thập ý kiến khách hàng để cải thiện sản phẩm. Chúng ta biết dân châu Âu đã có cả trăm năm chơi xe hơi nên cách lái, cách ứng xử trong xe là cả một bề dày văn hóa. Đó là thứ người Trung Quốc chưa làm được.
Nhưng Masson viết, sau khi ông đi thăm các nhà máy xe ở Trung Quốc về, phía Trung Quốc hiểu điều này và học rất nhanh cách khắc phục những lỗi sản xuất. Với họ, việc đem vào Anh nhiều loại xe khác nhau, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người dân trong cuộc sống là cách ‘thí nghiệm’ để sau đó cải tiến và bán sang các nước nói tiếng Anh trên toàn cầu.
Anh Quốc gia nhập trở lại Liên Âu: Tiền đề, áp lực và viễn cảnh xa vời
2026/07/21
Tháng 5/2025, một số nhân vật trong Đảng Lao động cầm quyền ở Anh công khai thách thức thủ tướng Kier Starmer. Ra tranh chức lãnh đạo đảng, cả cựu Bộ trưởng Y tế Wes Streeting và thị trưởng Manchester Andy Burnham đều công khai ủng hộ xu thế quay lại Liên Âu (EU).
Mười năm sau Brexit, một xu thế mới đang trỗi dậy trong xã hội Anh, đó là tìm cách quay trở lại mái nhà chung châu Âu, hoặc ít nhất là xích lại gần thị trường Liên Âu để giảm bớt thiệt hại kinh tế. Nhưng điều này khả thi tới đâu và Anh Quốc đang đối mặt với thực tế như thế nào để tái thiết quan hệ với EU? Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang giải đáp một số câu hỏi.
RFI : Câu hỏi đầu tiên, Nguyễn Giang có thể cho biết vì sao chủ đề 'quay trở lại Liên Hiệp Châu Âu' lại nổi lên ngay lúc này trong nội bộ Đảng Lao động Anh?
Nguyễn Giang : "Vâng, đúng ra thì câu chuyện này không xuất hiện đột ngột. Nó tích tụ dần từ áp lực kinh tế nhiều năm qua. Kể từ sau khi hiệp định Brexit có hiệu lực năm 2020, tăng trưởng GDP của Anh tụt hẳn và dai dẳng ở mức thấp. GDP của Anh chỉ tăng 1,1% năm 2024 và 1,3% năm 2025, thấp hơn mức dự báo chính thức là 1,5%. Trong khi đó, các ngành xuất khẩu, nông nghiệp, dược phẩm và công nghệ đều cảm nhận rõ sức nặng của rào cản thương mại mới với châu Âu, khối kinh tế lớn hàng đầu thế giới ngay bên cạnh Anh. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho luận điểm "Brexit là sai lầm" bắt rễ trở lại. Khi ông Kier Starmer bị mất uy tín vì vụ Peter Mandelson, các nhân vật muốn thay ông trong đảng Lao động đều đã nêu ra khẩu hiệu quay lại EU, vì họ đánh vào tâm lý cử tri thấy Brexit gây hại cho kinh tế nhiều. Họ đề xuất một “liệu pháp” là quay lại, hoặc kết nối lại với EU được chừng nào hay chừng đó".
RFI: Như vậy, có phải chỉ có các nhân vật quan trọng trong Đảng Lao động tranh cãi nhau về Brexit và muốn đảo ngược vụ ly hôn với Liên Hiệp Châu Âu vì lý do kinh tế?
Nguyễn Giang : "Thực ra không hẳn. Nếu xét riêng tỷ lệ ủng hộ gia nhập lại EU một cách toàn diện, cử tri của đảng Dân chủ Tự do (Lib Dem) và đảng Xanh còn có con số cao hơn so với cử tri Lao Động. Điều này phản ánh một thực tế phức tạp hơn: liên minh cử tri của Lao Động vừa gồm những người trẻ thành thị ủng hộ châu Âu, vừa gồm những cử tri ở khu vực có tên là 'Bức Tường Đỏ’ (Red Wall), tức là các địa hạt nghèo, đa số thiên tả trong cộng đồng đông người Anh bản địa (da trắng), ở phía Tây Bắc xứ Anh, từng bỏ phiếu Brexit vì thất vọng về kinh tế. Gần đây chính họ lại quay lại ủng hộ xu thế đảo ngược Brexit.
Các hạn chế đi lại, cấm định cư ở châu Âu cũng khiến hàng triệu người dân Anh thấy khổ sở. Bản thân chúng tôi mỗi khi lái xe sang Pháp là phải chờ kiểm tra giấy tờ lâu hơn. Đi nghỉ hè đôi khi trở nên cực nhọc. Đây là những điều khi Anh còn ở trong EU là chuyện không phải nghĩ tới.
Nhưng điều đáng chú ý là trong nội bộ đảng cầm quyền ở Anh hiện nay— tức những người thực sự nắm thẻ đảng — sự ủng hộ gia nhập lại EU lại rất mạnh. Một cuộc thăm dò do Survation thực hiện cho trang LabourList tiết lộ rằng tới 65% đảng viên Lao Động muốn đảng này nêu ra cam kết gia nhập lại EU trong cuộc bầu cử tiếp theo, trong khi chỉ 24% phản đối".
RFI: Xin anh nhắc lại một chút về quan điểm các chính trị gia hàng đầu trong đảng Lao động, gồm cả các ứng viên hàng đầu muốn thay thế thủ tướng Starmer về Brexit và Liên Âu.
Nguyễn Giang : "Đây là điểm nóng nhất của cuộc tranh luận hiện tại. Ba gương mặt nổi bật nhất đang có ba lập trường khác nhau tuy cùng hướng về Liên Âu.
Ông Sadiq Khan, thị trưởng Luân Đôn, là người lên tiếng sớm và thẳng thắn nhất. Ông kêu gọi Anh tái gia nhập cả Liên minh thuế quan lẫn Thị trường chung trước cuộc bầu cử 2029, và sau đó đưa cam kết gia nhập lại EU đầy đủ vào cương lĩnh tranh cử. Ông Khan tuyên bố việc gia nhập lại là "không thể tránh khỏi" và cho rằng Luân Đôn đã chịu thiệt hại "về kinh tế, xã hội và văn hoá" vì Brexit. Xin nhắc ông Khan không ra tranh chức thủ tướng Anh mà chỉ muốn tái tranh cử chức đô trưởng Luân Đôn, một vị trí đầy quyền lực.
Ông Wes Streeting, cựu bộ trưởng Y tế, tuyên bố rằng "rời EU là một sai lầm thảm khốc" khiến nước Anh "giảm sự giàu có hơn trước, kém ảnh hưởng hơn và kém tự chủ hơn so với bất kỳ thời điểm nào trước Cách mạng Công nghiệp." Ông khẳng định Anh "không thể tiếp tục im lặng" và cần "một mối quan hệ đặc biệt mới với EU, vì tương lai của Anh gắn liền với châu Âu và một ngày nào đó sẽ quay trở lại EU." Xin nhắc là Streeting chỉ mới 43 tuổi, nên có vẻ như quan điểm của ông phản ánh suy nghĩ của thế hệ chính trị gia trẻ, sẽ quyết định tương lai Anh Quốc.
Còn ông Andy Burnham, thị trưởng Manchester và ứng viên được kỳ vọng nhiều để lên làm thủ tướng Anh thay ông Keir Starmer, thì có lập trường thận trọng hơn. Dù ông thừa nhận Brexit "đã gây thiệt hại", nhưng ông tôn trọng quyết định "đã được đưa ra trong cuộc trưng cầu dân ý Brexit năm 2016"
RFI: Trong tình hình này, chính phủ của thủ tướng Keir Starmer hiện đang theo đuổi đường lối gì thưa anh?
Nguyễn Giang : "Chính phủ của ông Starmer một mặt thừa nhận “sự tổn hại cho kinh tế Anh do Brexit gây ra”, mặt khác vẫn giữ một ranh giới cứng. Tức là Anh sẽ không gia nhập lại Thị trường chung, không vào Liên minh thuế quan EU, không khôi phục tự do đi lại. Thay vào đó, họ theo đuổi chiến lược "reset" (tái thiết lập quan hệ), tức là đàm phán từng thoả thuận theo từng lĩnh vực cụ thể, đủ gần để xóa bớt rào cản thương mại, nhưng không đủ xa để bị quy là "tái Brexit."
Tại hội nghị thượng đỉnh Anh–EU tháng 5/2025, hai bên đã ký kết một Hiệp ước An ninh và Quốc phòng, đồng thời mở đàm phán về 5 lĩnh vực. Tài liệu của Nghị viện Anh tháng 5 cho biết cụ thể đây là các mảng hai bên đã và đang đàm phán:
Nông nghiệp và thực phẩm: Thoả thuận SPS, thống nhất tiêu chuẩn kiểm dịch động thực vật để nông sản và thực phẩm xuất khẩu sang EU, sẽ làm giảm đáng kể chi phí kiểm tra biên giới. Hàng EU nhập vào Anh cũng có thể rẻ đi cho người tiêu dùng.
Năng lượng: Liên kết thị trường điện năng EU–Anh có thể giúp ổn định giá điện và tăng hiệu quả giao dịch năng lượng xuyên biên giới, một lợi ích thiết thực cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.
Quốc phòng: Thoả thuận về quỹ SAFE của EU mở cơ hội cho doanh nghiệp quốc phòng Anh tham gia các dự án mua sắm chung của châu Âu, qua đó tăng năng lực sản xuất và lấp đầy khoảng trống năng lực quân sự.
Khoa học và giáo dục: Việc tái gia nhập Erasmus+ và duy trì tham gia chương trình nghiên cứu Horizon củng cố vị thế của Anh trong hệ sinh thái nghiên cứu châu Âu.
Công nghệ và đổi mới: Năm 2026, Anh và EU đã bắt đầu đàm phán về khả năng Anh tham gia Quỹ Hội đồng Đổi mới Sáng tạo châu Âu — bao gồm cả Quỹ Scale-up Europe — hướng tới hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ tăng trưởng nhanh."
RFI: Các thỏa thuận từng lĩnh vực này đem lại lợi ích kinh tế cụ thể gì cho Anh?
Nguyễn Giang : "Các ước tính khả quan nhất cho rằng chương trình tương thích các lĩnh vực kinh tế Anh với EU đến năm 2030, nếu làm tốt, có thể đem lại cho kinh tế Anh mỗi năm thêm 26 tỷ tới 50 tỷ bảng, tương đương 1,7% đến 2,2% tăng trưởng GDP. Nếu được như thế thì cũng rất tốt vì kinh tế Anh nay chỉ tăng trưởng ở mức trên dưới 1%. Cộng vào thêm 2% nữa thì ta có một bức tranh kinh tế không hề tệ cho Anh quốc".
RFI: Nhưng vì sao hai bên không thể đẩy nhanh hơn đàm phán để Anh đạt tiến triển nhanh chóng trong quan hệ kinh tế kiểu mới với Liên Âu?
Nguyễn Giang : "Người Anh đã hiểu là Liên minh châu Âu trước hết là một khối thương mại lớn, có sức mạnh vì tầm vóc thị trường của họ, nên họ chơi cứng với Anh và chơi rất thực dụng.
Mỗi mỗi bước xích lại thị trường EU bằng một chính sách “tương thích” đều kèm theo một hoá đơn tiền tỷ mà Anh phải trả. Nói ngắn gọi thì Anh ph
Anh Quốc và chiến lược lấy trí tuệ nhân tạo làm bàn đạp tăng trưởng
2026/07/14
Một năm trước, trong diễn văn khai mạc Tuần lễ Công nghệ Luân Đôn (London Tech Week 09-13/06/2025), thủ tướng Anh Keir Starmer đã nêu ra chiến lược lấy việc phát triển trí tuệ nhân tạo AI làm bàn đạp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2025-2030. Sau một năm lên kế hoạch, với khoản đầu tư gần 100 tỷ bảng vào các trung tâm dữ liệu, vào y tế và giáo dục, ngành AI của Anh đã đạt được tiến bộ gì và giúp cho tăng trưởng kinh tế tới đâu?
Thông tín viên Nguyễn Giang từ Luân Đôn giải thích:
Anh Quốc đánh cược vào AI
RFI : Đầu tiên, xin Nguyễn Giang nói về việc triển khai chiến lược AI của Vương quốc Anh?
Nguyễn Giang : Quan sát những gì Anh quốc đã và đang làm hơn một năm qua, tôi thấy họ đặt trọng tâm của kế hoạch phát triển AI vào các Khu vực Tăng trưởng Ai, tức AI Growth Zones, gọi tắt là AHGZ, với ba mục tiêu: hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo đột phá công nghệ và cân bằng, kết nối các vùng miền của Vương quốc Anh.
Mô hình AI Growth Zones (Khu vực Tăng trưởng AI) tạo ra các cụm siêu trung tâm dữ liệu (hyperscale data centres) và điện toán hiệu năng cao. Chính phủ Anh đã phê duyệt hàng loạt khu vực trọng điểm ở hạt Oxfordshire (Culham - trung tâm đầu tiên), Đông Bắc Anh (Blyth & North Tyneside), xứ Wales (Wylfa) và gần đây nhất là Scotland (khu vực Lanarkshire - tháng 1/2026). Họ chia ra để mọi khu vực địa lý chính của Vương quốc Anh đều có cơ hội tiếp cận AI.
Khu quan trọng nhất là hành lang công nghệ Oxford-Cambridge (thực tế là cùng Luân Đôn lập ra một Tam giác High-Tech). Xin nhắc là từ Luân Đôn tới Cambridge và Oxford khoảng cách chỉ chừng hơn 100 km. Các đại học lớn, kể cả phòng thí nghiệm nguyên tử quan trọng nhất của Anh (Arbington), cũng nằm trong tam giác này. Điều này giảm được chi phí giao thông, hút được nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo điều kiện cho việc kết nối băng thông cho hệ thống điện toán. Nhưng Anh cũng lập các vùng AI Growth Zone ở cả Wales, miền bắc Anh và Scotland là có ý duy trì nhiều động cơ kinh tế cho các vùng đất kia.
RFI: Cho tới nay thì các khoản đầu tư được khu vực tư nhân đăng ký vào các khu vực tăng trưởng AI này là bao nhiêu?
Nguyễn Giang : Mục tiêu chung là phải đạt tới 100 tỷ bảng Anh đầu tư từ khối tư nhân vào hạ tầng AI thông qua cơ chế này. Ở vùng Đông Bắc (North East AIGZ), quỹ đầu tư Blackstone đã cam kết bỏ ra10 tỷ bảng Anh để xây dựng trung tâm dữ liệu tại Blyth, đồng thời mở đường cho 20 tỷ bảng bổ sung từ các đối tác khác. Chính phủ Anh cũng trực tiếp chi ngân sách tài trợ ban đầu hơn 2,5 tỷ bảng để kích hoạt hệ thống điện toán quốc gia.
Điều đáng chú ý là phần cam kết từ cả hai phía. Về phía mình, chính phủ Anh cam kết giá điện đặc biệt cho data centre tại các vùng có thặng dư năng lượng (ví dụ: giảm từ 14 đến 24 bảng/MWh tùy khu vực, tiết kiệm tới 80 triệu bảng/năm cho một trung tâm 500MW). Để đẩy nhanh tiến độ thiết kế các trung tâm dữ liệu, họ ưu tiên đưa chúng vào danh mục Hạ tầng Quốc gia Trọng yếu (Critical National Infrastructure - CNI), cho phép rút ngắn thời gian chờ đấu nối vào lưới điện quốc gia lên đến 5 năm và cắt giảm quy trình phê duyệt quy hoạch từ 18 tháng xuống còn 12 tháng.
Còn về phía các nhà đầu tư cùng đối tác ở địa phương thì họ tìm cách bố trí quỹ đất tối thiểu 100 mẫu Anh (acres) đã được dọn sẵn hoặc đủ tiêu chuẩn sẵn sàng xây dựng trước 2028, cam kết tạo ra hàng nghìn việc làm chất lượng cao (như vùng North East cam kết tạo 5.000 việc làm), và phối hợp với các đại học địa phương (Newcastle, Durham...) xây dựng chương trình đào tạo nhân lực AI.
Họ cam kết sẽ kết nối với các đại học địa phương. Hiện đang làm nghiên cứu trong một đại học ở Luân Đôn và đã dự nhiều khóa học, hội thảo, tôi thấy một xu hướng rõ rệt: các đại học Anh đang xóa bỏ, thậm chí đóng nhiều khoa ở các trường khắp cả nước trong các bộ môn khoa học xã hội, nghệ thuật, ngôn ngữ, nhưng lại đang mở rất nhiều khóa, ngành liên quan đến trí tuệ nhân tạo, từ mảng nghiên cứu, phát triển công nghệ tới ứng dụng Ai trong đủ mọi lĩnh vực. Xem ra đây là tương lai mới cho giáo dục đại học.
RFI: Một câu chuyện nhiều nước nói tới là các trung tâm dữ liệu tiêu thụ điện năng rất lớn. Vậy ở Anh, nguồn năng lượng điện đến từ đâu? Có nằm cạnh nhà máy điện hạt nhân?
Nguyễn Giang : Đúng thế, năng lượng là "nút thắt" lớn nhất của hạ tầng AI, và chiến lược của Anh là áp sát nguồn phát năng lượng sạch quy mô lớn, nhưng không chỉ giới hạn ở điện hạt nhân. Điện nguyên tử không phải tất cả, nhưng đây là một trục xương sống cho AI. Ví dụ điển hình nhất là North Wales AI Growth Zone, nơi được thiết kế cặp đôi chiến lược (strategically paired) nằm ngay cạnh dự án Lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) đầu tiên của Anh tại Wylfa. Sự kết hợp này nhằm cung cấp nguồn điện tải nền (baseload) cực kỳ ổn định và khổng lồ cho các cụm chip AI mà không làm quá tải lưới điện dân dụng.
Ngoài ra thì tại vùng North East (Blyth), các trung tâm dữ liệu dùng nguồn điện đến từ các trạm tiếp bờ của điện gió ngoài khơi lớn nhất thế giới ở Biển Bắc (North Sea) và mua cả năng lượng qua cáp ngầm kết nối thủy điện từ Na Uy. Tại Scotland, họ tận dụng nguồn năng lượng tái tạo thặng dư (gió và thủy điện) vốn thường bị nghẽn, không thể truyền tải về miền Nam.
Các báo Anh gần đây hay đăng các câu chuyện thú vị như nhà nông nào đó ở vùng quê bán trang trại, lò sản xuất bánh mì, trạm xay bột cho công ty Ai để xây data centre. Theo một điều tra của nhà báo Henry Mawhood cho trang báo nghề cá ở Anh thì thực ra câu chuyện không đơn giản như vậy nhưng đúng là các vùng ven biển phía Tây đảo Anh, từ Weston-Super-Mare tới Cumbria (England), rồi miền Nam xứ Wales và duyên hải Đông Bắc Scotland, người ta đang có kế hoạch xây hai thứ: các nhà máy điện nguyên tử mini, các trạm nhận điện qua cáp ngầm từ Bắc Âu (Na Uy) và các trạm đón tuyến cáp truyền dữ liệu xuyên Đại Tây Dương, nối Anh với Hoa Kỳ. Vì thế, đúng là có những nơi nhà nông được mời chào bán lại các miếng đất, nhà xưởng, ít nhất với diện tích 1-2 trăm mét vuông, để chứa data centre. Trong tháng 6 năm nay, có câu chuyện mang tính biểu tượng ở Anh. Thủ tướng Kier Starmer đã thăm một nhà máy xà phòng cũ có 130 năm tuổi ở Warrington, hạt Cheshire, để dự lễ khai trương dự án trung tâm dữ liệu. Tức là họ biến một điểm công nghiệp rất là cũ thành trung tâm dữ liệu, dùng nguồn điện, nước có sẵn.
RFI: Theo anh, công suất cho điện dùng vào trí tuệ nhân tạo ở Anh có đủ không?
Nguyễn Giang : Theo các báo chuyên ngành đánh giá thì điện ở Anh, gồm cả điện nguyên tử, hiện tại là đủ cho lộ trình giai đoạn 1 nhờ chiến lược phân bổ vùng. Ví dụ, riêng trung tâm dữ liệu AI tại Blyth đang tăng tốc để đạt công suất 1,1 GW (Gigawatt) trong vòng 6 năm tới, biến nó thành một trong những cụm dữ liệu lớn nhất châu Âu. Bằng cách đặt data centre tại nơi "nguồn phát" dư thừa, Anh giải quyết được bài toán tổn thất truyền tải và giá điện cao.
RFI: Cho tới nay, việc sử dụng AI trong y tế, tài chính và giáo dục tại Anh ra sao?
Nguyễn Giang : Theo chỉ số tâm lý AI (EY AI Sentiment Index) tính đến giữa năm 2026, bức tranh ứng dụng của Anh như sau:
Trong Dịch vụ Sức khỏe Quốc gia (NHS- tức Y tế công) thì kế hoạch 10 năm của Anh đã đưa AI từ giai đoạn thí điểm sang tích dợp hệ thống toàn diện. AI hiện là "trợ lý số" bắt buộc ở nhiều khâu: các công cụ "Ambient Scribing" (AI ghi âm cuộc thoại bác sĩ - bệnh nhân tự động chuyển thành hồ sơ bệnh án) phổ cập mạnh mẽ; ứng dụng NHS App tích hợp AI thành cổng sàng lọc bệnh tự động. Đặc biệt, Bộ Y tế Anh vừa tung ra mô hình "MHRA AI Airlock / Sandbox" (tháng 6/2026) để thử nghiệm AI trong việc dự đoán tác dụng phụ của thuốc, giúp NHS giảm bớt gánh nặng chi phí 2 tỷ bảng/năm do phản ứng ngược của thuốc gây ra.
Mạnh và sâu hơn là ứng dụng trong tài chính dùng công nghệ số (fintech). Trên thực tế thì tỷ lệ ứng dụng AI ở Anh trong ngành này đã đ
Đô la Mỹ, bàn đạp cho công nghệ Trung Quốc phát triển
2026/07/07
Sau khi « mượn » đô la trong tay các quỹ đầu tư Mỹ làm bệ phóng cho các công ty khởi nghiệp để phát triển công nghệ, Trung Quốc « qua cầu rút ván », áp dụng chính sách bảo hộ để kiểm soát những lĩnh vực mũi nhọn chiến lược. Bắc Kinh không chỉ giỏi đánh cắp bí quyết công nghiệp và công nghệ của Hoa Kỳ mà còn sao chép cả những công cụ pháp lý của Washington để giành lấy thế thượng phong.
Vụ Bắc Kinh hủy thương vụ của đại tập đoàn công nghệ Mỹ Meta mua lại Manus, một công ty khởi nghiệp rất có triển vọng trong công nghệ trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc là trường hợp tiêu biểu, để lộ rõ những nước cờ của Trung Quốc.
RFI Việt ngữ mời chuyên gia về luật tài chính, nhà nghiên cứu về Trung Quốc Isabelle Feng, phó chủ tịch trung tâm nghiên cứu Á Châu Asia Centre, Paris, phân tích về chiến lược phát triển công nghệ cao của Bắc Kinh, về những tính toán của Trung Quốc trong cuộc tranh hùng với Mỹ trên mặt trận high tech và trí tuệ nhân tạo.
Một tháng sau khi công bố những biện pháp giới hạn đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc ở hải ngoại, Bắc Kinh kể từ ngày 01/07/2026 có quyền hủy một chương trình hợp tác giữa một nhà đầu tư nước ngoài với một công ty Trung Quốc, nếu như dự án đó bị coi là « nhạy cảm » và « đe doạ đến an ninh quốc gia ». Giống như Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng viện lý do « an ninh quốc gia » để siết chặt kiểm soát các dự án đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn hay những công nghệ xanh. Luật chơi mới cho phép các giới chức Trung Quốc « kiểm soát lưu lượng vốn và cả các nguồn lực lao động ».
Hai tháng trước khi quy định mới của Trung Quốc giới hạn đầu tư ra nước ngoài có hiệu lực, Meta và Manus đã là những nạn nhân đầu tiên của chính sách này. Cuối tháng Tư vừa qua, vài tuần trước khi tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đến Bắc Kinh và vào lúc thế giới tập trung vào chiến tranh Trung Đông, vào eo biển Hormuz bị Iran phong tỏa, vào nguy cơ nổ ra một cuộc khủng hoảng dầu hỏa và năng tượng toàn cầu, thì tại Bắc Kinh, cơ quan chức năng đã hủy một thương vụ vốn đã hoàn tất gần nửa năm trước đó giữa tập đoàn công nghệ Meta của Hoa Kỳ và Manus đang hoạt động tại Singapore.
Một công ty khởi nghiệp và « gã khổng lồ » Meta Manus hiện được coi là con chim đầu đàn về trí tuệ thông minh, trụ sở ban đầu đặt tại Vũ Hán. Nhưng để có thể thu hút đầu tư của Mỹ và cũng là để lách luật COINS Act 2025 của Hoa Kỳ ( Luật cho phép Hoa Kỳ kiểm soát các khoản đầu tư của doanh nghiệp và nhà đầu tư Mỹ ra nước ngoài, đặc biệt là vào các lĩnh vực công nghệ nhạy cảm ở các « quốc gia đáng quan ngại » như Trung Quốc), hai sáng lập viên đã ngừng hoạt động tại Hoa Lục, sang Singapore hành nghề, dưới danh nghĩa là một công ty khởi nghiệp Singapore.
Điều đó không cấm cản các sáng lập viên của Manus bị triệu tập về Trung Quốc và bị cấm rời khỏi Hoa Lục, trong khi đợi « kết quả điều tra ». Bắc Kinh đang điều tra xem việc Manus bị đại tập đoàn công nghệ Mỹ Meta mua lại có là một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia hay không.
Vì sao quyết định hủy thương vụ Manus bán cho Meta lại là một trường hợp tiêu biểu cho cuộc chiến Mỹ- Trung và đâu là những bài học có thể rút ra từ vụ này về chính sách đầu tư của Bắc Kinh, về cung cách hoạt động của Trung Quốc về tiến trình khởi nghiệp và cất cánh của các công ty Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ ?
Trung Quốc mượn vốn của Mỹ để phát triển RFI : Thân chào Isabelle Feng, báo chí Mỹ như Wall Street Journal hay Bloomberg, New York Times đã chú ý nhiều đến cuộc « liên hôn » ngắn ngủi giữa Meta, công ty mẹ của những Facebook, Whatsapp, Intagram với Manus, một công ty khởi nghiệp ban đầu là từ Vũ Hán. Manus phát triển AI thế hệ mới, với những chức năng như là dùng AI để mua vé xe lửa hay tìm nhà cho thuê … Meta đã chi ra 2 tỷ đô la để thâu tóm Manus. Thủ tục sáp nhập này đã hoàn tất vào cuối năm 2025 và đôi bên đã chính thức hợp tác với nhau từ đó đến nay. Cho dù Manus đang hoạt động với danh nghĩa một công ty Singapore, Trung Quốc vẫn có thẩm quyền hủy giao dịch giữa Meta và Manus. Chúng ta có thể thấy gì từ trường hợp này ?
Isabelle Feng : « Nghiên cứu từ nhiều năm nay về trường hợp của Meta và Manus, tôi có những nhận xét như sau : Manus cũng như rất nhiều các hãng công nghệ khác của Trung Quốc khởi nghiệp nhờ vốn đầu tư của tư nhân bởi vì họ không được nhà nước tài trợ, không được các ngân hàng nhà nước giúp đỡ. Vốn của tư nhân ở đây chủ yếu là vốn từ các tổ hợp đầu tư liên doanh. Cho đến năm 2020, phần lớn những tổ hợp liên doanh này có vốn của Mỹ. Trong trường hợp của tập đoàn ô tô điện Trung Quốc BYD chẳng hạn, ban đầu họ đã phát triển nhờ vốn của một quỹ mang tên là Wang Chuanfu nhưng đến năm 2008 thì bắt đầu mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài dưới dạng một joint venture. Tương tự như vậy, từ Tencent, Alibaba đến ByteDance… cũng đã khởi nghiệp với vốn của các quỹ đầu tư ngoại quốc, trong đó có vốn của các nhà đầu tư Mỹ. Nhưng đến khi những công ty khởi nghiệp đó thành công, các cổ đông bán lại cổ phần để thu lại vốn. Khi đó đến lượt các ngân hàng của nhà nước Trung Quốc can thiệp. Alibaba năm 2014 tham gia sàn chứng khoán Hoa Kỳ, nhưng kỳ thực thì ngay cả ông khổng lồ này cũng do nhà nước Trung Quốc kiểm soát ».
RFI : Nói cách khác, công nghệ của Trung Quốc cất cánh một phần cũng nhờ các quỹ đầu tư của Hoa Kỳ. Bản chất các nhà đầu tư là bỏ vốn vào những thị trường, những lĩnh vực dễ sinh lời, có mức lãi cao và chóng thu hồi vốn. Riêng Manus thì đã được thành lập trong bối cảnh mà Mỹ và Trung Quốc đã lao vào một cuộc chiến thương mại, và nhất là công nghệ.
Isabelle Feng : « Manus là một ca rất thú vị : Được 2 kỹ sư sáng lập năm 2022, trụ sở tại Vũ Hán. Đó cũng là thời điểm quan hệ Mỹ và Trung Quốc đã xấu đi. Cho nên Manus chỉ có thể trông cậy vào vốn đầu tư của tư nhân Trung Quốc. Nhưng rồi để nhanh chóng phát triển, Manus cần vốn của cả các tổ hợp liên doanh tức là phải có vốn của nước ngoài -trong lĩnh vực AI, mỗi dự án đầu tư cần cả tỷ đô la. Chúng ta biết nguồn vốn mạnh nhất là từ Mỹ. Washington nhân danh an ninh quốc gia đã cấm các nhà đầu tư Hoa Kỳ bỏ vốn vào những lĩnh vực nhạy cảm của Trung Quốc. Để lách điều khoản này, Manus trong một sớm một chiều đã đóng cửa cơ sở tại Vũ Hán để đăng ký hoạt động tại Singapore. Với danh nghĩa là một công ty khởi nghiệp của Singapore, Manus đã thu hút chú ý của các quỹ đầu tư – trong đó có Benchmark Capital. Qua Benchmark, Manus đã được Meta chú ý ».
Sự "bất an" trong các công cụ pháp lý của Trung Quốc RFI : Phải chăng một trong những lý do khiến Manus bị Bắc Kinh chú ý đến là do công ty khởi nghiệp này đang nổi lên như diều gặp gió với công nghê AI thế hệ mới ? Trường hợp của Manus đã gây bất ngờ tương tự như hiệu ứng DeepSeek. Tháng 1/2026, một công ty còn ít được biết đến cho ra đời « phiên bản Trung Quốc của ChatGPT », được cho là « thông minh hơn » « gọn nhẹ hơn » « rẻ hơn » và « hiệu quả hơn » những công cụ của Mỹ. Chính vì thế mà Bắc Kinh muốn tránh để một công ty quý giá như Manus vào tay Hoa Kỳ
Isabelle Feng : « Qua việc Bắc Kinh hủy thương vụ liên quan đến Meta và Manus, chúng ta có thể đưa ra những nhận xét như sau : Một là Trung Quốc muốn khẳng định các doanh nghiệp, các kỹ sư Trung Quốc bất luận hoạt động ở nơi nào đều vẫn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Trung Quốc. Nghịch lý ở đây là Trung Quốc đang rất cần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng khi hủy hợp đồng của tập đoàn Mỹ Meta mua lại Manus rõ ràng là họ đang khẳng định chỉ có Bắc
Nắng nóng, hiện tượng thời tiết cực đoan : Thêm một nguy cơ đe dọa tăng trưởng của Pháp
2026/06/30
Thêm một trở ngại cho tăng trưởng của Pháp : Ngoài xung đột Ukraina và Iran đẩy giá nhiên liệu vật liệu và năng lượng lên cao ; Cạnh tranh về công nghiệp, về thương mại cả với Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc, giờ đây là hiện tượng nắng nóng bất thường, thời tiết cực đoan có nguy cơ cướp đi 210 tỷ euro, tương đương với khoảng 7 % GDP, của Pháp trong giai đoạn 2026-2030.
Là một quốc gia trong vùng ôn đới, Pháp hiếm khi phải đối mặt với các đợt nắng nóng bất thường trước khi chính thức bước sang hè. Năm 2026 là một ngoại lệ, ngay từ tháng 5, tháng 6, Pháp đã trải qua hai đợt nắng nóng bất thường. Trong nhiều ngày liên tiếp, một phần lớn nước Pháp đã được đặt trong tình trạng báo động. Các sinh hoạt đều bị chựng lại.
Theo một nghiên cứu của hãng bảo hiểm Allianz Trade, được công bố hôm 28/05/2026, nắng nóng khắc nghiệt tại Pháp và châu Âu đã trở thành một « rủi ro đe dọa tăng trưởng của khu vực này ».
Là một đầu tàu kinh tế của Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có nguy cơ mất 7 % GDP từ nay đến cuối 2030 chỉ vì các đợt nắng nóng càng lúc càng thường xuyên xảy ra và bị ngạt thở dưới những vòm trời oi bức, nhiệt độ dao động từ 35°C trở lên.
Cũng theo nghiên cứu này, Pháp bị nặng hơn một số thành viên khác trong Liên Âu như Đức vì hai lý do : Hiện tượng cực đoan này thường xuyên xảy ra ở Pháp hơn là ở Đức, đồng thời cơ cấu kinh tế Pháp cũng dễ bị ảnh hưởng hơn bởi vì nông nghiệp, ngành xây dựng xây dựng, du lịch...là những điểm mạnh của kinh tế Pháp, nhưng cũng là những lĩnh vực dễ bị những điều kiện khí hậu tác động nhất, như giải thích của kinh tế gia Hazem Krichen, Allianz Trade.
Nước Pháp hoạt động chậm lại Xavier Timbeau, giám đốc Đài Quan Sát về Tình Hình Kinh Tế Pháp OFCE bổ sung thêm vì sao dưới tác động nắng nóng bất thường, các hoạt động kinh tế đều đã « chậm lại » :
« Nắng nóng cao độ dẫn tới tình trạng hơi giống như thời kỳ nước Pháp bị phong tỏa để chống dịch Covid : Trường học phải đóng cửa, bố mẹ học sinh phải ở nhà trông con, phải làm việc từ nhà, nhiều chuyến xe lửa bị hủy, giao thông công cộng bị đình trệ, đi lại khó khăn trong cái nắng nóng cùng cực. Điều này làm giảm năng suất của người lao động. Bên cạnh đó thì nhiều lĩnh vực kinh tế bị tác động trực tiếp như trong ngành xây dựng, công nhân phải nghỉ việc vì trời quá nóng không thể đến các công trường. Các nhà máy điện lực trong tình trạng căng thẳng bởi vì cung bị giảm trong lúc nhu cầu tiêu thụ thì lại rất cao… Tất cả những yếu tố này cộng lại gây thêm những tốn kém cho các doanh nghiệp, cho tư nhân …. Năm 2003, do tác động từ đợt nắng nóng dài ngày, GDP của Pháp bị giảm mất 0,3 % ».
Vẫn theo thẩm định của hãng bảo hiểm Allianz Trade, với nhiệt độ hơn 30°C, năng suất lao động bắt đầu sụt giảm, đè nặng lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đầu tư qua đó cũng bị tác động lây.
Trong hoàn cảnh đó, hệ quả kèm theo là giá cả bị đẩy lên cao. Pháp rất dễ lâm vào tình trạng « stagflation », tức là tăng trưởng chậm và phải đối mặt với lạm phát.
Gánh nặng tài chính của chính phủ Đây cũng sẽ là một gánh nặng tài chính đối với chính phủ khi mà thuế thu vào cho ngân sách của nhà nước sa sút trong lúc các nhu cầu chi tiêu lại tăng thêm. Vẫn theo báo cáo của Allianz Trade, hiện tượng thời tiết cực đoan này đào sâu thêm thâm hụt ngân sách nhà nước. Thuế thu vào có thể bị giảm từ 1,8 % đến 2,2 %.
Song giới trong ngành nhìn nhận là rất khó thẩm định chính xác tác động từ các đợt nắng nóng đối với hoạt động kinh tế. Chỉ biết rằng so với những năm trước, hiện tượng nắng nóng diễn ra vào tháng 7 và tháng 8 khi mà một phần lớn dân Pháp đang nghỉ hè, tức là ít ảnh hưởng đến năng suất lao động và hai tháng hè cũng là thời điểm mà nhiều công trình xây dựng, nhà máy đóng cửa …
Năm nay thì hai đợt nắng nóng đầu tiên diễn ra vào tháng 5 và 6 khi mà dân Pháp vẫn hoạt động bình thường và một số ngành nghề bất đắc dĩ phải cho nhân viên nghỉ việc trong những ngày nóng nhất.
Hai nét đặc thù Trở lại với câu hỏi vì sao Pháp lại là một trong những quốc gia bị hiện tượng nắng nóng tác động mạnh nhất, trong những ngày qua đã có nhiều nhà bình luận chỉ trích Pháp keo kiệt, lạc hậu không chịu trang bị máy điều hòa. Lập luận này không có sức thuyết phục giáo sư kinh tế trường Paris School of Business, Thomas Porcher như ông đã giải thích trên đài phát thanh France Inter hôm 26/06/2026:
« Các công trình kiến trúc tại châu Âu được thiết kế để giữ nhiệt. Chính vì thế mà ở Pháp và châu Âu cho đến nay không được trang bị nhiều máy điều hòa. Khoảng một nửa các công trình xây dựng không được thiết kế để đối phó với hiện tượng nắng nóng. Các thành phố lớn đông dân cư lại càng bí bức, càng dễ bị ngộp thở. Các căn hộ ở dưới mái các tòa nhà cao tầng tích tụ hơi nóng và lại càng ngột ngạt hơn nữa. Thành thử cần phải có cải tạo các công trình từ nhà ở đến văn phòng, trường học… để thích nghi với hiện tượng nắng nóng ».
Nếu như phải trang bị máy điều hòa cho tất cả các căn hộ ở Pháp thì sẽ tốn hết bao nhiêu và đó có thực sự là « chìa khóa » để đối phó với những đợt nắng nóng thường xảy ra hay không ? Nhà báo Dominique Seux phụ trách các mục kinh tế trên nhật báo Les Echos đưa ra những con số cụ thể để trả lời câu hỏi này:
« Nếu phải trang bị máy điều hòa cho toàn bộ 10 triệu căn hộ, nhà riêng trên toàn quốc thì sẽ tốn khoảng 100 tỷ euro. Còn nếu phải cải tạo lại toàn bộ các cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục, công sở, nhà máy, hệ thống giao thông công cộng … thì cần khoảng 500 tỷ euro. Như đã biết ,tại Pháp cũng như châu Âu, các công trình xây dựng được thiết kế để tiết kiệm năng lượng, tức là hóa đơn điện vào mùa đông. Trước hiện tượng nắng nóng càng lúc càng thường xuyên hơn, khắc nghiệt hơn và mỗi đợt nóng có khuynh hướng kéo dài, bắt buộc phải tìm những giải pháp khác để thích nghi. Đương nhiên trang bị máy điều hòa chỉ cho phép làm hạ nhiệt tình hình nhưng không giải quyết được gì nhiều. Còn lại là những khả năng như là cải tạo lại kiến trúc của các căn hộ, điều chỉnh lại giờ giấc làm việc thường ngày để tránh nắng nóng ; trồng thêm cây xanh trên đường phố, trên các mái nhà hay trên tường của những khu chung cư và văn phòng. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn Carbone 4, xanh hóa môi trường cho thành phố đòi hỏi 14 tỷ euro từ nay cho đến năm 2050. So với 100 tỷ hay 500 tỷ euro như vừa nêu, số tiền này quả thực là không quá lớn ».
Cứu môi trường vị lợi ích kinh tế Trong nghiên cứu hôm 28/05/2026, Allianz Trade khuyến khích Paris đẩy mạnh tiến trình « chuyển đổi công nghệ » làm « xanh hóa môi trường ». Vào lúc mà tình trạng ngân sách của Pháp đã khá « tồi tệ », nợ công lên tới 115 % GDP, chính phủ có khuynh hướng giảm đầu tư vào các dự án phi carbon hóa, chính tập đoàn bảo hiểm Allianz lại cho rằng Paris cần hỗ trợ các chính quyền cấp vùng, cấp thành phố để đối phó tốt hơn các hiện tượng khí hậu cực đoan. Đây là giải pháp tốt nhất để cứu vãn tăng trưởng và nhất là hạn chế những thiệt hại mà tình trạng nắng nóng bất thường gây nên.
Thực tế cho thấy rằng, tại Pháp nói riêng, tại châu Âu nói chung, những đợt nắng nóng không chỉ là một « câu chuyện vô bổ về thời tiết nắng, mưa », mà đây là cả một thách thức có thể đe dọa đến tăng trưởng của một quốc gia, thách thức từ hệ thống y tế đến giáo dục khi mà các bệnh viện bị quá tải, khi mà nhà trường phải đóng cửa hay phải dời lại các kỳ thi vì thời tiết không cho phép ….
Bên cạnh đó còn phải tính đến những hậu quả « âm thầm » nhưng cũng rất nguy hiểm mà các đợt nắng nóng hay những hiện tượng thời ti
Podcast sponsorship advertising
Start advertising on Tạp chí kinh tế relevant audience podcasts
You may also like to advertise on these Podcasts

4.711485390
Matt and Shane's Secret Podcast
Matt McCusker & Shane Gillis

4.82525179
Smosh Reads Reddit Stories
Smosh

4.975193749
Small Town Murder
James Pietragallo, Jimmie Whisman

4.71292595
Bulwark Takes
The Bulwark

4.8583398
Didn't I Just Feed You
Stacie Billis and Meghan Splawn

4.4503509
Warfare
History Hit

4.8296701986
Fantasy Footballers - Fantasy Football Podcast
Fantasy Football

4.712837549
True Crime All The Time
Emash Digital

4.8160121996
Watch What Crappens
Ben Mandelker & Ronnie Karam

4.638941162
Modern Wisdom
Chris Williamson