Tạp chí tiêu điểm

Advertise on podcast: Tạp chí tiêu điểm

Categories
This podcast has
25 episodes
Language
Explicit
No
Date created
2020/01/16
Latest episode
2026/04/23
Average duration
11 min.
Release period
8 days

Description

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

Unlock Tạp chí tiêu điểm podcast Email contact info,
Listeners & Audience details

Email contact information

Direct podcast contact details

Listeners

Audience numbers & engagement insights

Audience details

Podcast Insights

Podcast episodes

Check latest episodes from Tạp chí tiêu điểm podcast


Cuộc chiến ''bất cân xứng'' chống Mỹ: Phe Houthi ở Yemen, chỗ dựa đắc lực của Iran
2026/04/23
Trong cuộc chiến Mỹ-Israel chống Iran, bùng lên từ cuối tháng 2/2026, có một ẩn số quan trọng : Phản ứng của lực lượng Houthi. Theo nhiều nhà quan sát, cho dù Houthi chỉ là một cộng đồng thiểu số tại Yemen, nhưng nếu lực lượng này quyết định tham chiến, tác động sẽ rất lớn đến khu vực. Vì sao ? Chiến tranh Iran : Houthi nhập cuộc ngày 28/03/2026 Sau gần một tháng kể từ đầu cuộc chiến, ngày 28/03, lực lượng Houthi tấn công Israel bằng tên lửa. Cuộc tấn công đã được thông báo vào hôm trước : Mục tiêu là để ngăn ngừa Israel và Mỹ leo thang quân sự chống Iran. Trên đài France 24, cựu đại sứ Pháp tại Qatar và Ả Rập Xê Út, Bertrand Besancenot, nhận định: « Đây là một tín hiệu là quan trọng, theo tôi. Tín hiệu này cho thấy, thật không may, Teheran muốn khẳng định chúng ta đang ở trong giai đoạn leo thang xung đột. Do đó, việc lực lượng Houthi bắt đầu tham gia vào cuộc xung đột, bất chấp thỏa thuận ngừng bắn với Mỹ trước đó, rõ ràng có nghĩa là Teheran trên thực tế đã yêu cầu lực lượng Houthi can thiệp. » Từ thời điểm đó đến nay, quân Houthi dùng tên lửa đạn đạo oanh kích Israel ít nhất bốn lần vào các vị trí chiến lược, trong đó đáng chú ý có đợt tấn công ngày 02/04 cùng ngày với đợt oanh kích lớn nhất của Iran nhắm vào Israel từ đầu chiến tranh.   Tấn công Israel và cản trở giao thông ở Hồng Hải để phản đối chiến tranh của Israel tại Gaza Đây không phải là lần đầu quân Houthi tham chiến. Kể từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh của Israel chống Hamas tại Gaza từ cuối năm 2023, để trả đũa vụ tấn công khủng bố của Hamas trên đất Israel, cái tên Houthi đã được thế giới biết đến rộng rãi. Tính đến đầu năm 2024, Houthi dùng ít nhất 40 tên lửa đạn đạo và hàng trăm drone tấn công Isarel, và khoảng 30 tàu thuyền trên biển Hồng Hải, nối liền Địa Trung Hải với Ấn Độ Dương. Ông David Rigoulet-Roze, nhà nghiên cứu tại Viện Phân tích chiến lược Pháp (Institut Français d’Analyse stratégique - IFAS), chuyên gia về Trung Đông và bán đảo Ả Rập, nhận định: « Sau ngày 7/10/2023, lực lượng Houthi là một trong các bên đầu tiên thể hiện ủng hộ về mặt quân sự đối với Hamas trong cuộc chiến ở Gaza. Đã có một kho vũ khí tồn tại dưới thời cựu tổng thống Saleh trước khi bị lật đổ, nhưng rõ ràng hệ thống vũ khí của lực lượng Houthi đã phát triển, nhờ sự hỗ trợ của người Iran, đặc biệt là Lực lượng Vệ binh Cách mạng, và của Hezbollah, giúp Houthi tăng cường khả năng tên lửa đạn đạo. » (Chương trình Arte Les Houthis : l’engrenage continue au Moyen-Orient ? / Lực lượng Houthi: Vòng xoáy bạo lực ở Trung Đông có tiếp tục?). Houthi là ai ? Lực lượng Houthi có tên gọi chính thức là Ansar Allah, tức « những người trung thành với Thượng Đế », được thành lập trong thập niên 1990, sau khi hai miền Yemen thống nhất dưới quyền lãnh đạo của gia tộc Saleh. Houthi là tên của nhà sáng lập phong trào Hussein Badreddin al-Houthi, thuộc bộ tộc Houthi, thành viên một trong ba liên minh bộ tộc lớn nhất ở vùng núi miền bắc Yemen. Nhà sáng lập Houthi thuộc tiểu nhánh Hồi giáo Zaydism, hệ phái Hồi giáo Shia. Zaydism là nhánh tôn giáo chiếm khoảng 20 đến 30% dân số Yemen (tiểu nhánh này có rất nhiều khác biệt so với nhánh imam thứ 12 / Twelver Shi'ism, cũng thuộc hệ phái Shia, là nhánh tôn giáo chủ lưu tại Iran). Phong trào vũ trang của Houthi chống chế độ bị cáo buộc tham nhũng và tàn bạo của gia tộc Saleh thân Ả Rập Xê Út bùng lên vào năm 2003 khi Mỹ tấn công Irak. Năm 2011, cách mạng bùng nổ tại Yemen trong bối cảnh phong trào Mùa Xuân Ả Rập. Tổng thống Saleh bị lật đổ. Nội chiến bùng lên năm 2014, với ba lực lượng chính : (1) phong trào ly khai muốn tái lập nước Nam Yemen, được Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất hậu thuẫn,  (2) chính phủ Saleh lưu vong, được quốc tế công nhận, và (3) người Houthi.   Cách mạng, nội chiến và can thiệp nước ngoài: Houthi tìm hậu thuẫn của Iran Cuộc can thiệp quân sự của liên quân quốc tế do Ả Rập Xê Út đứng đầu, với hậu thuẫn của Mỹ nhằm tái lập chính phủ Saleh, kết thúc với thỏa thuận ngừng bắn năm 2022 dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Gần 400.000 người thiệt mạng tại Yemen, trong 7 năm chiến tranh. Yemen hiện tại được coi là một trong những xứ sở khốn khổ nhất thế giới, với 18 triệu trong số hơn 40 triệu dân bị thiếu ăn trầm trọng, thiếu nước sạch và phương tiện y tế. Lực lượng Houthi hiện kiểm soát khoảng 30% lãnh thổ Yemen, tại các vùng rừng núi hiểm trở, và các địa bàn chiến lược chủ yếu, như các vùng ven biển và vùng giáp biên với Ả Rập Xê Út. Chính trong bối cảnh cách mạng, nội chiến và can thiệp nước ngoài này, quan hệ giữa Houthi và Iran được siết chặt. Bà Agnès Levallois, chủ tịch Viện Nghiên cứu Trung Đông Địa Trung Hải (IReMMO), chuyên về vùng Cận Đông, nhận định (chương trình của Arte) : « Chúng ta hãy trở lại năm 2015, khi Ả Rập Xê Út quyết định phát động chiến tranh chống lực lượng Houthi, nổi lên sau các cuộc biểu tình năm 2011 buộc tổng thống Saleh phải ra đi. Phong trào phản kháng Mùa Xuân Ả Rập 2011 cũng đã lan đến Yemen. Sau khi tổng thống Saleh ra đi, đã có những cuộc đối đầu giữa các lực lượng khác nhau cấu thành nên xã hội Yemen. Lực lượng Houthi là một thành phần của xã hội Yemen, chủ yếu là người Hồi giáo theo hệ phái Shia, đã tìm đến Iran để nhận được các hỗ trợ. Đây là chiến lược được xác lập trong bối cảnh các cuộc nổi dậy sau phong trào Mùa Xuân Ả Rập năm 2011. » Eo biển Bab el-Mandeb, một huyết mạch hàng hải Á – Âu Theo một báo cáo của Liên Hiệp Quốc, lực lượng Houthi vào năm 2024 có khoảng 350.000 binh sĩ. Một lá chủ bài của Houthi là eo biển Bab el-Mandeb, tuyến hàng hải gần nhất nối liền châu Á với châu Âu, nơi trung chuyển của khoảng 10% thương mại hàng hải quốc tế (xem thêm về eo biển Bal el-Mandeb trên trang CNES - Trung tâm nghiên cứu Không gian Quốc gia Pháp). Tướng Dominique Trinquand, cựu lãnh đạo phái bộ quân sự của Pháp tại Liên Hiệp Quốc, nhấn mạnh đến nguy cơ Houthi phong tỏa eo biển: « Điều này có thể dẫn đến hệ quả gì ? Có thể nói một cách đơn giản là xung đột sẽ được mở rộng. Ngoài eo biển Hormuz, còn có một eo biển cực kỳ quan trọng khác là eo biển Bab el-Mandeb ở Hồng Hải. Lực lượng Houthi đã từng gây thiệt hại và làm gián đoạn đáng kể khu vực này trong nhiều năm. Có một lực lượng  hải quân của châu Âu được triển khai để bảo vệ Hồng Hải. Nhưng nếu lực lượng Houthi quyết định nhập cuộc và nếu như họ vẫn có đủ tên lửa để ngăn chặn tuyến đường hàng hải đó, thì xung đột sẽ mở rộng và tình hình sẽ trở nên ngày càng phức tạp hơn, bởi với việc hai eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb ở Hồng Hải bị ngăn chặn, không một con tàu nào có thể đi qua tại khu vực này. » Sẵn sàng tham gia cuộc chiến « bất cân xứng » chống đại cường Cho đến nay, lực lượng Houthi mới tấn công Israel và chưa có hành động ngăn cản tự do hàng hải tại eo biển Bab el-Mandeb, thỏa thuận hưu chiến với Mỹ vẫn được duy trì theo nhiều nhà quan sát, trái ngược với nhận định của cựu đại sứ Pháp tại Ả Rập Xê Út. Chuyên gia Viện Phân tích chiến lược Pháp David Rigoulet-Roze lưu ý, với cuộc tấn công này, lực lượng Houthi muốn bắn tín hiệu đến Mỹ và Ả Rập Xê Út (chương trình Arte) : « Ẩn dưới hành động này, phe Houthi đã ngầm gửi đi một thông điệp đến Mỹ và Ả Rập Xê Út. Cụ thể là lực lượng Houthi có khả năng lập một liên minh với Teheran để phản công. Điều quan trọng cần nhớ là kể từ năm 2015, lực lượng Houthi đã liên tục oanh kích Ả Rập Xê Út bằng tên lửa. Sân bay của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất cũng từng bị tấn công. Ả Rập Xê Út sẽ phải đối đầu với hai địch thủ. Đây là điều không thể bỏ qua, cho dù khả năng hoạt động của lực lượng Houthi vẫn còn bị hạn chế. Việc có thêm mối đe dọa tiềm tàng ở sau lưng, bên cạnh mối đe dọa trực tiếp từ Iran, quả thực là khiến Ả Rập Xê Út lâm vào thế khó. Vì vậy, lực lượng Houthi không chỉ gây
more
Chiến tranh Iran : « Trung Quốc lặng lẽ nhìn Hoa Kỳ tự bắn vào chân mình »
2026/04/16
Kể từ khi bùng phát chiến tranh chống Iran do Mỹ và Israel khởi xướng, Trung Quốc tỏ ra kín tiếng. Bắc Kinh không lên án mạnh mẽ Washington trong cuộc chiến tranh chống Teheran, cũng không hoạt động quá tích cực trên mặt trận ngoại giao. Trung Quốc lặng lẽ quan sát Hoa Kỳ phạm sai lầm, đồng thời củng cố thế tự chủ chiến lược trong nhiều lĩnh vực. Trung Quốc đang có cách nhìn như thế nào về cuộc chiến giữa Mỹ và Iran ? RFI Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn với nhà địa chính trị Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á, đặc biệt là Pakistan, Ấn Độ và thế giới Himalaya, nhà nghiên cứu Đài Quan sát Tân Á-Âu. ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Kể từ khi Hoa Kỳ và Israel phát động cuộc chiến chống lại Iran, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vẫn giữ im lặng. Ông nhận định như thế nào về thái độ này của nhà lãnh đạo Trung Quốc ?  Didier Chaudet : Thực ra, đó là một cách tiếp cận cực kỳ khôn ngoan bởi vì người ta có thể tưởng tượng rằng sự im lặng từ phía Trung Quốc là dấu hiệu của sự bối rối, sự bất lực trong việc đảm nhận vai trò lãnh đạo, nhưng đó là quan điểm của phương Tây. Ý tưởng ở đây là cứ để cho Mỹ tiếp tục phạm sai lầm, hết sai lầm này đến sai lầm khác, và cho phép sự tương phản mà Trung Quốc thể hiện trở nên rõ ràng đối với mọi người, đặc biệt là ở các nước đang phát triển : Trung Quốc không tạo ra vấn đề, Trung Quốc không gây ra các cuộc chiến tranh mới, Trung Quốc không làm bất ổn thế giới hiện tại, chính Hoa Kỳ mới là bên làm điều đó, chính Hoa Kỳ đang phá hủy hệ thống quốc tế mà chính họ đã góp phần tạo ra sau Thế Chiến Thứ Hai. Về phía truyền thông Trung Quốc, trên thực tế họ khá trung lập. Phần lớn các phương tiện truyền thông Trung Quốc có ​sự gia tăng mạnh mẽ các phân tích về Iran ngay sau khi chiến tranh bắt đầu, nhưng trên thực tế, diễn ngôn chủ yếu là trung lập trên các phương tiện truyền thông nhà nước và cả trong giới blogger. Có lẽ trong giới blogger, có một chút thiên về ủng hộ Iran hơn, chỉ trích phương Tây, chủ nghĩa tân đế quốc, và thiên về chủ nghĩa nhân đạo hơn. Có thể có một vài tiếng nói rải rác với lập trường ủng hộ Mỹ hơn, nhưng chúng có rất ít ảnh hưởng hiện nay. Đã có một thỏa thuận ngừng bắn và một vòng đàm phán ngắn giữa Hoa Kỳ và Iran tại Islamabad, Pakistan. Các cuộc đàm phán này, tuy đã thất bại, nhưng có nhiều lời bàn tán về vai trò kín đáo của Trung Quốc trong các cuộc hòa giải của Pakistan. Sau đó, CNN dẫn lời các nguồn tin tình báo Mỹ cho biết Trung Quốc đang chuẩn bị gửi vũ khí cho Iran trong những tuần sắp tới. Và do vậy tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa áp thuế Trung Quốc lên mức 50% nếu nước này gửi thiết bị quân sự cho Iran. Theo ông, Trung Quốc đang tính toán gì trong ván cờ này ? Didier Chaudet : Thực ra, ở đây, chúng ta lại dựa vào một nguồn tin của Mỹ chỉ trích Trung Quốc, nên chẳng có gì mới mẻ cả, điều đó khá kinh điển. Chúng ta nhớ rằng chính những phương tiện truyền thông Mỹ đã từng nói với chúng ta rằng có vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Irak. Vì vậy, đó là lý do tại sao tôi khá thận trọng về loại chuyện này. Tuy nhiên, từ một quan điểm rất thực tế, điều đó sẽ có lý, bởi vì trên thực tế, mà không cần đi quá xa, không cần cung cấp một lượng vũ khí khổng lồ, nếu Iran có thể tự vệ và tự vệ tốt, người Mỹ sẽ buộc phải quay lại bàn đàm phán. Vậy trên thực tế chuyện gì đã diễn ra ở Islamabad ? Pakistan đã làm một khối lượng công việc khổng lồ. Họ không chỉ gián tiếp dựa vào Trung Quốc, mà còn dựa vào một liên minh các quốc gia tầm trung trong thế giới Hồi giáo, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út và Ai Cập. Họ đã mời ngoại trưởng các nước này đến Islamabad. Một khi ngoại trưởng bốn nước đã có một thỏa thuận, lãnh đạo ngoại giao Pakistan đã đến Trung Quốc để trình bày chi tiết những gì đã được thảo luận giữa bốn bên. Vì vậy, trên thực tế, đã có sự ủng hộ kín đáo từ Trung Quốc đối với khả năng đối thoại, và cốt lõi khu vực Trung Đông Hồi giáo vẫn còn tương đối độc lập và phần nào có tổ chức đang cùng nhau tìm kiếm hòa bình. Nhưng Hoa Kỳ chỉ cho liên minh này 24 giờ. Từ góc nhìn của Hoa Kỳ, điều này khá nan giải vì nó chứng minh rõ ràng rằng họ vẫn đang hoạt động trong khuôn khổ đơn cực. Họ muốn áp đặt quan điểm của mình. Điều Mỹ muốn từ Iran là biến nước này thành một quốc gia giống như Venezuela, một dạng thuộc địa bán ngoại giao. Điều này không hiệu quả với Iran vì Iran không phải là Venezuela. Iran không bị kiểm soát bởi một người duy nhất, đó là một cấu trúc, và dù quý vị thích hay không, tôi cho rằng cấu trúc đó vẫn được ủng hộ bởi ít nhất từ 20-30 đến 35% dân số Iran, những người chia sẻ với chương trình nghị sự chống đế quốc. Vì vậy, người Iran có khả năng tự vệ, và trên thực tế, toàn bộ chiến lược quân sự của Iran trong khoảng 25 năm qua là nhằm củng cố Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Pasdaran). Khi chúng ta nói rằng quân đội chính quy đã bị đánh bại, chúng ta đã biết điều đó vì quân đội chính quy thực sự không nhận được nhiều tiền từ nhà nước Iran. Nhà nước Iran biết rất rõ rằng họ không thể tự mình chống đỡ trong một cuộc chiến với Hoa Kỳ.  Tuy nhiên, họ muốn đảm bảo rằng tình hình trở nên bất khả kháng đối với Mỹ đến mức họ sẽ thua trong một cuộc chiến tranh xâm lược. Và đó là lý do tại sao Lực lượng Vệ binh Cách mạng có tất cả các nguồn lực quân sự cần thiết. Nhưng ngày nay, một thất bại nhanh chóng và hoàn toàn của Iran sẽ thực sự là một vấn đề cho cả Nga và Trung Quốc. Tôi nghĩ nhiều người ở Trung Quốc rất thận trọng. Trên thực tế, họ không nhất thiết muốn giúp đỡ nhiều. Có một cuộc tranh luận nội bộ về việc liệu vũ khí có được gửi đến Iran hay không; tôi không chắc chắn 100%. Điều đó sẽ không quá sốc, thậm chí còn khá thực tế. Nhưng quý vị cũng thấy Trung Quốc cực kỳ thận trọng trong cách họ xử lý mọi việc. Quả thực, do thái độ của Mỹ, những người muốn có lập trường quyết liệt hơn và chống đế quốc ở Bắc Kinh cuối cùng cũng có thể lên tiếng vì cách tiếp cận cực đoan của Trump khiến một số người Trung Quốc bắt đầu nghĩ rằng, « Nhưng xét cho cùng, đúng vậy, một chút chiến tranh du kích chống phương Tây không hẳn là một ý kiến ​​tồi. » Trong trường hợp Hoa Kỳ không mở lại được eo biển Hormuz nhưng Tậ Cận Bình thuyết phục được Iran làm điều đó, hậu quả nào cho Washington và các nước vùng Vịnh ? Liệu Trung Quốc có giữ thế chi phối trong bất kỳ giải pháp ngoại giao nào không ? Vài nếu Bắc Kinh có thể giữ vai trò bảo lãnh, đổi lại họ sẽ đòi hỏi điều gì ? Didier Chaudet : Trên thực tế, cách tiếp cận của Trung Quốc giống như những gì người ta đã thấy trong các hoạt động ngoại giao khác ở Trung Đông, ví ụu như khi Bắc Kinh đưa Iran và Ả Rập Xê Út xích lại gần nhau hơn, mục tiêu là nhằm đối xử với các bên khác như người lớn, chứ không phải như trẻ con bị ép buộc, bằng cách nói rằng, « nếu quý vị muốn hòa bình, chúng tôi sẽ giúp đỡ, chúng tôi sẽ đóng góp ». Hơn nữa, trong vụ việc này, Trung Quốc có một tác động khá khiêm tốn, vì chính nền ngoại giao Irak đã thúc đẩy sự hòa giải, Trung Quốc chỉ đơn giản ủng hộ. Ở đây, cách tiếp cận cũng tương tự, « Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ ổn định ». Tất nhiên, nếu mọi việc có thể được giải quyết bằng con đường ngoại giao, Trung Quốc chắc chắn sẽ ủng hộ vì họ cần duy trì hiện trạng này. Không chỉ họ, mà tất cả các quốc gia châu Á – Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc – những quốc gia không nhất thiết là bạn thân của Trung Quốc ở châu Á, trên thực tế cũng đang đứng về phía Trung Quốc. Do vậy, nếu tình hình vẫn tiếp tục như hiện nay , nếu eo biển Hormuz không được mở cửa – và thính giả ở Việt Nam và Pháp thực sự cần phải tính đến điều này – trong vài tháng nữa, chúng ta sẽ nghe về nạn đói ở các nước phía nam, và
more
Bầu Quốc Hội Hungary: Mô hình ''dân chủ phi tự do'' của Orban có thể sụp đổ?
2026/04/09
Cuộc bầu cử Quốc Hội Hungary ngày 12/04/2026 thu hút sự chú ý không chỉ tại châu Âu, mà đặc biệt là ở Mỹ, chưa kể đến Nga. Ngay trước thềm bầu cử, phó tổng thống Mỹ J.D. Vance đã đến Budapest, để trực tiếp bày tỏ ủng hộ và vận động cho đảng của thủ tướng Viktor Orban, đang có nguy cơ thất cử, theo một số thăm dò dư luận. Theo giới quan sát, cuộc bầu cử này là một trắc nghiệm quan trọng đối với mô hình « dân chủ phi tự do », mà thủ tướng Orban được coi là người đã đặc biệt thành công trong việc triển khai, với hơn 16 năm cầm quyền liên tục. Orban, niềm cảm hứng của các lực lượng cực hữu, từ châu Âu đến Donald Trump Trả lời RFI tiếng Việt, ông Steven Forti, chuyên gia về chủ nghĩa phát xít và các đảng phái cực hữu châu Âu, giảng viên chuyên ngành lịch sử đương đại, Đại học Tự trị Barcelona - Universitat Autònoma de Barcelona (Tây Ban Nha), cho biết tầm quan trọng của phe cầm quyền tại Hungary đối với thế lực cực hữu Mỹ, được coi là đã góp phần đáng kể vào việc xác lập chính sách đối nội của chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 : « Trong 10 năm qua đã có nhiều chuyến đi của các trí thức, nhà báo và chính trị gia Mỹ đến nước Hungary của Orban. Không chỉ với việc các thành viên của chính quyền Trump, như ngoại trưởng Rubio hay phó tổng thống Vance đến Hungary gần đây. Đã có những trí thức như Rod Dreher, nhà báo như Tucker Carlson, và nhiều trí thức – nhà hoạt động cực hữu ủng hộ Trump, như Christopher Rufo. Orban đã bổ nhiệm nhiều người Mỹ làm giám đốc, thành viên của các viện của chính phủ Hungary, trong đó có Gladden Pappin làm chủ tịch của Hungarian Institute of International Affairs. Những người cực hữu trẻ tuổi như Pappin, sau thời gian hoạt động ở Hungary đã trở về Mỹ, xuất bản các bài viết, vận động hành lang, đưa các thành viên khác đến Budapest. Vì vậy, đã có một mối quan hệ rất ổn định, rất mạnh mẽ. Điều này cũng thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa nước Hungary của Orban với viện nghiên cứu mang tính biểu tượng, như Heritage Foundation, một tổ chức rất quan trọng và nổi tiếng, vì đã soạn thảo Project 2025, chương trình hành động năm 2025, mà Trump ít nhiều đã thực hiện trong năm đầu nhiệm kỳ thứ hai. Đọc thêm - Mỹ có thể chuyển sang chế độ "bán độc tài" nếu Trump tái đắc cử, thực thi "Project 2025" Có thể kể tên các tổ chức cực hữu Mỹ khác như Viện Nước Mỹ trên hết - America First Institute, viện Claremont Institute, hay các tổ chức như CPAC - Conservative Political Action Conference - Hội nghị Hành động Chính trị Bảo thủ, thường tổ chức các cuộc gặp mặt của cánh hữu và cực hữu của Mỹ và thế giới. Hội nghị của CPAC đã được tổ chức hàng năm tại Budapest kể từ năm 2022, cũng như tại Brazil năm 2019, sau chiến thắng của ứng viên tổng thống cực hữu Bolsonaro, hay tại Achentina năm 2024, sau chiến thắng của ứng viên tổng thống cực hữu Javier Milei. » Tháng 7/2024, Viktor Orban lập « Những người yêu nước vì châu Âu » (Patriots for Europe, gọi tắt là PfE hay P4E), một nhóm nghị sĩ cực hữu mới tại Nghị Viện Châu Âu. Nhóm này nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị lớn thứ ba trong Nghị Viện Châu Âu, với 84 nghị sĩ (sau nhóm các đảng cánh hữu Nhân dân Châu Âu EEP, với 185 ghế, và nhóm các đảng cánh tả Xã hội - Dân chủ S&D, với 135 ghế). Đảng phái tham gia gồm FIDESZ của Orban, đảng cực hữu Pháp Mặt trận Dân tộc RN, đảng Liên đoàn Ý của Matteo Salvini, đảng ANO của CH Séc, đảng Tự do Hà Lan (PVV) của Geert Wilders, phong trào Chega của Bồ Đào Nha, đảng Vox của Tây Ban Nha, đảng Nhân dân Đan Mạch và đảng cực hữu Vlaams Belang của vùng Flanders (Bỉ) đòi độc lập. Đảng RN Pháp, với 30 nghị sĩ, là đảng lớn nhất.  Đảng FIDESZ của Orban chính thức bị khai trừ khỏi nhóm cánh hữu châu Âu EEP vào năm 2021. Theo nhà nghiên cứu Steven Forti, mô hình « Dân chủ phi tự do » của Orban đã có nhiều điều kiện thuận lợi để củng cố vị thế tại châu Âu một phần không nhỏ do được nhóm đảng cánh hữu châu Âu EEP bảo trợ trong một thời gian dài. « Dân chủ phi tự do » tuyên chiến với « dân chủ tự do »... Năm 2014, bốn năm sau khi lên cầm quyền, thủ tướng Orban xây dựng mô hình dân chủ « phi tự do » tại Hungary. Dân chủ phi tự do vốn là một thuật ngữ do nhà chính trị học người Mỹ Fareed Zakaria xác lập trong thập niên 1990, để mô tả một chế độ dựa trên việc tôn trọng kết quả bầu cử dân chủ, nhưng lại bỏ qua các khía cạnh khác của thể chế dân chủ, lợi dụng các công cụ dân chủ cho các mục đích « phi tự do » (như sửa đổi Hiến pháp hoặc kiểm soát việc bổ nhiệm để thâu tóm quyền lực). Công khai khẳng định chủ trương « dân chủ phi tự do », Orban trở thành thế lực đi tiên phong của phe cực hữu, trong cuộc chiến chống lại các định chế dân chủ tự do của Liên Hiệp Châu Âu. Tháng 2/2025, phát biểu của phó tổng thống JD Vance tại Diễn đàn an ninh Munich (ít tuần sau khi Trump lên nắm quyền nhiệm kỳ 2), đã gây chấn động các đồng minh châu Âu. Ông Vance rời hội trường, bỏ qua bài phát biểu của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, sau khi đã trực tiếp ủng hộ các thế lực cực hữu tại châu Âu, lên án Bruxelles, khẳng định « không phải Nga, không phải Trung Quốc » là mối đe dọa đối với Châu Âu, mà là việc Châu Âu « từ bỏ các giá trị cơ bản của mình ». Chiến lược An ninh Quốc gia của Mỹ, công bố đầu tháng 12/2025, chính thức khẳng định chiến lược hậu thuẫn các thế lực cực hữu châu Âu, chia sẻ các giá trị chung với nước Mỹ của Donald Trump, khi nhấn mạnh Châu Âu đang có nguy cơ rơi vào tình cảnh « văn minh suy tàn » trong hai thập niên tới. Ông Sébastien Maillard, cố vấn đặc biệt tại Viện tư vấn Jacques Delors (Paris), nhận định, văn bản này « lấy cảm hứng từ phong trào MAGA (Make America Great Again), khẩu hiệu tranh cử của Donald Trump, đánh dấu sự kết thúc của tình đoàn kết xuyên Đại Tây Dương và xác nhận nguy cơ Mỹ can thiệp chính trị  vào châu Âu ». Đọc thêm - Hiểm họa lớn nhất 2026: ''Cách mạng chính trị'' của phe Trump phá vỡ nền dân chủ Mỹ ... Orban giúp Nhà Trắng đẩy « các đồng minh châu Âu » vào chân tường Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, hoạch định chính sách ở Hungary, được Orban tài trợ và thành lập sau chiến thắng năm 2010, có mối quan hệ rất chặt chẽ, rất mạnh mẽ với các tổ chức cực hữu của Mỹ, và ắt hẳn đã có nhiều đóng góp vào việc định hình chính sách của chính quyền Trump đối với Châu Âu. Nhà nghiên cứu Steven Forti cho biết : « Ví dụ như Viện Danube, trung tâm Centre for Fundamental Rights, phiên bản Hungary của CPAC, cũng như các tổ chức quan trọng khác như Học viện Matthias Corvinus Collegium. Đây là một cơ sở đại học do Orban kiểm soát, với hơn 7.000 sinh viên mỗi năm và có hơn 25 chi nhánh, không chỉ ở Hungary mà còn ở các nước láng giềng như Rumani và Ukraina, cũng như ở Vienna, Bruxelles, và có thể ở cả Luân Đôn.  Học viện Matthias Corvinus Collegium còn là một viện tư vấn chính sách, cùng với các viện nghiên cứu chính sách khác, như Ordo Iuris của Ba Lan, đã trình bày tại trụ sở của viện tư vấn Heritage Foundation, Washington, một báo cáo về tương lai của Liên Hiệp Châu Âu, hay nói đúng hơn là về sự cáo chung của Liên Hiệp Châu Âu. Sự trao đổi ý tưởng, phối hợp các hoạt động chính trị giữa hai bên đã diễn ra rất mạnh mẽ trong 10 năm qua. » Đọc thêm - Hungary : Viktor Orban một mình đối đầu với Liên Hiệp Châu Âu 4 nhiệm kỳ của Orban: Thất vọng của dân Hungary và sự trỗi dậy bất ngờ của Peter Magyar Sau 16 năm cầm quyền liên tục 4 nhiệm kỳ, thủ tướng Orban xác lập được một ảnh hưởng lớn trong giới cực hữu phương Tây, và đặc biệt là tiếng nói của Orban có vai trò quan trọng trong chính sách của Nhà Trắng với châu Âu thời Donald Trump, tuy nhiên, về đối nội, uy tín của Orban và FIDESZ có xu hướng giảm mạnh. Lạm phát tăng khoảng 50% từ 2020 đến 2025. Hungary trở thành một trong các nước có thu nhập thấp nhất châu Âu, sau khi đã từng là một nền kinh tế ở nhóm khá trong khối Cộng sản Đông Âu trư
more
Pakistan có thể hóa giải xung đột Mỹ - Iran ?
2026/04/02
Xung đột giữa Iran và liên quân Mỹ - Israel nay đã kéo dài sang tháng thứ hai, gây bất ổn cho nguồn cung năng lượng và kinh tế toàn cầu. Trong tình cảnh này, Pakistan, một tác nhân mới, đã bất ngờ xuất hiện và được cho là có tiềm năng hòa giải giữa Mỹ và Iran. Ngày 31/03/2026, Trung Quốc và Pakistan đề xuất thỏa thuận gồm 5 điểm nhằm chấm dứt chiến tranh giữa Iran và liên minh Mỹ - Israel. Trước đó, ngày Chủ Nhật, 29/03, Islamabad tuyên bố sẵn sàng tiếp đón các cuộc đàm phán giữa Washington và Tehran sau nhiều ngày làm sứ giả giữa hai bên. Vì sao lại chọn Pakistan ? Đâu là những lợi thế và những rủi ro cho quốc gia Nam Á này trong vai trò trung gian hòa giải ? Trung Quốc và Ấn Độ có vị thế ra sao trong ván cờ ngoại giao này ? RFI Tiếng Việt có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung Á và Nam Á, Didier Chaudet, chuyên gia về Pakistan, Ấn Độ, thuộc Đài Quan Sát Tân Á-Âu.  ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Đây dường như không phải là lần đầu tiên Islamabad được Washington đề nghị làm trung gian hòa giải ? Didier Chaudet : Đúng vậy. Trên thực tế, vai trò trung gian của Pakistan có lịch sử lâu dài. Nước này đã từng giữ vai trò cầu nối giữa Mỹ và Trung Quốc trong những năm 1970. Sự xích lại gần giữa hai nước để chống Liên Xô một phần là nhờ sự hỗ trợ của Islamabad. Sau đó, chính là thông qua Pakistan mà Hoa Kỳ đã có thể thực hiện chính sách của họ ở Afghanistan vào những năm 1980. Và gần đây hơn là tiến trình hòa bình với phe Taliban ở Afghanistan, vốn dĩ đã được khởi động ngay từ thời chính quyền Trump đầu tiên, và một lần nữa, trong hồ sơ này, Pakistan đã rất tích cực tham gia. Lần này, trong cuộc xung đột vũ trang giữa Iran và liên minh Mỹ - Israel, vì sao Pakistan lại được chọn để làm trung gian hòa giải giữa Washington và Teheran ? Didier Chaudet : Bởi vì Pakistan là một trong số ít các quốc gia có nhiều đòn bẩy đáng kể đối với chính quyền Trump và chế độ hiện tại ở Iran. Một mặt, Pakistan là quốc gia có số người Hồi giáo theo hệ phái Shia đông thứ hai  thế giới, chỉ sau Iran. Mặt khác, Pakistan đã vun đắp mối quan hệ mạnh mẽ với chính quyền Trump, vốn dĩ rất biết ơn quốc gia Nam Á này vì hai thắng lợi quan trọng : Thứ nhất, Pakistan đã bắt giữ một phần tử thánh chiến thực hiện cuộc tấn công khủng bố nhắm vào tòa đại sứ Mỹ ở Afghanistan trong thời gian triệt thoái quân Mỹ. Thứ hai là Pakistan đã biết cách nhấn mạnh tầm quan trọng hành động can thiệp của Washington trong việc giảm căng thẳng giữa New Dehli và Islamabad vào năm 2025. Thực tế là, mỗi lần như vậy, Pakistan đều tự xác định vị thế của mình theo cách có thể hài lòng chính quyền Trump, nhưng đồng thời nước này cũng có các mối quan hệ lịch sử, những kết nối nhân văn với Iran, thông qua cộng đồng người Hồi giáo hệ phái Shia. Bên cạnh đó, Pakistan không bị coi là một quốc gia liên minh với Mỹ và càng không phải với Israel, bởi vì Islamabad không công nhận Israel. Vì vậy, Teheran có thể cảm thấy phần nào tin tưởng vào Pakistan. Ngoài ra, không giống như các quốc gia Vùng Vịnh, Pakistan không có căn cứ quân sự nào của Mỹ. Phía Teheran vì vậy có thể dễ dàng liên lạc với Islamabad. Chính quyền Trump cũng cảm thấy thoải mái trong mối quan hệ với Pakistan, đặc biệt là với quân đội nước này. Nhìn chung, quốc gia Nam Á này có thể kết nối dễ dàng và suôn sẻ giữa Teheran và Washington. Theo ông, đâu là lợi ích và rủi ro tiềm tàng cho Pakistan khi chấp nhận đóng vai trò trung gian hòa giải cho Mỹ và Iran ? Didier Chaudet : Tôi nghĩ rằng Pakistan rất muốn can thiệp vào hồ sơ này. Là một nước láng giềng, Pakistan có chung đường biên giới với Iran dài gần 900 km. Hai nước này còn có chung một vấn đề : Đó là chủ nghĩa dân tộc ly khai người Baloch, một cộng đồng sắc tộc sinh sống chủ yếu tại Iran, Afghanistan và Pakistan. Những phong trào ly khai này thường xuyên vượt biên giới và đã gây ra nhiều rắc rối giữa Iran và Pakistan trong quá khứ. Vì vậy, nếu chẳng may Iran sụp đổ, Pakistan có nguy cơ nhìn thấy sự ra đời một nhà nước Balochistan độc lập, hay tệ hơn nữa là hỗn loạn bùng phát ở biên giới. Ngoài ra, Pakistan còn phụ thuộc vào nguồn năng lượng đến từ eo biển Hormuz. Quốc gia này rất cần tình hình ở Vịnh Ba Tư nhanh chóng được ổn định. Ít nhất là từ hai tuần nay, giá dầu diesel ở Pakistan đã tăng khoảng 20%. Những người làm việc trong lĩnh vực công ở Pakistan nay được yêu cầu chỉ làm việc 4 ngày trong tuần để tiết kiệm năng lượng và nhiên liệu. Vì vậy, có thể nói là Pakistan không muốn có hỗn loạn ở biên giới và muốn tình hình trở lại bình thường cho nhu cầu năng lượng của chính mình. Về phần rủi ro, kịch bản xấu nhất có thể là hoạt động ngoại giao đó của Pakistan không cho kết quả và nước này gặp thất bại trong việc gây ảnh hưởng để tái lập ổn định hay hòa bình, nhưng trên thực tế đó là một rủi ro tương đối hạn chế. Người ta không thể đổ lỗi cho Pakistan vì đã không xoa dịu được căng thẳng giữa Mỹ và Iran, nhất là Islamabad có thể dễ dàng biện minh rằng « còn có một con át chủ bài mà chúng tôi không kiểm soát được và cũng không ai kiểm soát được, đó là Israel, quốc gia có những lợi ích riêng của họ trong cuộc chiến chống Iran và về vấn đề này, chỉ có Hoa Kỳ mới có thể gây áp lực với đồng minh của họ. Nếu Trump không làm được, chúng ta cũng chẳng sẽ làm được gì ». Truyền thông Mỹ có nhắc đến tên của tướng Asim Munir, tổng tư lệnh quân đội Pakistan, như là một nhà trung gian kín tiếng giữa Trump và Iran. Trong ván cờ ngoại giao này, tướng Munir có vai trò cụ thể gì ? Didier Chaudet : Từ khi bắt giam Imran Khan, nhà lãnh đạo theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, muốn thay đổi diện mạo đất nước và loại trừ dần dần tầm ảnh hưởng của quân đội Pakistan, tướng Munir là hiện thân cho quyền lực thực sự ở Pakistan, cho sức mạnh của sự ổn định, tiếng nói ngoại giao trong nhiều chủ đề then chốt và quả thực, ông đã tạo được một mối liên hệ đặc biệt với chính quyền Trump. Dường như cách tiếp cận của ông trong việc chỉ huy cuộc chiến chống Ấn Độ, quốc gia được cho là có ưu thế quân sự vượt trội và quả thực, Ấn Độ có nhiều nguồn lực quân sự hơn Pakistan, và bất chấp những điều đó, trong suốt giai đoạn căng thẳng 2025, Pakistan đã kháng cự mạnh mẽ và điều này đã được ghi nhận ở Washington. Mối liên hệ trực tiếp giữa Munir và Trump từ đó đã được thiết lập mà không có một sự đắn đo nào. Đó là vì chúng ta cũng đang đối diện với một chính quyền mà mối quan hệ cá nhân đóng vai trò quan trọng. Chính quyền Trump có xu hướng ủng hộ những nhà lãnh đạo mạnh mẽ và trước một Munir, họ đang đối mặt với một thế lực thực sự. Họ hiểu rằng nói chuyện với quân đội đồng nghĩa với việc nói chuyện với những thế lực ngầm đang tổ chức và kiểm soát Pakistan. Đây cũng chính là điều thu hút chính quyền Trump, đang tìm kiếm những nguồn quyền lực đích thực. Pakistan còn là một đồng minh rất gần gũi với Trung Quốc cả trên phương diện kinh tế lẫn quân sự. Liệu Trung Quốc có nắm giữ một vai trò ngầm nào trong ván cờ ngoại giao này hay không ? Didier Chaudet : Tôi có lẽ không coi đó là một vai trò bí mật, nhưng trên thực tế, các ngoại trưởng Pakistan, Ai Cập, Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ đã có cuộc gặp tại Islamabad, và một phái đoàn Pakistan cũng đã đến Bắc Kinh, rõ ràng là để giải thích và ít nhất là thông báo cho Trung Quốc biết các cuộc thảo luận đó đã đi đến đâu. Do vậy, tôi không cho đó là một kế hoạch bí mật, nhưng điều đó cho thấy một thế mạnh khác của Pakistan trong mối quan hệ với Iran và với Mỹ. Họ có thể đối thoại với Trung Quốc và có thể được Trung Quốc lắng nghe. Sớm hay muộn Trung Quốc rất có thể sẽ can dự để hỗ trợ thêm cho tiến trình hòa bình, bởi vì nếu chỉ có Mỹ và Iran mặt đối mặt, thì phía Iran sẽ không có chút niềm tin nào. Họ sẽ tự nhủ, « chúng ta đã hai lần đàm phán với chính quyền Trump và cả hai lần chúng ta đ
more
Chiến tranh Trung Đông năm 2026 và bóng ma đại khủng hoảng dầu lửa 1973
2026/03/26
Chiến tranh của Mỹ và Israel chống Iran bùng lên ngày 28/02/2026. Eo biển Hormuz, một tuyến đường huyết mạch với vận tải dầu khí toàn cầu ngay lập tức gần như bị phong tỏa. Ngày 18/03, cơ sở sản xuất dầu khí Ras Laffan của Qatar, lớn nhất thế giới, bị tấn công. Hàng chục cơ sở hạ tầng dầu khí khác tại Vùng Vịnh bị oanh kích. Nhiều nhà quan sát so sánh cuộc khủng hoảng hiện nay với hai cú sốc dầu lửa trong thập niên 70, làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu. « Cú sốc dầu mỏ » là từ mà bộ trưởng Kinh Tế Pháp Roland Lescure sử dụng để nói về cuộc khủng hoảng hiện nay trong phát biểu trước Ủy ban Tài chính Quốc Hội, mà theo ông, trong vòng nửa thế kỷ nay chỉ có khoảng mươi cú sốc như vậy. Một ngày trước đó, giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), ông Fatih Birol, đã cảnh báo rằng thế giới có thể đang bước vào cuộc khủng hoảng năng lượng tồi tệ nhất từ nhiều thập kỷ nay. « Ba tuần im lặng » và lời cảnh báo của giám đốc IEA Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhấn mạnh : « Tôi đã quyết định không nói chuyện với báo chí trong vòng ba tuần. Nhưng cho đến thứ Sáu tuần trước (18/03), tôi cảm thấy mình phải có vài lời. Bởi vì tôi có ấn tượng rằng tầm mức nghiêm trọng của vấn đề chưa được các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới hiểu rõ. » Lãnh đạo cơ quan Năng lượng Quốc tế giải thích : « Cho đến nay, chúng ta đã mất 11 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhiều hơn tổng lượng dầu mất trong hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ lớn 1973 – 1979 cộng lại », « vào thời điểm đó, trong mỗi cuộc khủng hoảng này, thế giới đã mất khoảng 5 triệu thùng dầu mỗi ngày, vì vậy, cộng hai cuộc khủng hoảng lại, tổng cộng là 10 triệu thùng dầu mỗi ngày », chưa kể đến « sự sụp đổ của thị trường khí đốt ». Bóng ma đại khủng hoảng 1973 : Chấm dứt ba thập niên thịnh vượng phương Tây  Chiến tranh Trung Đông và khủng hoảng dầu khí đang diễn ra khiến hồi ức đầy ám ảnh về cuộc đại khủng hoảng dầu mỏ 1973 trở lại. Diễn biến trực tiếp kích phát cuộc đại khủng hoảng này là cuộc chiến tại Trung Đông, thường được gọi là cuộc chiến Yom Kippur, tên một ngày lễ lớn của người Do Thái. Ngày 06/10/1973, để chống lại chính sách thôn tính lãnh thổ Palestine của chính quyền Tel Aviv, liên quân Syria và Ai Cập bất ngờ tấn công Israel đúng vào ngày đầu tiên của lễ Yom Kippur. Quân đội Israel được sự hỗ trợ của Mỹ đã giành lại được ưu thế. Chính trong bối cảnh đó, ngày 16 và 17/10, mười quốc gia xuất khẩu dầu mỏ Ả Rập, họp tại thành phố Kuwait, đã quyết định tăng giá dầu và giảm xuất khẩu sang các nước ủng hộ Israel, để trừng phạt Mỹ và các đồng minh. Chỉ trong vài tuần, giá một thùng dầu tăng gấp bốn lần. Giá xăng, giá điện tăng vọt. Và giá điện cũng vậy. Cú sốc dầu mỏ năm 1973 được nhiều nhà quan sát ghi nhận là một chấn động chưa từng có với các nước phương Tây, chấm dứt 30 năm thịnh vượng với nguồn cung năng lượng giá rẻ. Đây là lần đầu tiên các nước sản xuất dầu mỏ, ngoài phương Tây, sử dụng vũ khí tài nguyên này để chống lại phương Tây. Cấm vận dầu mỏ của khối OPEC (từ tháng 10/1973 đến tháng 3/1974), đã đẩy hầu hết các nước phương Tây vào suy thoái (GDP Mỹ sụt giảm 0,6%, các nước châu Âu giảm 1%). Lạm phát tăng vọt (25% với Nhật Bản). Tỉ lệ thất nghiệp tăng từ 2 đến 3% ở hầu hết các nước phương Tây (Đức tăng từ 1 lên 4,7%). Các hậu quả kéo dài trong nhiều năm. Khủng hoảng hiện tại chưa thấm gì so với các cú sốc thập niên 70 Nhiều nhà quan sát không thừa nhận cuộc khủng hoảng dầu khí hiện nay có thể so sánh với tầm mức cuộc đại khủng hoảng dầu lửa kinh hoàng của thập niên 70, khi dầu lửa chiếm đến gần một nửa nguồn năng lượng của thế giới, và sản xuất dầu mỏ tập trung chủ yếu tại Trung Đông. Trên CNews, ngày 26/03/2026, nhà báo Éric de Riedmatten nhận định:   « Chúng ta hiện không còn phụ thuộc vào dầu mỏ vùng Vịnh như trước đây nữa; chúng ta mua dầu từ Hoa Kỳ và Nigeria. Tất cả các nhà máy điện đều là điện hạt nhân, và để vận hành chúng, khí đốt chỉ chiếm có 5%. Đừng quên rằng cú sốc dầu mỏ năm 1973 xảy ra sau Chiến tranh Yom Kippur, khiến giá một thùng dầu tăng gấp 4 lần chỉ trong 6 tháng. Thế giới đã thay đổi sau đó; giá cả tăng vọt. Chúng ta đã có lạm phát 15,2% vào năm 1974. Thực sự đã có hai cú sốc dầu mỏ. Nhưng chỉ có hai thôi, nhưng cả hai đều rất nghiêm trọng. Cú sốc thứ hai là vào năm 1979 với cuộc cách mạng ở Iran, Chiến tranh Iran-Irak, và giá một thùng dầu đã tăng gấp ba lần, từ 10 đô la lên 30 đô la. Đó mới thực sự là một cú sốc dầu mỏ. Rồi đến năm 2008, tình trạng tiêu thụ quá mức toàn cầu đã khiến giá dầu tăng vọt, đạt mức 150 đô la một thùng. Nếu nhìn vào tình hình hiện tại, đúng là không dễ dàng, và nếu tiếp tục, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, nhưng trên thực tế, nó sẽ gây ra cú sốc tài chính lớn, hơn là cú sốc dầu mỏ vì những lý do như tôi đã giải thích, và chúng ta có thể kết luận rằng: Có lẽ chúng ta sử dụng ngôn từ quá dễ dãi, như diễn đạt của bộ trưởng Kinh Tế Roland Lescure. Diễn đạt kiểu này gây ra một cú sốc do hùng biện thì đúng hơn ! » Ba tiêu chí xác định « cú sốc » : Mức tăng giá, tốc độ tăng giá và thời lượng Để xác định tầm mức của cuộc khủng hoảng hiện nay, trong cuộc tọa đàm do Đài France 24 tổ chức hôm 19/03, chuyên gia về năng lượng Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược IRIS, Nghiên cứu viên cộng tác tại Policy Center for the New South (Rabat), nêu bật ba tiêu chí cho phép xác định cuộc khủng hoảng đang diễn ra có phải là một cú sốc lớn với nền kinh tế thế giới hay không, bao gồm mức tăng giá, tốc độ tăng và thời lượng: « Chúng ta định nghĩa thế nào là cú sốc ? Theo tôi, có ba yếu tố trong định nghĩa này. Trước tiên là giá cả tăng mạnh. So với ngày 27/2, tức một ngày trước khi cuộc xung đột bắt đầu, chúng ta đã chứng kiến ​​giá dầu tăng khoảng 50% và giá xăng tăng khoảng 90%. Đó là một con số khá lớn. Thật sự rất lớn ! Yếu tố thứ hai của định nghĩa về cú sốc, đó là giá cả tăng mạnh trong một khoảng thời gian ngắn. Thực tế diễn ra tương ứng với tiêu chí thứ hai. Tiêu chí thứ ba là giá cả sẽ duy trì ở mức cao trong vòng bao lâu? Vào lúc chúng ta bắt đầu chương trình truyền hình này, giá dầu đã giảm một chút. Hiện tại là khoảng 108 đô la một thùng dầu thô Biển Bắc. Giả sử giá dầu duy trì ở mức 100-110 đô la một thùng trong vòng 15 ngày. Điều đó sẽ không gây sốc ! Nếu duy trì như vậy trong sáu tháng, thì rõ ràng là đáp ứng tiêu chí thứ ba của định nghĩa về cú sốc năng lượng.  Chúng ta cần theo dõi tiêu chí thứ ba này bởi vì chúng ta đang trong một cuộc chiến, một cuộc chiến diễn ra trước mắt, mà mình gần như bất lực. Vì vậy, tôi cho rằng với việc hai trong ba tiêu chí trên được đáp ứng, chắc chắn có nguy cơ xảy ra một cú sốc dầu khí. » Sẽ là đại khủng hoảng, nếu giá tăng cao liên tục trong nhiều tháng Cú sốc năng lượng làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu, mang tầm vóc như của đại khủng hoảng 1973, rõ ràng chưa xảy ra. Tuy nhiên, chuyên gia Francis Perrin, Giám đốc nghiên cứu tại IRIS, nhấn mạnh cần theo dõi sát : « Nhưng hãy trở lại năm 2022, vào lúc chiến tranh Ukraina bùng nổ. Hãy nhớ rằng giá dầu thô Brent đã tăng lên gần 140 đô la một thùng vào đầu tháng 3/2022. Giá trung bình cho cả năm đó là 100 đô la một thùng. Hiện giờ chúng ta chưa đạt đến mức đó ! Còn giá khí đốt ở châu Âu vào thời điểm đó, trong mùa hè năm 2022, đã đạt mức 345 euro cho mỗi megawatt-giờ. Hiện tại, giá chỉ ở mức 61 euro mỗi megawatt-giờ. So sánh như vậy để thấy, đã có sự tăng mạnh và tăng đột ngột về giá, nhưng không đáng kể như năm 2022. Câu hỏi đặt ra là, mức cao này sẽ duy trì trong bao lâu? Nếu tình trạng này kéo dài vài tháng, chúng ta có thể nói đến một cú sốc mới. » Về phần
more
Vì sao các cuộc không kích hiếm khi đủ để lật đổ chế độ ?
2026/03/19
Ngày 28/02/2026, khi mở chiến dịch không kích ồ ạt chưa từng có « Epic Furry » chống Iran và giết chết nhiều lãnh đạo cao cấp hàng đầu của nước này, Hoa Kỳ và Israel đặt ra mục tiêu rất rõ ràng : Lật đổ chế độ thần quyền có từ năm 1979. Tuy nhiên, từ sau Thế chiến thứ II đến cuộc chiến Irak năm 2003 và gần đây nhất là chiến tranh Ukraina, lịch sử đã chứng minh rằng các cuộc không chiến không nhất thiết hiệu quả trong việc làm suy yếu một chế độ và bẻ gãy sự hậu thuẫn mà người dân dành cho chế độ đó. Hầu hết giới chuyên gia có chung một nhận xét: Hoa Kỳ và Israel tiến hành chiến dịch không kích quy mô lớn, ngoài mục tiêu phá hủy các cơ sở hạt nhân và quân sự của Iran, còn nhằm dẫn đến việc thay đổi chế độ. Nhưng đằng sau chiến lược quân sự này là một học thuyết từ lâu đã bị bác bỏ nhưng giờ đây đang được các nhóm tân bảo thủ ở Washington hồi sinh : Huyền thoại về việc « thay đổi chế độ » bằng « ưu thế trên không », đã được vị tướng người Ý Giulio Douhet (1869 – 1930) phát triển trong những năm 1920. Huyền thoại sáng lập : Douhet và « cuộc chiến trên không » Tuần báo Pháp L’Express nhắc lại, vào năm 1921, trong tác phẩm nổi tiếng « Thế thống trị trên không » (Il dominio dell’aria), nhà lý luận người Ý này đã viết : « Giành được ưu thế trên không có nghĩa là chiến thắng, bị đánh bại trên không là thất bại ». Theo ông, không một loại vũ khí nào – cả phòng không lẫn chiến đấu cơ – có thể ngăn chặn một cuộc chiến trên không quy mô lớn. Những cuộc không kích này cho phép giành chiến thắng bằng cách ném bom vào hậu phương và các trung tâm kinh tế (công nghiệp, kho hàng, đường sắt) và quân sự (kho đạn, sở chỉ huy), tóm lại là những cơ sở trọng yếu của đối phương, cũng như là bằng cách ném bom thường dân để bẻ gãy tinh thần của họ. Các quốc gia đối địch sẽ buộc phải khuất phục, hay trong trường hợp của Iran, khi dự báo một sự nổi dậy của người dân để ngăn chặn các cuộc oanh kích và đi đến một sự thay đổi chế độ. Theo giải thích từ nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle, chuyên gia về đổi mới và quốc phòng (Audencia) trên trang The Conversation, nhìn chung, tầm nhìn này của Douhet được dựa trên một giả thuyết đơn giản : « Nỗi sợ hãi hủy diệt ý chí tập thể ». Nhưng thực tế thì sao ? Học thuyết hiện đại về cưỡng chế trên không Nghiên cứu của nhà chính trị học người Mỹ, Robert A. Pape, về các chiến dịch không kích trong thế kỷ XX (Bombing to Win. Air Power and Coercion in War, 1996) cho thấy tiến triển mới của huyền thoại « thắng cuộc bằng không chiến », được thể hiện qua ba chiến lược khác nhau. Ý tưởng ở đây là xác định xem trong thời gian đầu, mục tiêu thực sự đằng sau việc sử dụng vũ khí không quân là gì, để có thể đánh giá các hiệu quả. Trong lô-gic này, Pape đề xuất ba chọn lựa : Thứ nhất là « trừng phạt », bằng cách tấn công thường dân nhằm giáng những nỗi đau khổ và gây ra các áp lực chính trị nội bộ. Đây là phiên bản đương đại của mô hình Douhet. Thứ hai là « mạo hiểm » (leo thang dần dần). Đe dọa tăng dần các cuộc không kích nhằm tạo ra một sự bất định và nỗi lo sợ hủy diệt hoàn toàn. Và sau cùng là « tước mất », nghĩa là phá hủy các năng lực quân sự, hậu cần và chiến lược, ngăn chặn đối phương đạt được các mục tiêu của mình. Phần lớn các nghiên cứu của Pape về những chiến dịch oanh tạc đã chỉ ra rằng những hoạt động quân sự trên không dựa vào ý tưởng trừng phạt dân sự gần như luôn thất bại và những chiến dịch nào nhằm mục tiêu ngăn chặn các hành động quân sự của đối phương đều cho thấy hiệu quả. Nói cách khác, sự cưỡng chế có hiệu quả khi nhằm làm thay đổi một tính toán chiến lược, chứ không phải khi nhằm bẻ gãy tinh thần. Sự khác biệt này là cơ bản, bởi vì nếu mục tiêu bị nhầm, hiệu quả như mong đợi sẽ không có. Điều này được thấy rõ trong nhiều cuộc chiến suốt thế kỷ XX từ chiến dịch « Rolling Thunder » của Mỹ ở Việt Nam (1965 – 1968), các đợt thả bom của Mỹ trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991, chiến dịch của NATO ở Kosovo, hay  chiến tranh xâm lược Ukraina do Nga phát động năm 2022 và gần đây nhất là cuộc chiến Iran do Mỹ và Israel tiến hành. « Ưu thế trên không » và « Cấu trúc tinh thần » Vì sao chiến lược « ưu thế trên không » lại không mấy hiệu quả ? Nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle cho rằng cần phải xem lại tác phẩm « The Structure of Morale », tạm dịch là Cấu trúc tinh thần, xuất bản năm 1943 của nhà phân tâm học J.T. MacCurdy. Khi phân tích phản ứng của người dân Anh trong suốt chiến dịch dội bom nổi tiếng Blitz (1940-1941) của không quân Đức chống Vương quốc Anh, ông phân biệt ba nhóm người sau một vụ nổ : Người chết (misses), Người suýt chết (near misses) và Người không bị ảnh hưởng (remote misses). Theo MacCurdy, các cuộc oanh kích tạo ra nhiều người sống sót hơn là nạn nhân, và sau nỗi sợ hãi ban đầu, quá trình thích nghi nhanh chóng hình thành. Người sống sót phát triển nhiều phản ứng khác nhau, từ cam chịu  đến cảm giác bất khả xâm phạm. Họ học hỏi được nhiều điều và quen dần với tình huống : Nỗi sợ hãi dữ dội của cú sốc ban đầu giảm đi, nếu nỗi sợ đó không liên tục gắn liền với sự hủy diệt cá nhân. Vượt quá một ngưỡng nhất định, sự tàn phá tiếp theo sẽ mang lại hiệu quả giảm dần. Tinh thần người dân có xu hướng tiến triển theo hướng thờ ơ hoặc chịu đựng, nhưng không phải là đầu hàng hay nổi dậy chống chế độ như lịch sử đã cho thấy. Thậm chí, theo Nicolas Minvielle, các chiến dịch dội bom ồ ạt còn phản tác dụng. Trong Chiến tranh Việt Nam, nghiên cứu của M.A. Kocher và các đồng nghiệp đã chứng minh rằng việc đánh bom làng mạc đã làm dịch chuyển quyền kiểm soát lãnh thổ sang Việt Cộng. Thiệt hại thường dân đã làm mất tính chính đáng của chính quyền Nam Việt Nam và củng cố lực lượng nổi dậy. Nỗi khiếp hãi tiếp thêm sức mạnh của đối phương. Đó cũng là những gì đã diễn ra tại Irak (2014) và Syria (2011) : Các cuộc không kích đã không mang lại hiệu quả như mong đợi mà có nguy cơ làm gia tăng sự đoàn kết với quân nổi dậy khi dân thường bị trúng bom. Và nhất là bạo lực trên không hiếm khi làm thay đổi lòng trung thành theo hướng mong muốn. Bất chấp một thế kỷ nghiên cứu thực nghiệm, chứng minh sự hủy diệt vật chất hiếm khi tự nó dẫn đến sự sụp đổ chế độ, ý tưởng cho rằng áp lực quân sự bên ngoài có tác động chính trị quyết định vẫn tồn tại. Nếu như giới lãnh đạo đương đại không còn nói đến « bẻ gãy tinh thần một dân tộc » nữa, và thường nói rằng làm suy giảm năng lực hay dồn dập gia tăng áp lực có thể làm suy yếu vĩnh viễn một cấu trúc quyền lực hiện có, đó là vì họ tin vào sức mạnh công nghệ, sức mạnh hữu hình và độ chính xác của vũ khí không quân và nhất là họ nhầm lẫn giữa cú sốc ban đầu với hiệu quả lâu dài. Cú sốc và hiệu quả lâu dài : Iran, ví dụ mới nhất Cú sốc và nỗi kinh hoàng tạo ra một tác động ngoạn mục nhưng không nhất thiết đi đến đầu hàng chính trị. Theo nhà nghiên cứu Nicolas Minveille, hiệu quả của chiến lược oanh kích không chỉ phụ thuộc vào năng lực hủy diệt, mà còn vào bản chất của đối phương : Chế độ chuyên chế hay dân chủ ; chiến tranh thông thường hay nổi dậy, xã hội phân mảnh hay gắn kết cao. Cùng một chiến dịch có thể tạo ra những hiệu quả hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh xung đột. Đây là những gì đang áp dụng cho cuộc chiến tại Iran. Daniel Block, biên tập viên cấp cao của tạp chí Đối ngoại, trên kênh truyền hình CBC News nhận định rằng, xét về mặt lịch sử, xác suất chế độ thần quyền bị sụp đổ vì « mưa bom » là rất thấp. Ông nêu ra ba lý do: « Đầu tiên, đơn giản là cho dù quý vị có ghét lãnh đạo của mình đến mức nào, nếu đất nước quý vị bị ném bom, các cuộc oanh kích chỉ sẽ làm suy yếu phe đối lập, bởi vì họ thực sự không muốn bị coi là đứng về phía n
more
Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao ?
2026/03/12
Cuộc chiến của Mỹ và Israel chống Iran bùng nổ ngày 28/02/2026. Ngay trong loạt tấn công đầu tiên, giáo chủ Iran và hàng chục chỉ huy cấp cao đã tử vong, trong đó có tổng tham mưu trưởng Quân đội, chỉ huy Lực lượng Vệ binh Cách mạng, bộ trưởng Quốc Phòng. Tổng thống Mỹ tuyên bố đã xóa sổ một phần lớn các phương tiện quân sự của Iran, dọa xóa sổ chế độ. Tuy nhiên, chiến tranh không có dấu hiệu ngừng nghỉ. Chế độ Iran « mất đầu », nhưng không có biểu hiện tan rã. Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao ? Hệ thống quyền lực đa trung tâm Truyền thông Pháp chú ý đến nhận định của chuyên gia Ali Hashem, Trung tâm nghiên cứu Hồi giáo và Tây Á, Đại học Royal Holloway (Luân Đôn), về « cấu trúc quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran được thiết kế để trở nên cấu kết chặt chẽ trước các áp lực, hơn là để bị sụp đổ » (bài « Iran Is Built to Withstand the Ayatollah’s Assassination /Chế độ Iran được thiết kế để trụ được ngay cả khi giáo chủ tối cao bị hạ sát »). Bernard Hourcade, chuyên gia về Iran, Trung tâm Khoa học Quốc gia Pháp – CNRS ví cái chết của lãnh tụ tối cao với hình ảnh « phá vỡ một rào cản lớn, nhưng vẫn còn đến 500 rào cản khác ». Về mặt chính thức, lãnh đạo tối cao Iran đứng đầu một mạng lưới của một loạt định chế, trong đó có Hội đồng bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Chuyên gia (bầu lãnh đạo tối cao), Lực lượng Vệ binh Cách mạng, nhưng hệ thống quyền lực trên thực tế không hẳn như vậy. Trả lời RFI tiếng Việt, Théo Nencini, chuyên gia về Iran, giảng viên Đại học Sciences Po ở Grenoble, đưa ra một giải thích chung về tính chất « đa trung tâm » của hệ thống quyền lực Iran: « Hệ thống chính trị Iran hoàn toàn không phải là một hệ thống tập trung hóa cao độ, theo nghĩa cổ điển, kiểu hình kim tự tháp. Đó là cái mà tôi gọi là một hệ thống quản trị dựa trên "mạng lưới quyền lực đa trung tâm và liên kết chặt chẽ" (réseau oligarchique multicentré et interconnecté). Về cơ bản, ta có thể hình dung một cấu trúc trong không gian ba chiều, giống như một kim tự tháp, nhưng hơi bị dẹt ở đỉnh. Trong cấu trúc này, có một số trung tâm quyền lực, ví dụ như Lãnh tụ tối cao và "Văn phòng của Lãnh tụ tối cao", như người ta thường gọi. Sau đó là Lực lượng Vệ binh Cách mạng. Tiếp theo là cấu trúc của một chế độ cộng hòa cổ điển, với các đại điện được bầu lên bằng phổ thông đầu phiếu, về cơ bản là chính phủ, Quốc Hội, v.v. Bên cạnh đó, ta có một tầng lớp tư sản kinh tế, mà về bề ngoài không trực tiếp liên kết với các trung tâm quyền lực nói trên. Xung quanh mỗi cực này,  có các mạng lưới quyền lực, mạng lưới các nhóm lợi ích xoay quanh các cực này, có liên kết với nhau. Điều đó có nghĩa là có thể có mối liên hệ giữa những người từ "Văn phòng Lãnh tụ tối cao" và Vệ binh Cách mạng, cũng như giữa chính phủ và tầng lớp tư sản kinh tế. Một hệ thống cấu trúc như vậy không thể bị chặt đầu. » Nhà nghiên cứu Theo Nencini giải thích rõ hơn về mối quan hệ giữa Lãnh tụ tối cao và Lực lượng Vệ binh Cách mạng : « Có thể nói, Vệ binh Cách mạng là thực thể cho phép Lãnh tụ tối cao có phương tiện để vượt qua vô số rào cản của Hiến pháp và pháp lý trong chế độ Iran. Bằng cách vượt qua những rào cản này, Lãnh tụ tối cao, ta có thể nói một cách đơn giản, có thể trực tiếp phổ biến quan điểm của mình tới hệ thống hành chính. Nhưng điều quan trọng cần nhớ là Vệ binh Cách mạng, về một mặt nhất định là một thực thể tự chủ so với Văn phòng Lãnh tụ tối cao. Nghĩa là, tuy họ có tuyên thệ trung thành với nhà lãnh đạo này, nhưng họ có thể có đường lối chính trị riêng, tầm nhìn chiến lược riêng, không nhất thiết phải giống với tầm nhìn của Lãnh tụ tối cao. Và đây chính là điểm mà chúng ta có thể liên hệ với tình hình hiện tại. » Chuyển mạnh sang cơ chế tản quyền trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt Sau cuộc chiến 12 ngày hồi năm ngoái của Mỹ và Israel, lực lượng vũ trang Iran nói chung và Vệ binh Cách mạng nói riêng đã thay đổi cấu trúc của hệ thống chỉ huy, để có thể nhanh chóng thay thế lãnh đạo. Theo chuyên gia Thierry Covilly, Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp IRIS, nhìn chung chế độ sẵn sàng cho việc bất cứ chỉ huy nào bị hạ sát sẽ đều có người thay thế. Bộ máy an ninh, phòng thủ của Iran được tái cấu trúc thành khoảng 30 bộ chỉ huy cấp tỉnh, có thể đưa ra quyết định độc lập, trong trường hợp đầu não trung ương bị hủy diệt. Riêng về Lực lượng Vệ binh Cách mạng, chuyên gia Théo Nencini cho biết cụ thể: « Lực lượng Vệ binh Cách mạng đã bị chặt đầu một phần hồi tháng Sáu. Lực lượng này, dĩ nhiên, sau những gì đã xảy ra trong cuộc chiến 12 ngày tháng 6/2025, đã chuẩn bị để đối phó với việc Israel và Mỹ hành động theo cách này. Vì vậy, họ đã hạ thấp chuỗi chỉ huy xuống thấp hơn nhiều, đến cấp N-6 hoặc thậm chí N-7. Cụ thể là, trong quân đội, thông thường ta có một tổng tham mưu trưởng, và ở cấp N-1 là sĩ quan cấp dưới, N-2 ở cấp thấp hơn nữa, và cứ thế tiếp tục. Vì vậy, xuống đến cấp N-6 hoặc N-7 có nghĩa là có một cấu trúc chỉ huy có quyền tự quyết định hành động ở các bậc thấp, trải rộng ra trên toàn quốc. » Vệ binh Cách mạng với bộ máy trấn áp khổng lồ, bám rễ vào xã hội Nói đến sức mạnh của hệ thống quyền lực Iran trước hết phải nói về vai trò của Lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC), Pasdaran trong tiếng Farsi, được thành lập từ năm 1979, ngay từ đầu cuộc Cách mạng Hồi giáo. Vệ binh Cách mạng có nhiệm vụ bảo vệ hệ tư tưởng Hồi giáo Shia và chế độ Cộng hòa Hồi giáo, cả trong nước và quốc tế. Khác với quân đội chính quy, Vệ binh Cách mạng trực thuộc Lãnh tụ tối cao, cho nên có quyền lực độc nhất vô nhị ở Iran. Vệ binh Cách mạng có các binh chủng riêng (lục quân, không quân, hải quân) và Lực lượng Qods, chuyên về các hoạt động ở nước ngoài, đặc biệt tại khu vực Trung Đông. Về kinh tế, họ kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế Iran, như dầu khí, xây dựng, viễn thông, với hàng trăm tỉ đô la. Vệ binh Cách mạng Iran thường được nói đến như một « Nhà nước trong một Nhà nước » là vì vậy. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà chính trị học Azadeh Kian, giáo sư danh dự Đại học Paris – Cité, nhấn mạnh đến việc Vệ binh Cách mạng điều hành cả một lực lượng dân sự quy mô lớn, được giao phó nhiệm vụ kiểm soát xã hội : « Basij là một lực lượng dân quân với khoảng một triệu thành viên, một lực lượng mang đậm tính ý thức hệ, tồn tại và hoạt động dưới quyền của Vệ binh Cách mạng. Basij hiện nay là một lực lượng vũ trang, lực lượng được Vệ binh Cách mạng huấn luyện và giáo dục để đàn áp mọi phe đối lập trong nước. Với mọi cuộc biểu tình, trước hết chế độ sử dụng các lực lượng này để trấn áp. » Nhà báo Iran Mohsen Sazegara, một trong những người sáng lập Vệ binh Cách mạng, sau này trở thành người chống lại chế độ Hồi giáo, trả lời tuần báo Pháp L'Express, cho biết thêm là ngoài dân quân Basij, chế độ của cố giáo chủ Ali Khamenei còn sử dụng các lực lượng lính đánh thuê nước ngoài (từ Afghanistan, Pakistan…), với số lượng lên đến 30.000 người, và hàng chục tổ chức Irak, trong đó có nhiều tổ chức có quan hệ với Lực lượng Qods của Vệ binh Cách mạng, để đàn áp mọi dấu hiệu phản kháng trong nước. Đức tin tử vì đạo và nước Cộng hòa Hồi giáo bị cô lập Theo nhiều nhà quan sát, chế độ Hồi giáo Iran đã sẵn sàng chuẩn bị cho một cuộc xung đột kéo dài với Mỹ và các đồng minh, với « cường độ thấp », « bất chấp cái giá rất lớn mà người dân thường Iran phải gánh chịu » (Bernard Hourcade). Cuộc chiến chống Mỹ và Israel hiện nay của chế độ thần quyền Hồi giáo Iran được nhiều người trong hệ thống nhìn nhận như sự tiếp nối của truyền thống độc lập, sẵn sàng đương đầu tất cả các đại cường ngay từ ngày đầu chế
more
Bốn năm chiến tranh Ukraina: Vì sao kinh tế Nga chưa sụp đổ ?
2026/03/05
Năm 2026, chiến tranh Ukraina bước sang năm thứ năm. Bất chấp các trừng phạt của phương Tây, kinh tế Nga vẫn chưa sụp đổ như phát biểu của nhiều nhà lãnh đạo châu Âu trước đây. Dù vậy, tổng thống Nga Vladimir Putin hôm 04/02/2026, trong một cuộc họp về các vấn đề kinh tế, thừa nhận tăng trưởng kinh tế năm 2025 chỉ ở mức 1%, thấp hơn nhiều so với những năm đầu cuộc chiến. Phải chăng các lệnh trừng phạt của phương Tây giờ bắt đầu có hiệu quả ? Nga hiện là quốc gia bị phương Tây trừng phạt nặng nề nhất, hơn cả Iran và Bắc Triều Tiên. Riêng Liên Hiệp Châu Âu đã ban hành 19 gói trừng phạt nhắm vào Nga. Có hai loại đối tượng bị trừng phạt: Thứ nhất là các cá nhân như tổng thống Nga, các chỉ huy nhóm Wagner hay nhà tỷ phú Roman Abramovic ; thứ hai là các thực thể như ngân hàng, các chính đảng, hãng truyền thông và nhất là các doanh nghiệp. Để hiểu được hiệu quả của trừng phạt của phương Tây, các nhà phân tích tập trung vào nhóm đối tượng thứ hai do vai trò vĩ mô kinh tế của chúng, ở ba khía cạnh của các lệnh trừng phạt : Tài chính, Công nghệ - thương mại và Năng lượng. Trừng phạt tài chính Vào thời điểm Nga phát động "chiến dịch quân sự đặc biệt" xâm lược Ukraina tháng 02/2022, các hoạt động kinh tế Nga có một giai đoạn bị đóng băng. Trả lời Les Echos, nhà kinh tế học Julien Vercueil, chuyên gia về Nga, Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông Quốc gia (INALCO), nhận định hiện tượng này không hẳn là do các lệnh trừng phạt mà là do cú sốc và sự bất ổn đi kèm với biến cố địa chính trị quy mô lớn : « Trong tình huống này, phản xạ đầu tiên của các tác nhân kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình, các nhà đầu tư nước ngoài hay trong nước, … là bảo vệ tiền tiết kiệm của mình. Và do vậy, chúng phải được đưa ra ngoài lãnh thổ Nga. Đây là những gì họ làm ngay từ tháng 01/2022, trước khi có chiến tranh. Người ta đã chứng kiến trong quý I/2022 hiện tượng rút vốn ồ ạt lớn chưa từng có ở Nga trước đây. » Quá trình tháo chạy vốn tăng nhanh sau khi những trừng phạt tài chính đầu tiên được thực thi : Hạn chế khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế của Nga, loại các ngân hàng Nga khỏi hệ thống SWIFT (Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn cầu) và phong tỏa 210 tỷ đô la tài sản Nga ở châu Âu. Tuy nhiên, chính quyền Nga cũng đã có những phản ứng nhanh chóng, ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính, chẳng hạn như ra lệnh đóng cửa sàn chứng khoán Matxcơva và áp đặt kiểm soát ngoại hối nghiêm ngặt, có nghĩa là người dân Nga không thể đổi rúp sang đô la. Kết quả là Nga đã nhanh chóng hồi hương vốn, giúp cân bằng và giảm bớt sự dịch chuyển, « tháo chạy vốn tự phát », theo như nhận định của Julien Vercueil. Phản ứng cứng rắn này của chính quyền Nga đã giảm tác động các trừng phạt, cứu hệ thống tài chính Nga khỏi sự sụp đổ. Giai đoạn bất ổn và trừng phạt ban đầu này, tất nhiên, đã làm chậm lại nền kinh tế Nga vào năm 2022. Nhưng ngay từ năm 2023, tăng trưởng phục hồi nhờ hiệu ứng kết hợp giá dầu thế giới tăng và sự chuyển đổi sang nền kinh tế chiến tranh, thúc đẩy chi tiêu công đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng. Trừng phạt thương mại Loại trừng phạt thứ hai là cấm xuất khẩu sang Nga các sản phẩm trong những lĩnh vực trọng yếu như vận tải, hàng không, hàng xa xỉ hay công nghiệp quốc phòng. Mục đích là kềm chế năng lực công nghiệp và làm suy yếu Nga nhiều hơn. Theo Ủy Ban Châu Âu, kể từ tháng 02/2022, Liên Hiệp Châu Âu đã cấm xuất khẩu hàng hóa và công nghệ sang Nga với tổng giá trị ước tính là hơn 48 tỷ euro, tức chiếm khoảng hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Liên Âu trước chiến tranh. Qua phân tích các dữ liệu của Global Trade Tracker liên quan đến các hoạt động xuất – nhập khẩu của Nga, hai nhà kinh tế học Kevin Lefèvre và Charlotte Emlinger tại Trung tâm Nghiên cứu Triển vọng và Thông tin Quốc tế (CEPII) cùng kết luận là « khoảng một phần ba các sản phẩm bị trừng phạt đã được bù đắp từ các quốc gia không áp dụng trừng phạt ». Đặc biệt, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy « khoảng 2/3 trong số 50 sản phẩm bị trừng phạt bởi một liên minh lớn các nước, bao gồm cả Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ, đã được bù đắp từ nhiều nước khác. » Để có được những mặt hàng bị cấm đó, Nga thực hiện hai phương pháp : Hoặc tìm nhà cung cấp ở các quốc gia không áp dụng lệnh trừng phạt như Trung Quốc, đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Nga từ đầu cuộc chiến. Hoặc những hàng hóa này được xuất khẩu từ những nước thực thi lệnh trừng phạt sang các quốc gia trung gian, gần với Nga như Thổ Nhĩ Kỳ hay Armenia, những nước không áp đặt lệnh trừng phạt, và sau đó chúng được tái xuất khẩu sang Nga. Sự lách luật này của Nga không có nghĩa là các đòn trừng phạt không có hiệu quả. Trên thực tế, Matxcơva không nhất thiết tìm được những sản phẩm có chất lượng tương đương ở các nhà cung cấp mới. Và nhất là họ phải mua đắt hơn những sản phẩm nhập khẩu đó, kể cả những mặt hàng không bị trừng phạt. Theo khảo sát, kể từ khi nổ ra chiến tranh, giá nhập khẩu của Nga tăng trung bình 13% so với giá nhập khẩu của phần còn lại của thế giới, và tăng 22% đối với hàng nhập khẩu từ các nước không trừng phạt Nga. Mức tăng này có thể lên đến hơn 120% đối với những mặt hàng chiến lược được dùng trên chiến trường Ukraina. Như vậy, các trừng phạt này có tác động trực tiếp đến chi phí chiến tranh của Nga, và chúng còn có một chi phí tiềm ẩn : Sự phụ thuộc của Nga vào một số đối tác mới khi Nga muốn bán hàng hóa của mình ra thế giới. Đây chính là những gì diễn ra đối với dầu hỏa của Nga. Trừng phạt năng lượng Trước chiến tranh, năm 2021, dầu khí của Nga chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga (46%). Chiến tranh bùng nổ, Liên Hiệp Châu Âu ban hành một số biện pháp cứng rắn : Cấm nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm chế biến từ dầu Nga qua đường hàng hải, cấm nhập khẩu khí đốt hóa lỏng kể từ năm 2027, và áp đặt mức giá trần đối với các doanh nghiệp bán dầu hỏa Nga là 44,10 đô la/thùng, có hiệu lực từ ngày 01/02/2026. Hệ quả là, theo chuyên gia kinh tế Kevin Lefèvre, « Nga không còn có thể xuất khẩu tất cả các mặt hàng của mình, nhất là các sản phẩm năng lượng sang Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ, và do vậy nước này, phải chuyển hướng xuất khẩu sang các nước khác, vốn yêu cầu một mức giá thấp hơn nhiều để có thể mua tất cả các sản phẩm tái xuất khẩu này. Điều này có nghĩa là nguồn thu cho nền kinh tế Nga ít hơn trước. Hơn nữa, tác động này còn trầm trọng hơn do các lệnh trừng phạt của châu Âu, yêu cầu các công ty vận tải dầu hỏa phải giữ giá dầu ở mức thấp hơn khoảng 15% so với giá thị trường, làm giảm thêm doanh thu cho nền kinh tế Nga ». Chỉ có điều tuy những trừng phạt này ảnh hưởng trực tiếp đến cốt lõi mô hình kinh tế Nga, nhưng trong hai năm 2023 và 2024, giá dầu thế giới cao đã bù đắp cho mức sụt giảm xuất khẩu vì các lệnh trừng phạt. Chuyên gia về Nga, ông Julien Vercueil cho rằng, « tác động của giá cả chiếm ưu thế hơn so với tác động về số lượng. Và do vậy, Nga được hưởng lợi rất nhiều từ thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vãng lai, giúp nước này phục hồi khá nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng trên 4% ». Ngoài ra, Nga còn thực hiện nhiều chiến thuật để né tránh các lệnh trừng phạt và bán dầu hỏa của mình thông qua các công ty ảo và đội tầu ma nổi tiếng. Nhưng tình hình đã trên nên khó khăn hơn vào năm 2025 khi giá dầu thế giới giảm, đồng rúp tăng giá, và nhất là Mỹ ban hành trừng phạt nhắm vào hãng dầu chính của Nga là Rosneft và Lukoil, khiến nguồn thu từ dầu khí của Nga sụt giảm mất 25% so với năm 2024. Theo nhận xét của Julien Vercueil, « đặc điểm chính của các lệnh trừng phạt Mỹ là được thực thi khá nhanh chóng. Và đó là điểm khiến những biện pháp này trở nên khó khăn hơn nhiều cho những bên mu
more
Dự án chiến đấu cơ SCAF bên bờ tan vỡ: Thách thức khó vượt qua đối với Pháp, Đức
2026/02/26
Ít tháng sau khi đắc cử năm 2017, tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã quyết định cùng Đức thúc đẩy dự án phát triển hệ thống chiến đấu cơ đời mới SCAF, với mục tiêu nâng cao năng lực quốc phòng tự chủ của châu Âu, trong bối cảnh quan hệ với đồng minh truyền thống Hoa Kỳ thời Donald Trump hứa hẹn những sóng gió chưa từng có với châu Âu. Tám năm sau, cuối 2025, đầu năm 2026, bất đồng chồng chất giữa hai tập đoàn Dassault và Airbus Defence and Space, hai cơ sở đặc trách thực thi dự án, khiến SCAF nay bên bờ tan vỡ. Theo giới chuyên gia, nếu xảy ra, đây sẽ là một tổn thất vô cùng lớn không chỉ cho hợp tác Pháp – Đức, bởi dự án hệ thống chiến đấu cơ SCAF của Pháp và Đức, với sự tham gia của Tây Ban Nha sau đó, được kỳ vọng sẽ trở thành một trụ cột của nền quốc phòng tự chủ của Liên Âu trong tương lai. Liệu Paris và Berlin có vượt qua được các thách thức đó? SCAF: Dự án trọng tâm của nền công nghiệp quốc phòng châu Âu Kế hoạch phát triển chiến đấu cơ tối tân thế hệ thứ 6 (NGF), thuộc dự án mang tên Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai (SCAF - Système de combat aérien du futur), được tổng thống Pháp Emmanuel Macron và thủ tướng Đức Angela Merkel khởi xướng vào năm 2017, với vốn đầu tư ước tính 100 tỉ đô la. Tây Ban Nha tham gia dự án hai năm sau. Phi cơ SCAF được kỳ vọng ​​sẽ thay thế các chiến đấu cơ Rafale (Pháp) và Eurofighter (Anh, Ý, Đức và Tây Ban Nha hợp tác chế tạo) từ năm 2040. Theo thỏa thuận, Pháp chủ trì dự án chung, Đức và Tây Ban Nha mỗi bên dự kiến đóng góp một phần ba kinh phí. Các căng thẳng ngày càng gia tăng với chính quyền Trump nhiệm kỳ 2, trong bối cảnh lực lượng không quân của châu Âu nhìn chung phụ thuộc nặng nề vào chiến đấu cơ Mỹ, cho thấy về nguyên tắc, kế hoạch độc lập phát triển hệ thống chiến đấu cơ đời mới để châu Âu hướng đến tự chủ về quốc phòng là cần thiết. Tuy nhiên, từ nhiều tháng nay, dự án dẫm chân tại chỗ. Ngày 18/02/2026, chính quyền Đức lần đầu chính thức thừa nhận nhiều bất đồng song phương về tiêu chuẩn kỹ thuật không thể vượt qua, đồng thời gợi ý, để có thể duy trì, dự án Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai SCAF cần được điều chỉnh, để mỗi bên hướng đến độc lập chế tạo riêng một chiến đấu cơ, bởi nhu cầu của Pháp khác với Đức. Pháp dự trù phi cơ này được sử dụng với vũ khí hạt nhân, trong lúc với Đức thì đây chỉ thuộc lĩnh vực vũ khí quy ước. Dassault muốn giữ bí mật công nghệ, Airbus muốn tham gia sâu rộng Tuyên bố của thủ tướng Đức Frederic Merz, trên thực tế, đã phơi bày bất đồng sâu sắc giữa hai tập đoàn Dassault (đại diện cho Pháp) và Airbus (đại diện cho Đức và Tây Ban Nha) tồn đọng từ lâu. Căng thẳng lên đến đỉnh điểm hồi cuối năm ngoái, khi Dassault khẳng định có thể một mình hoàn tất việc chế tạo chiến đấu cơ SCAF, còn Airbus cho biết Dassault, nếu muốn, có thể rời bỏ dự án Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai. Trả lời truyền thông Pháp, chủ tịch tập đoàn Dassault, Eric Trappier, nhấn mạnh : « Chúng tôi có đủ năng lực để làm điều đó. Nếu họ muốn tự làm, thì hãy cứ để họ tự làm ! Chúng tôi chỉ yêu cầu có một điều nhỏ thôi ! Hãy cho chúng tôi quyền quản lý chương trình. Nói một cách khác, về mặt quản trị, tôi sẽ không chấp nhận việc đại diện của ba bên ngồi quanh bàn quyết định tất cả các khía cạnh kỹ thuật cần thiết để vận hành một chiếc phi cơ tối tân như vậy ! » Ông Xavier Tytelman, cố vấn về hàng không và không gian, coi bí mật công nghệ là bất đồng chủ yếu, không thể vượt qua được giữa hai tập đoàn Pháp và Đức: « Vấn đề là ba quốc gia này không có cùng một loại năng lực chuyên môn. Pháp, với máy bay Rafale, là quốc gia châu Âu duy nhất thực sự tự phát triển được một loại máy bay, hoàn toàn từ A đến Z. Trong khi đó, Đức chỉ nắm được khoảng 1/3 công nghệ chế tạo phi cơ Eurofighter, cùng với Anh, Tây Ban Nha và Ý. Đức muốn tham gia phát triển 30% máy bay chiến đấu thế hệ thứ 6 SCAF này. Nhưng khi ta nói với họ về 30% công việc, thì không phải chỉ là với lĩnh vực tác chiến điện tử và trí tuệ nhân tạo, mà họ muốn nắm 30% của mọi thứ. Ví dụ như hệ thống điều khiển bay, lĩnh vực mà Dassault đã là nhà sản xuất hàng đầu thế giới, kết quả của hàng chục năm tìm tòi, nghiên cứu. Phía Đức muốn tham gia 30%, nhưng điều đó đồng nghĩa với việc họ có quyền truy cập vào toàn bộ mã nguồn và về mặt logic, điều đó sẽ dẫn đến việc bí mật công nghiệp bị tước đoạt, gây thiệt hại cho Pháp và Dassault. Vì vậy, có sự bất đồng giữa Pháp, quốc gia không muốn đánh mất công nghệ, cùng Dassault, công ty đang bảo vệ một cách quyết liệt thành quả công nghiệp nửa thế kỷ của mình, và phía bên kia là Đức, tin rằng bất luận thế nào, Pháp không thể làm được nếu thiếu Đức, vì vậy sẽ buộc phải nhân nhượng các bí mật công nghiệp. » Thay đổi lớn mới đây trong « tương quan lực lượng » Pháp – Đức Những thách thức trong việc duy trì hợp tác Pháp – Đức trong dự án công nghệ quốc phòng này không chỉ liên quan đến các bất đồng về bí mật công nghệ giữa hai tập đoàn Dassault và Airbus, mà còn liên quan đến bối cảnh chung rộng lớn hơn. Đó là nước Đức đang trên đường nhanh chóng trở thành một cường quốc quân sự, trong lúc cho đến gần đây, Berlin vẫn tự khẳng định chỉ là « một cường quốc tế kinh tế » và Paris mới là « một cường quốc ngoại giao và quân sự ». Bên cạnh đó, lĩnh vực công nghiệp của nước Đức cũng đang trải qua những khó khăn chồng chất gây nhiều căng thẳng trong nước. Đọc thêm : SCAF - “Chiến đấu cơ tương lai” vẫn là tàu bay giấy vì bất đồng Pháp-Đức Ông Paul Maurice, chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức, thuộc Viện Pháp về quan hệ quốc tế IFRI, trong bài trả lời phỏng vấn báo La Croix, đăng ngày 23/02/2026, nhấn mạnh những thay đổi nói trên đang làm chuyển dịch « tương quan lực lượng » (rapport de force) giữa hai nước. Các bất đồng Pháp – Đức trong dự án SCAF vốn đã không ít, trong bối cảnh này lại càng trở nên các chủ đề nhạy cảm hơn trong quan hệ song phương. Nguyên nhân căn bản nhất : Các bất đồng về « nhu cầu chiến lược » Tuy nhiên, các bất đồng về « các nhu cầu chiến lược » dường như là lý do căn bản có thể khiến dự án SCAF đổ vỡ hoàn toàn. Chuyên gia Paul Maurice, Viện IFRI, nêu bật vấn đề này : « Đó là một dự án phức tạp ngay từ đầu. Vì nhiều lý do. Các nhu cầu về chiến lược (besoins stratégiques) dường như đã chưa được xác định rõ ràng. Sự tham gia của Tây Ban Nha vào dự án năm 2019 đã không giải quyết được vấn đề phân chia nhiệm vụ. Tập đoàn Dassault rõ ràng không phải là một đối tác dễ chơi, nhưng phía Đức cũng phản ứng quá nặng nề với Dassault. Tất cả những điều này đều phức tạp, nhưng không phải là mới. Điều mới hiện nay là dự án hiện đang bị chỉ trích ở cấp độ chính trị. Mà Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai này (SCAF) trước hết và trên hết là một dự án chính trị. Cho đến gần đây, hai bộ trưởng quốc phòng Đức và Pháp, ông Boris Pistorius và ông Sébastien Lecornu, nay là thủ tướng, vẫn ủng hộ và thúc đẩy dự án, bất chấp những khó khăn về hành chính và công nghiệp. Nhưng một khi đồng thuận về chính trị mất đi, mọi việc sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều. » Pháp và Đức từng vượt qua những khó khăn tưởng chừng bất khả Ông Guillaume Faury, giám đốc điều hành của tập đoàn Airbus, đại diện cho Đức và Tây Ban Nha, trong cuộc trả lời phỏng vấn đài Pháp BFM Business, đăng tải ngày 20/02/2026, ít ngày sau tuyên bố của thủ tướng Đức, đã ghi nhận tình trạng bế tắc khó khai thông hiện nay của dự án SCAF. Nhưng lãnh đạo Airbus cũng bày tỏ hy vọng các trở ngại rút cục sẽ phải được vượt qua, bởi đây là một dự án hết sức quan trọng đối với chiến lược quốc phòng của châu Âu : « Chắc chắn là chúng ta đang chật vật trong việc tìm hướng đi phía trước. Nhiều mối quan hệ đã bị phá vỡ
more
Vì sao Trump phân chia thế giới thành ba đế chế ?
2026/02/12
Can thiệp quân sự chớp nhoáng vào Venezuela, đe dọa sáp nhập quần đảo Groenland, gây áp lực mạnh đối với Colombia và Cuba, tổng thống Mỹ Donald Trump đã có một cách chào đón năm mới 2026 khiến thế giới sững sờ. Nhưng những gì ông Trump đang làm đều tuân theo một lô-gic kép : Đầu tiên là chủ nghĩa bành trướng của Mỹ và tiếp đến là thiết lập một trật tự địa chính trị mới trên phạm vi toàn cầu. Thế giới quan này của Mỹ không phải là điều gì mới mẻ. Sử gia Pierre Singaravélou nói đến « sự trở lại và tiếp tục của chủ nghĩa thực dân, một làn sóng chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ » (France 5 ngày 11/01/2026). Nhà địa chính trị học Florian Louis nhắc lại Hoa Kỳ về cơ bản là « một quốc gia thực dân » (Les Echos ngày 18/01/2026). Hoa Kỳ : « Quốc gia thực dân » Nhìn lại lịch sử, xuất phát từ 13 thuộc địa cũ ở bờ đông Bắc Mỹ vào thời điểm Anh Quốc công nhận độc lập vào năm 1783, Hoa Kỳ đã dần « mở rộng bờ cõi về phía Tây » bằng mọi cách cần thiết, chủ yếu theo hai phương pháp chính : Bạo lực chống lại các cộng đồng bản địa, các cường quốc thực dân cũ, Pháp cùng Vương quốc Anh và Tiền bạc cho tất cả những điều còn lại. Nếu nhìn kỹ trên bản đồ, những cuộc chinh phục lãnh thổ đó chỉ mở rộng sang phía Tây và lên phía Bắc, như mua bang Louisiana năm 1803, Florida năm 1819, các bang Tây Nam nước Mỹ thuộc phía bắc Mêhicô lần lượt trong các năm 1848 và 1853, hay đợt mua lãnh thổ quan trọng sau cùng là bang Alaska năm 1867, mà chưa bao giờ mở rộng xuống hẳn phía nam bán cầu. Do vậy, việc đòi mua Groenland là hoàn toàn phù hợp với đường lối này trong lịch sử Hoa Kỳ.  Giảng viên Florian Louis, trường Đại học Sư phạm, biên tập viên trang địa chính trị Le Grand Continent, trong mục Plan Carte của Les Echos, giải thích:  « Hoa Kỳ tỏ ra rất do dự về việc mở rộng bờ cõi xuống phía nam. Họ tìm cách mở rộng ảnh hưởng, thế thống trị hơn là mở rộng lãnh thổ (…) Ở phía nam, không có điều mà Mỹ gọi là những người WASP (viết tắt của White Anglo-Saxon Protestant), tức người da trắng gốc Anh theo đạo Tin Lành. Đây là khu vực của những người Công Giáo gốc La-tinh, người lai. Và điều đó từ lâu khiến người Mỹ sợ hãi và vẫn tiếp tục khiến nhiều người trong số họ lo sợ, đặc biệt là Donald Trump ». « Tây bán cầu »: Sân sau của Mỹ ! Quả thật, tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ nói đến sáp nhập hay xâm chiếm Canada, Groenland, nhưng cho xây tường ở biên giới giữa Mỹ và Mêhicô. Rõ ràng là có những nơi để sáp nhập và có những nơi chỉ để thống trị. Và một trong những giải pháp để duy trì uy lực của Mỹ là một hình thức co cụm, không phải khép mình thành một nước biệt lập, mà là vào toàn bộ lục địa châu Mỹ. Thế nên mới có khái niệm khác quan trọng hơn : « Bán cầu » ! Giáo sư địa lý Vincent Capdepuy, chuyên gia về đồ họa, trả lời Les Echos lưu ý khái niệm « bán cầu » đã có từ xa xưa. Những bản vẽ đồ họa cổ nhất do thầy tu và nhà đồ họa Franciscus Monacus công bố năm 1524 cho thấy hai bản đồ nhỏ được đặt đối diện nhau, hai quả địa cầu, hai bán cầu với hai tiêu đề khác nhau : « Bên trái là một quả địa cầu tượng trưng điều mà người ta có thể gọi là lục địa Âu – Á – Phi, tức bao gồm châu Âu, châu Phi và châu Á. Ở trang bên phải, chúng ta có một địa cầu hình bán cầu khác tượng trưng cho châu Mỹ hoặc ít nhất những gì người ta biết về bán cầu này vào đầu thế kỷ XVI. Một bên ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Bồ Đào Nha" và bên kia ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Tây Ban Nha" ». Như vậy, ngay từ đầu thế kỷ 16, người ta đã có một thế giới quan địa chính trị phân chia địa cầu thành Đông và Tây. Và đây chính là tầm nhìn của Mỹ, tin rằng thế giới được phân chia thành Đông và Tây, chứ không phải giữa Bắc và Nam. Thuật ngữ « bán cầu » từ đó đã xuất hiện trong học thuyết Monroe nổi tiếng, về cơ bản quy định rằng mỗi lục địa nên ở yên trong vị trí của mình. Năm 1904, tổng thống Théodore Roosevelt còn bổ sung một hệ luận cho học thuyết này khi nhiều lần dùng đến thuật ngữ « Tây bán cầu », trở thành một trong những diễn ngôn chiến lược của Mỹ trong suốt nhiều thập niên sau đó, như cho thành lập Văn phòng Phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu năm 1999, Cục phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu trực thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia năm 2001, và gần đây nhất tái cơ cấu quân đội Mỹ với việc thành lập Bộ Tư lệnh Tây bán cầu tháng 12/2025. Theo phân tích Florian Louis, chính trong lô-gic Tây bán cầu mà người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chủ nghĩa biệt lập Mỹ : « Trên thực tế, người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chúng trong phát biểu chia tay nổi tiếng của George Washington vào cuối nhiệm kỳ tổng thống của ông. Trong bài phát biểu này, nói một cách đơn giản, ông nói với người dân Mỹ rằng "những rắc rối của châu Âu là vấn đề của họ, của người dân châu Âu. Tốt nhất là chúng ta chớ nên can thiệp vào đó, chúng ta ở rất xa châu Âu". Đây chính là nguồn gốc của điều mà người ta có thể gọi là chủ nghĩa biệt lập Hoa Kỳ ». Xét cho cùng, thế giới là một đại dương bao la với hai hòn đảo, một đảo cực lớn, có thể được gọi là Á-Âu, và một hòn đảo nhỏ hơn tức châu Mỹ. Hai vùng biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương giống như những con hào bảo vệ pháo đài châu Mỹ với một loại thành trì ở trung tâm là Hoa Kỳ khỏi phần còn lại của thế giới, tức là Á-Âu. Trong nhãn quan này, tự cô lập với phần còn lại của thế giới và tập trung vào lục địa châu Mỹ vừa là cách để củng cố thế thống trị của Mỹ, vừa để tự bảo vệ mình. Như vậy, trên phương diện địa chính trị toàn cầu, những hành động gần đây của chính quyền Trump là một bước ngoặt thực sự so với những gì Hoa Kỳ đã quen làm đối với châu Âu từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Theo nhà địa chính trị học Florian Louis, đây là « một kiểu thoái lui của sức mạnh Mỹ, không còn tập trung bảo đảm an ninh thế giới như đã từng làm, ít nhất là từ sau Thế Chiến Thứ Hai, mà là tập trung bảo đảm an ninh cho toàn bộ lục địa châu Mỹ ». Chủ nghĩa đế quốc tài nguyên Nhưng bước thứ hai trong chiến lược gia tăng ảnh hưởng, kiểm soát an ninh tại châu lục mới là điều quan trọng. Hoa Kỳ sẽ phải tăng tốc can thiệp vào toàn bộ châu lục như những gì đã diễn ra vào đầu năm mới 2026 : Từ bắt cóc tổng thống Venezuela Nicolas Maduro, đòi sáp nhập quần đảo Groenland, đến đe dọa Cuba và Colombia… Mục tiêu là nhằm chứng tỏ Hoa Kỳ đang ở trong sân nhà của mình tại châu Mỹ và họ có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Điều này cũng chẳng phải là mới. Trong quá khứ, giai đoạn 1898 – 1994, Mỹ đã hơn 40 lần can thiệp cả trực tiếp lẫn gián tiếp vào Nam Mỹ, dẫn đến việc thay đổi các chính phủ. Tuy nhiên, điểm mới nhất hiện nay là Washington không dung thứ cho một sự can thiệp nào từ các cường quốc khác vào lục địa. Khi nói về việc Trung Quốc kiểm soát kênh đào Panama và biện minh cho việc đòi sáp nhập Groenland, nguyên thủ Mỹ còn có một dụng ý : Ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên ! Nói một cách khác, quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên dường như đang là kim chỉ nam cho xu hướng địa chính trị mới. Hoa Kỳ can thiệp để chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên không phải là điều bí mật, nhưng chưa bao giờ thừa nhận. Trong vụ Venezuela, tổng thống Trump công khai tuyên bố can thiệp để kiểm soát tài nguyên. Hành động này còn nhằm mục đích ngăn chặn các nước khác làm điều tương tự. Chiến lược này đã được ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio giải thích rõ vào ngày 05/01/2026 trên kênh truyền hình NBC, khi một lần nữa viện dẫn đến khái niệm về « Tây bán cầu » : « Hoa Kỳ đâu cần đến dầu mỏ của Venezuela. Thứ này có rất nhiều ở Mỹ. Điều mà Hoa Kỳ sẽ không cho phép là ngành công nghiệp dầu khí của Venezuela lại do các đối thủ của Mỹ kiểm soát. Quý vị có hiểu là tại sao Trung Quốc c
more
Hiệp định Mỹ-Nga New Start hết hiệu lực: Nguy cơ bùng phát chạy đua hạt nhân ?
2026/02/05
Ngày 05/02/2026, hiệp định kiểm soát vũ khí hạt nhân chiến lược Mỹ - Nga New Start hết hiệu lực. Washington và Matxcơva không triển hạn hiệp ước được coi là thỏa thuận cuối cùng về vũ khí hạt nhân giữa hai đại cường. Nhiều người lo ngại về nguy cơ chạy đua hạt nhân bùng phát. Hiệp định hạt nhân New Start, được ký kết tại Praha năm 2010 dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama và tổng thống Nga Dmitri Medvedev, liên quan đến việc kiểm soát các vũ khí hạt nhân tấn công chiến lược. Cụ thể là giới hạn số đầu đạn hạt nhân của mỗi nước là 1.550, và tổng số phương tiện dàn phóng và oanh tạc cơ, triển khai và chưa triển khai là 800. Hiệp ước New Start không bao gồm các vũ khí hạt nhân chiến thuật, tên lửa hành trình, tên lửa siêu thanh, cùng các vũ khí không gian, các phương tiện tấn công tin học. New Start: « Thế cân bằng chiến lược » mong manh thời hậu Chiến tranh Lạnh Hiệp định New Start được triển hạn thêm 5 năm kể từ 2021 và hết hạn hôm nay. Bất chấp các áp lực quốc tế, Nga và Mỹ rút cục đã không gia hạn  hiệp ước quan trọng này. Tối hôm qua, 04/02, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, tổng thư ký Antonio Guterres cảnh báo đây là « một thời điểm nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế », khi hai cường quốc sở hữu phần lớn kho vũ khí hạt nhân thế giới chấm dứt thỏa thuận pháp lý duy nhất ràng buộc hai bên, cho phép kiểm soát thế cân bằng về loại vũ khí răn đe mang tính hủy diệt này. Tình thế này vô cùng nguy hiểm, trong bối cảnh vũ khí hạt nhân ngày càng có nguy cơ bị sử dụng trong các xung đột. « Từ thời điểm sự cân bằng chiến lược này bị phá vỡ và nếu một cường quốc hạt nhân quyết định leo thang như điều chúng ta lo ngại với Nga trong bối cảnh chiến tranh ở Ukraina, sẽ có nguy cơ các sự kiện vượt khỏi tầm kiểm soát », theo Alain De Neve, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh và Quốc phòng Bỉ (IRSD) (bài « Đê vỡ »: nguy cơ xung đột hạt nhân gia tăng khi hiệp ước New START hết hiệu lực ngày 5/2, RTBF, ngày 02/02/2026). Cuộc chiến bốn ngày Ấn Độ - Pakistan hồi năm 2025 cho thấy vũ khí hạt nhân không hề bảo đảm là quốc gia sở hữu không bị tấn công.  Cũng hôm qua, giáo hoàng Lêô XIV đưa ra cùng cảnh báo: « Ngày mai, Hiệp ước New START hết hạn. Hiệp ước, được ký kết năm 2010 bởi hai tổng thống Mỹ, Nga, đại diện cho một bước tiến quan trọng trong việc hạn chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân. Tôi khẩn thiết kêu gọi tìm cách đảm bảo một sự tiếp nối cụ thể và hiệu quả. » Những hệ quả khi New Start chấm dứt: Lá chắn Golden Dome của Mỹ, Nga phát triển vũ khí tối tân mới… Việc Nga và Mỹ không triển hạn Hiệp định New Start có tác động ra sao đối với nguy cơ bùng phát chạy đua vũ trang, ông Daryl Kimball, giám đốc điều hành Hiệp hội Kiểm soát Vũ khí (Arms Control Association - ACA), trụ sở tại Washington D.C, thành lập từ năm 1971, giải thích: « Chúng ta đã đến tình trạng là, với việc hiệp ước này hết hạn, cả hai bên có thể, lần đầu tiên sau khoảng 35 năm, gia tăng tăng đáng kể số lượng vũ khí hạt nhân hiện có. Và điều này sẽ mở ra cánh cửa cho một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm và không kiểm soát, không chỉ giữa Hoa Kỳ và Nga, mà còn liên quan đến Trung Quốc, quốc gia cũng đang tăng cường kho vũ khí hạt nhân, ít hơn nhưng vẫn rất nguy hiểm, để đáp trả hệ thống lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ, bằng cách phát triển vũ khí tấn công đến mức làm bão hòa hệ thống, và tự tin có thể trả đũa bằng vũ khí hạt nhân. Điều này sẽ không giúp giảm bớt hoặc làm chậm lại cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Trên thực tế, nó sẽ làm tăng tốc. Đây là điều chúng ta thực sự cần tập trung trong năm nay và những năm tiếp theo. Thời điểm này thực sự đánh dấu một bước ngoặt rất quan trọng, đưa chúng ta vào một thời kỳ cạnh tranh hạt nhân toàn cầu nguy hiểm và khó lường gấp bội, một thời kỳ mà chúng ta hoàn toàn chưa từng chứng kiến. » Số lượng vũ khí hạt nhân hiện có, chưa cần tăng thêm, đã đủ hủy hiệt nền văn minh nhân loại, theo nhiều chuyên gia. Với việc Nga, Mỹ không triển hạn New Start, nhân loại gần đại thảm họa hơn bao giờ hết. Không phải ngẫu nhiên mà với Đồng hồ Tận thế do các nhà khoa học nguyên tử (Bulletin of the Atomic Scientists - BAS) Mỹ lập ra, theo sáng kiến của nhà bác học Albert Einstein, để báo động nhân loại trước đe dọa sống còn (như bom nguyên tử, biến đổi khí hậu…), kim đồng hồ chỉ còn cách nửa đêm (tức giờ Tận Thế) có 85 giây, gần hơn 4 giây so với năm ngoái, gần nhất từ trước đến nay, hơn cả khi Mỹ và Liên Xô bên bờ vực chiến tranh hạt nhân. Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Về vấn đề này, phía Nga và Mỹ đưa ra những giải thích khác nhau. Phát ngôn viên điện Kremlin, Dmitri Peskov, một mặt thừa nhận mối nguy hiểm của việc không triển hạn Hiệp định New Start, mặt khác đổ lỗi cho phía Washington không đáp ứng sáng kiến của Matxcơva :   « Quý vị đều biết rằng sáng kiến ​​của Nga, được tổng thống Putin nêu rõ, vẫn đang được xem xét. Chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía Mỹ về sáng kiến ​​này. Thật vậy, thời gian đang trôi qua nhanh như chớp, và chỉ trong vài ngày nữa, thế giới có thể sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn nhiều so với hiện tại. Trên thực tế, lần đầu tiên, Mỹ và Liên bang Nga, hai quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, sẽ không có một văn kiện nền tảng nào để hạn chế và kiểm soát các kho vũ khí này. Chúng tôi hiểu rằng tình hình này là rất tồi tệ, rất tồi tệ đối với an ninh toàn cầu, đối với an ninh chiến lược. » Về phía Mỹ, ngoại trưởng Marco Rubio cho rằng nguyên nhân chính của việc New Start không được triển hạn là do Trung Quốc, một cường quốc hạt nhân đang lên, không chấp nhận tham gia đàm phán về một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân mới : « Bạn biết đấy, tổng thống Donald Trump đã từng nói rõ rằng, để có được sự kiểm soát vũ khí thực sự trong thế kỷ 21, không thể làm bất cứ điều gì mà không bao gồm Trung Quốc, bởi vì nước này có một kho vũ khí hạt nhân khổng lồ và đang phát triển nhanh chóng.» Đối đầu hạt nhân: Từ lưỡng cực đang chuyển thành thế « tam cực » Đòi hỏi Trung Quốc tham gia vào một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân là quan điểm của nhiều đời tổng thống Mỹ. Ông Robert Peters, nghiên cứu viên cao cấp về Răn đe chiến lược tại Trung tâm Allison, thuộc Heritage Foundation, trong một cuộc tọa đàm của Viện tư vấn The International Institute for Strategic Studies IISS, Luân Đôn, giải thích rõ hơn về ý nghĩa của việc Mỹ không muốn gia hạn New Start trong tình trạng hiện nay : « Quan điểm của tôi là việc để New START hết hạn có lợi cho Hoa Kỳ. Trong khi việc gia hạn New START chỉ là một thỏa thuận chính trị để tiếp tục các giới hạn hiện tại về đầu đạn hạt nhân chiến lược đã triển khai, mà không có cơ chế thanh tra vũ khí. Việc gia hạn mà không bao gồm các biện pháp thanh tra và xác minh mới, sẽ có lợi cho Nga và Trung Quốc, nhưng gần như chắc chắn không có lợi cho Hoa Kỳ, cũng như các đồng minh của chúng ta ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, hoặc châu Âu. Trung Quốc là cường quốc hạt nhân phát triển nhanh nhất trên hành tinh. Họ đang chế tạo 100 đầu đạn mới mỗi năm và hiện có nhiều hầm chứa tên lửa đạn đạo ICBM nhiều hơn số hầm chứa các tên lửa ICBM của Hoa Kỳ. New START không giải quyết được điều này. New START cũng không giải quyết được 2.000 vũ khí hạt nhân phi chiến lược của Nga. Nhưng việc để New START hết hạn sẽ mang lại cho Hoa Kỳ một số lựa chọn. Nếu Hoa Kỳ tăng số đầu đạn hạt nhân trên mỗi ICBM từ một lên hai, điều này sẽ cho phép chúng ta đặt cả mục tiêu hạt nhân chiến lược của Trung Quốc và Nga vào tình trạng nguy hiểm mà không cần phải triển khai thêm tên lửa… ». 1.500 đầu đạn hạt nhân : Ám ảnh Mỹ, Nga về hiểm họa Trung Quốc Hiệp định New Sta
more
« Chiến lược Quốc phòng 2026 » : Mỹ làm sáng tỏ thứ tự các ưu tiên chiến lược
2026/01/29
Ngày 23/01/2026, bộ Quốc Phòng Mỹ công bố Chiến lược Quốc phòng mới (NDS) cho 5 năm sắp tới, đặt trọng tâm vào việc thống trị Tây Bán Cầu thay vì mục tiêu lâu dài là đối đầu với Trung Quốc, đồng thời kêu gọi các đồng minh của Mỹ nên « tự lo » cho an ninh của mình, tuy vẫn cam kết duy trì hỗ trợ nhưng « có giới hạn ». Trước hết, trang CSIS (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế) có trụ sở ở Mỹ, giải thích, Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) là kết quả cuộc xem xét toàn diện, đáp ứng các yêu cầu của Quốc Hội theo đó, bộ trưởng Quốc Phòng phải công bố một « khuôn khổ chiến lược » để giải quyết các « nhiệm vụ ưu tiên của bộ Quốc Phòng » và « môi trường chiến lược giả định ». Trước năm 2018, quá trình xem xét này được gọi là « Đánh giá Quốc phòng bốn năm một lần » (QDR), thay cho thông lệ công bố các đánh giá chiến lược bốn năm một lần được bắt đầu với « Đánh giá từ Thấp đến Cao » (BUR) thời chính quyền Clinton năm 1993. Chiến lược Quốc phòng Quốc gia 2026 (NDS 2026), dài 34 trang, cho thấy có những thay đổi căn bản trong cách đánh giá. Truyền thông Pháp nói đến « một bước rẽ lớn » của chính quyền Trump II so với nhiệm kỳ I. Trọng tâm chiến lược xoay quanh bốn trục chính được đặt theo một thứ tự ưu tiên rất rõ ràng. Tây Bán Cầu ưu tiên tuyệt đối Thứ nhất, chính quyền Trump II coi việc bảo vệ nghiêm ngặt lãnh thổ quốc gia là một ưu tiên tuyệt đối. Và trên hết, điều này gắn liền với thế thống trị của Mỹ ở Tây Bán Cầu, tức toàn bộ châu lục châu Mỹ, đi từ Goenland (ở Bắc Cực) đến tận Tierra del Fuego, vùng Đất Lửa (ở Nam Cực). Chiến lược này, theo nhận định của nhà nghiên cứu Elie Tenenbaum, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), là một sự « thể hiện trực tiếp khẩu hiệu "Nước Mỹ trên hết" ». Ngoài việc khẳng định sử dụng mọi phương tiện quân sự để bảo vệ biên giới và lãnh hải của Mỹ, tài liệu NDS 2026 còn tuyên bố « bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại toàn vùng Tây Bán Cầu », nhất là quyền tiếp cận quân sự và thương mại của Mỹ tại những khu vực trọng yếu. Trả lời RFI Pháp ngữ, giáo sư Isabelle Vagnoux, chuyên gia về chính sách đối ngoại Mỹ, trường đại học Aix-Marseille, giải thích đâu là những nguy cơ hiểm họa từ bên ngoài theo quan điểm của chính quyền Trump : « Về mối đe dọa tiềm tàng từ một thế lực bên ngoài, kênh đào Panama là một ví dụ điển hình bởi vì Trung Quốc đầu tư rất nhiều vào đó. Hiện Bắc Kinh đang xem xét lại một số cam kết nhưng Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào các cảng biển, những cơ sở vô cùng quan trọng cho vận chuyển hàng hóa. Vì vậy, điều đó được xem như là một mối đe dọa cho an ninh Hoa Kỳ. Vịnh Mêhicô và vùng biển Caribê cũng là một mối lo ngại bởi vì hai khu vực này bao gồm cả Florida và miền nam nước Mỹ. Thế nên, việc nhiều thế lực nước ngoài không hẳn là thân thiện, đầu tư hoặc can thiệp vào những khu vực này đã từng được coi là mối đe dọa cho an ninh nước Mỹ, và đó chính xác là những gì chúng ta đang chứng kiến. » Trung Quốc là cường quốc kinh tế - quân sự « cần phải ngăn chặn » Thứ hai, chính quyền Trump II thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc kinh tế và quân sự, một thế lực ổn định ở vùng châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, sự lớn mạnh nhanh chóng về quy mô cũng như là chất lượng quân sự của Trung Quốc bao gồm cả các lực lượng được thiết kế cho các hoạt động ở Tây Thái Bình Dương (nhìn từ phía Mỹ) cùng với khả năng vươn tới các mục tiêu xa khiến Mỹ lo lắng cho các lợi ích của mình do việc vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương trong tương lai sẽ chiếm đến hơn một nửa nền kinh tế toàn cầu. NDS 2026 của Mỹ cho rằng « an ninh, tự do và thịnh vượng của Mỹ » phụ thuộc nhiều vào khả năng « giao thương và tham gia trong thế mạnh » của Mỹ trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Việc Trung Quốc – hay một quốc gia nào khác – thống trị khu vực có thể ngăn chặn hiệu quả « khả năng tiếp cận của Mỹ với trung tâm kinh tế toàn cầu, gây ra những hậu quả lâu dài đối với triển vọng kinh tế quốc gia, bao gồm cả khả năng tái công nghiệp hóa của Mỹ ». Trong tầm nhìn này, tuy không một lời nhắc đến Đài Loan – một điểm gây ngạc nhiên cho giới quan sát – nhưng NDS 2026 cho biết Hoa Kỳ sẽ thiết lập một « hệ thống phòng thủ vững chắc dọc theo chuỗi đảo thứ nhất », khuyến khích và hỗ trợ các đồng minh, đối tác chính yếu trong khu vực can dự nhiều hơn vào việc phòng thủ chung. Nhưng NDS cũng khẳng định rằng mục tiêu đề ra là « không nhằm thống trị Trung Quốc, không bóp nghẹt cũng không làm nhục Trung Quốc » mà để « duy trì thế cân bằng lực lượng quân sự trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương », ngăn chặn Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào có thể thống trị Mỹ hay các nước đồng minh của Mỹ. Đối với nhà nghiên cứu về chính sách đối ngoại Mỹ, Isabelle Vagnoux, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc vẫn có một sự liên tục. Điểm thay đổi ở đây là giọng điệu của chính quyền Trump có vẻ hòa dịu hơn so với nhiệm kỳ đầu tiên. « Donald Trump từng có một bước ngoặt rõ ràng hướng đến vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, xem Trung Quốc là mối đe dọa chính cho an ninh nước Mỹ. Điều này đã có dưới thời Obama nhưng còn khá kín đáo. Chính quyền Trump nhiệm kỳ I là chính quyền đầu tiên thực sự coi Trung Quốc là kẻ thù và đã tăng cường các mối quan hệ đồng minh, bao gồm cả liên minh quân sự tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Hơn nữa, ông Biden đã theo đuổi đường lối tương tự. Nhưng trong chiến lược mới này, Trung Quốc được đối xử khá tốt đó là vì ông Trump từ chối mọi sự đối đầu. Điều ông muốn chứng tỏ ở đây là Mỹ vẫn tiếp tục duy trì vị thế mạnh mẽ tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương nhưng tránh mọi sự đối đầu. » Đồng minh nên « tự lo » an ninh của chính mình Ưu tiên thứ ba được NDS đề cập đến là « Tăng cường chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ ». Giống như NSS đã dự kiến, đây là chiến lược tham gia có mục tiêu ở nước ngoài, tập trung rõ ràng vào việc thúc đẩy các lợi ích cụ thể và thiết thực của Mỹ. Trong cách tiếp cận « Nước Mỹ trên hết » và dựa theo lẽ thường, các mối liên minh và đối tác với Mỹ đóng vai trò quan trọng. Ngoài hai ưu tiên trên, NDS 2026 nhìn nhận sự tồn tại dai dẳng của nhiều mối đe dọa khác, nhưng cho rằng các nước đồng minh từ Á đến Âu nên gánh vác phần lớn trọng trách và trên tuyến đầu vì đó là lợi ích của chính các nước đó, để ngăn chặn và làm đối trọng với Trung Quốc ở Ấn Độ - Thái Bình Dương hay đối phó với mối họa hạt nhân Bắc Triều Tiên ở Đông Bắc Á hay nguy cơ chiến tranh với Nga tại châu Âu, vốn dĩ được đánh giá là « ít nghiêm trọng hơn » cho Mỹ và không đe dọa đến Mỹ. Do vậy, NDS hối thúc các nước đồng minh nên nhanh chóng đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu mới do tổng thống Trump thiết lập tại thượng đỉnh NATO ở La Haye năm 2025, theo đó, các nước đồng minh nên dành chi tiêu cho quốc phòng là 5% và Hoa Kỳ chỉ sẽ cung cấp các hỗ trợ quân sự cần thiết một khi các nước thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trên. Nhìn từ góc độ này, nhà nghiên cứu Elie Tenenbaum, trả lời báo Pháp Le Figaro đánh giá, « Hoa Kỳ dự định sẽ tiếp tục tham gia, nhưng ở mức độ hạn chế hơn. Trách nhiệm chính hiện nay thuộc về các đồng minh, với trọng tâm là tăng chi tiêu quốc phòng. Đặc biệt, Israel đang được coi là một “đồng minh kiểu mẫu”, có khả năng đảm bảo quốc phòng cho chính mình. Thông điệp đưa ra, theo một nghĩa nào đó, là “Quý vị hãy tự lo cho mình, rồi Mỹ sẽ giúp quý vị”. » Phục hồi nền công nghiệp Mỹ Cuối cùng, NDS 2026 đặt ưu tiên cho việc « tăng cường sức sống cho nền tảng công nghiệp quốc phòng Mỹ ». Chính quyền Trump II kỳ vọng phục hồi nền công nghiệp Mỹ bằng cách đưa các ngành công nghiệp chiến lược trở về Mỹ và hồi sinh những ngành công nghiệp mà các thế
more
Dựa Mỹ để bảo vệ Ukraina hay bảo vệ Groenland chống Mỹ: Châu Âu bị đẩy vào thế đường cùng
2026/01/22
Đầu năm 2026, phe cầm quyền của tổng thống Mỹ Donald Trump một lần nữa khiến nhiều đồng minh châu Âu « choáng váng », khi đơn phương tuyên bố Washington sẽ kiểm soát đảo Groenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch, thành viên khối NATO, trong ít tuần lễ tới. Hành xử của Nhà Trắng đẩy châu Âu vào thế đường cùng. Châu Âu phản ứng ra sao ? Vụ Groenland nói gì về quan hệ Hoa Kỳ - Châu Âu đang bước vào giai đoạn ngày càng bất định ? Hãy bỏ rơi Groenland để đổi lấy « an ninh cho Ukraina »: Trump ngửa bài Tối 04/01/2026, hơn một ngày sau chiến dịch tấn công chớp nhoáng Venezuela, bắt sống tổng thống quốc gia Nam Mỹ đưa về Hoa Kỳ, Donald Trump tuyên bố nước Mỹ cần đảo Groenland « vì lý do an ninh quốc gia ». Để bảo vệ vùng Bắc Cực ở Bắc Đại Tây Dương khỏi các tham vọng của Nga và Trung Quốc, như ông Trump liên tục nhấn mạnh lâu nay. Tổng thống Mỹ khẳng định như đinh đóng cột : « chúng tôi sẽ kiểm soát Groenland trong khoảng hai tháng nữa… chúng tôi sẽ trở lại bàn về Groenland trong 20 ngày nữa ». Một ngày trước đó, bà Katie Miller, vợ của phó văn phòng Nhà Trắng Stephen Miller ( được coi là người có nhiều ảnh hưởng với chính sách quốc tế của tổng thống Mỹ), trên mạng X, đăng tải hình lá cờ Mỹ trên đảo Groenland với một chữ hoa duy nhất « SOON » (tạm dịch là : SẮP RỒI). Nửa tháng sau, lá bài lật ngửa. Trước thềm Diễn đàn Kinh tế thường niên Davos (Thụy Sĩ), quy tụ giới lãnh đạo toàn cầu, tổng thống Donald Trump đưa ra một tuyên bố trịch thượng : « Châu Âu nên quên chuyện Groenland đi để tập trung vào hồ sơ Ukraina ». Trả lời đài NBC News, ngày 18/01, bộ trưởng Tài Chính Mỹ Scott Bessent giải thích rõ về lời cảnh báo của tổng thống : « Các nhà lãnh đạo châu Âu sẽ phải hiểu rằng họ cần nằm dưới cái ô bảo đảm an ninh của Mỹ. Điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina, nếu Mỹ rút đi các hỗ trợ? Toàn bộ mọi thứ sẽ sụp đổ. » Nhà báo Pierre Haski chuyên về địa chính trị quốc tế ghi nhận « một tình huống chưa từng có đối với Liên Hiệp Châu Âu », phải cùng lúc đối mặt với các đe dọa từ Nga và Mỹ, trên hai mặt trận « Ukraina và Groenland ». Châu Âu phải đối mặt với cuộc xâm lăng của một đối thủ, « đã từng là đồng minh chính của mình » (« De l’Ukraine au Groenland, l’Europe sous un double feu », Le Nouvel Obs). Sự lúng túng, bị động của châu Âu… Chuyên gia Federico Santopinto, giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), phụ trách Chương trình Châu Âu, Liên Âu, NATO, đưa ra một ghi nhận chung về phản ứng của châu Âu : « Các nước châu Âu hoàn toàn bị choáng váng. Họ không còn biết phải làm gì. Ngay cả người Đức cũng tỏ ra lúng túng. Họ có thể hiểu rõ vấn đề, nhưng thể hiện thái độ gần như thúc thủ bị động. Họ quyết định rút một số binh sĩ đã triển khai trước đó tại Groenland. Tâm trạng choáng váng thông thường kéo dài không lâu. Nhưng lần này là một tình trạng choáng váng kéo dài. Các nước châu Âu chưa thực sự đoàn kết lại để có được một lập trường chung về những thay đổi lớn lao đang diễn ra trên thế giới, và đặc biệt là tại Mỹ. » Đan Mạch chắc chắn là một trong những nước châu Âu bị tác động nặng nề nhất bởi chính sách độc đoán và thô bạo của nước Mỹ, quốc gia thường được coi là đồng minh trụ cột, bời Đan Mạch cũng là một trong các thành viên NATO gắn chặt nhất số phận của mình với nước Mỹ. Đọc thêm - Thủ tướng Đan Mạch: Nếu Mỹ chiếm đảo Groenland, liên minh Âu - Mỹ sẽ tan vỡ Trả lời Radio France, chuyên gia Kristian Soby Kristensen, giám đốc Viện Chiến lược và nghiên cứu về Chiến tranh Học Viện Quốc phòng Hoàng gia Đan Mạch, nhận xét : « Ít nhất trong 30 năm qua đã có sự đồng thuận rộng rãi ở Đan Mạch rằng mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương là nền tảng của chính sách quốc phòng và an ninh của Đan Mạch. Các chính trị gia Đan Mạch đã làm mọi thứ có thể để xích lại gần Mỹ nhiều nhất có thể. Một trong những đồng nghiệp của tôi thường mô tả lập trường của Đan Mạch là phụ thuộc nặng nề vào Mỹ ». … và tâm thế « sung sướng là chư hầu »  Tuy nhiên, không chỉ Đan Mạch mà toàn bộ châu lục phụ thuộc nặng nề vào Mỹ về an ninh. Nhà địa chính trị học Gilles Gressani lưu ý: « Thách thức lớn là các nước châu Âu chúng ta hoàn toàn nằm trong vùng ảnh hưởng của Mỹ. Chúng ta đã bị đặt vào vị thế là chư hầu của Mỹ từ lâu. Về cơ bản, tổng thống Mỹ Donald Trump, khi tìm cách buộc chúng ta phải tuân theo cách nhìn của ông ta, buộc chúng ta phải tuân theo các lợi ích của ông ta, đã thách thức : Các vị có thể làm được gì để có thể chống lại những gì mà tôi áp đặt với các vị ?  Nếu trở ngược lại với lịch sử, có thể thấy châu Âu về mặt nào đó chấp nhận đã là chư hầu của Mỹ ». (« Quel est le plan de Donald Trump pour briser l'UE et l'ordre mondial ? / Đâu là kế hoạch của Donald Trump nhằm phá vỡ Liên Âu và trật tự thế giới ? » - C Ce Soir, ngày 20/01/2026). Nhà địa chính trị học Gilles Gressani, đứng đầu tạp chí chuyên về chính trị quốc tế Le Grand Continent, là tác giả của khái niệm « vassalisation heureuse » (tạm dịch là « sung sướng là chư hầu »), được nhiều người sử dụng sau đó để nhấn mạnh đến hiểm họa, mà ông coi là lớn nhất với các nước châu Âu hiện nay, đó là hoàn toàn bị gạt sang bên lề cuộc chơi toàn cầu, nếu tiếp tục phó thác các vấn đề chiến lược an ninh của châu lục cho nước Mỹ thời Donald Trump, với các tham vọng đế quốc ngày càng thể hiện rõ.  Để Trump lấn tới ở Groenland, Châu Âu sẽ lụi tàn Tâm thế « sung sướng làm chư hầu » của Mỹ ở đa số các nước châu Âu và chính sách quyết đoán, hung hãn của nước Mỹ thời Donald Trump đang đẩy châu Âu vào thế đường cùng. Thái độ bị động của châu Âu trong việc bảo vệ Groenland đặt Liên Âu trước nguy cơ tồn vong. Học giả Jacques Attali, nguyên cố vấn đặc biệt của tổng thống François Mitterand, cảnh báo : « Để đảm bảo sự ủng hộ của Trump cho một thỏa thuận lâu dài nhằm cứu Ukraina, châu Âu đang kiềm chế, không thực hiện bất kỳ biện pháp trả đũa thương mại nào, bất kỳ lệnh trừng phạt kỹ thuật số nào và bất kỳ sự bảo vệ đáng tin cậy nào đối với toàn vẹn lãnh thổ của Groenland. Tính toán này là dễ hiểu, bởi nếu Ukraina sụp đổ, toàn bộ châu Âu - không có sự hỗ trợ của Mỹ - có nguy cơ bị Nga xâm lược. Tuy nhiên, hành động như vậy, châu Âu sẽ không cứu được Ukraina, và họ cũng sẽ mất Groenland. Khi đó, họ sẽ đánh mất chính mình. » (Les Echos, ngày 09/01/2026).  Ba kịch bản với Groenland: Châu Âu đối xử thế nào với « đồng minh kẻ cướp » ? Châu Âu bị đẩy vào thế đường cùng buộc phải tìm lối thoái. Ít ngày sau đe dọa của tổng thống Mỹ sẽ kiểm soát Groenland trong hai tháng tới, Viện Jacques Delors đưa ra ba kịch bản với Groenland (« Groenland : Trois scénarios pour l’Europe face à un allié prédateur /  Groenland: Ba kịch bản cho châu Âu đối mặt với đồng minh kẻ cướp »). Ngoài kịch bản bất lực hay đầu hàng (Viện Jacques Delors gọi là « Kịch bản Munich vùng Bắc Cực »), hai kịch bản còn lại là « Đối đầu » và « Phòng thủ ngăn ngừa, tránh đụng độ » (còn gọi là « Kịch bản răn đe »). Đọc thêm : Tại Mỹ, hai dự luật được trình lên Quốc Hội ngăn chặn chính quyền Trump sáp nhập một đồng minh NATO Theo kịch bản « Phòng thủ theo hướng ngăn ngừa, tránh đụng độ », các quốc gia châu Âu, gồm trước hết Pháp, Anh, Đức và các nước Bắc Âu, triển khai lực lượng một cách kín đáo (tàu chiến, phương tiện trên không, đơn vị bộ binh nhẹ…) tại Groenland theo yêu cầu của Đan Mạch, với danh nghĩa chống Nga và Trung Quốc. Mục tiêu không phải là đối đầu với Mỹ, mà là làm cho việc sáp nhập trở nên « phải trả giá cao về mặt chính trị » đối với phe Trump. Trump sẽ phải ra lệnh tấn công đồng minh và sẽ gặp sự phản đối từ phía Quốc Hội Mỹ. Theo Viện Jacques Delors, trong hoàn cảnh hiện nay kịch bản này là « lựa chọn hợp lý nhất để ngăn chặn việc
more
Dầu lửa, hạt nhân : Hoa Kỳ trong tình trạng « khẩn cấp năng lượng » ?
2026/01/15
Một năm sau khi tuyên bố « tình trạng khẩn cấp năng lượng » tại Mỹ, Donald Trump đã chiếm được quyền kiểm soát dầu hỏa Venezuela. Nhưng trong cuộc cạnh tranh giành thế thống trị năng lượng thế giới với Trung Quốc, Hoa Kỳ không dừng ở nguồn nhiên liệu hóa thạch mà nắm luôn cả năng lượng hạt nhân. Ngày 20/01/2025, trong ngày nhậm chức, nhà tỷ phú Mỹ Donald Trump đã tuyên bố : « Cuộc khủng hoảng lạm phát là do chi tiêu quá mức và giá năng lượng leo thang. Đó là lý do vì sao hôm nay, tôi cũng sẽ tuyên bố tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia. Chúng ta sẽ khoan dầu, khoan dầu, khoan dầu nữa ! » "Khẩn cấp năng lượng" : Nước Mỹ lâm nguy ? Hơn ba tuần sau, ngày 14/02/2025, nguyên thủ Mỹ ký sắc lệnh thành lập « Hội đồng Quốc gia về Thống trị Năng lượng ». Theo Nhà Trắng, hội đồng này sẽ điều phối chính sách năng lượng và đơn giản hóa thủ tục cấp phép, sản xuất và phân phối các nguồn năng lượng khác nhau. Trên đài France Culture ngày 12/01/2026, nhà nghiên cứu Thibault Michel, Trung tâm Năng lượng và Khí hậu thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), trước hết, giải thích quan điểm của chính quyền Trump về « tình trạng khẩn cấp năng lượng ». « Theo tôi, điều cần hiểu trước tiên là chính quyền Trump, ngay từ nhiệm kỳ I, thực sự đã có một cách tiếp cận, đó là sự thống trị năng lượng. Thế thống trị này vượt lên trên cả vấn đề an ninh năng lượng đơn thuần. Rõ ràng đây không chỉ là vấn đề nắm chủ quyền đối với nguồn cung năng lượng của chính mình, mà còn sử dụng năng lượng như một công cụ cả trong thương mại và địa chính trị, một công cụ để gây ảnh hưởng trên toàn thế giới. Và điều này có thể được thực hiện thông qua việc cung cấp dầu mỏ, khí đốt, năng lượng cho toàn cầu. » Và việc ban hành tình trạng khẩn cấp đã cho phép chính quyền Trump có thể hành động thường xuyên bằng sắc lệnh mà không cần thông qua Quốc Hội, đó là những gì ông Trump đã làm khi ký đến sáu hay bảy sắc lệnh ngay sau khi nhậm chức. Nhà nghiên cứu tại viện IFRI giải thích tiếp : « Sau đó còn có những sắc lệnh khác liên quan đến năng lượng hạt nhân. Rõ ràng là có lý do biện minh ở đây như ông Trump đã từng nói trong bài phát biểu hồi tháng 12/2025, xin trích, "tôi thừa hưởng một thảm họa". Vì vậy, đây là tình trạng khẩn cấp, chúng ta phải hành động. Nhưng bên cạnh đó, người ta thực sự đang thấy rõ tham vọng thống trị và tiềm năng mà cách tiếp cận khẩn cấp này mang lại. » Cũng trong ngày nhậm chức, nguyên thủ Mỹ còn nói thêm « điều chúng ta muốn làm là giữ AI, tức trí tuệ nhân tạo, ở trong nước ». Ông thông báo những khoản đầu tư trị giá 500 tỷ đô la của khu vực tư nhân để xây dựng các trung tâm dữ liệu. Đối với bộ trưởng An ninh Nội địa Doug Burgum, « Hoa Kỳ đang lao vào một cuộc đua về vũ khí trên phương diện AI với Trung Quốc. Cách thức duy nhất để giành thắng lợi là có nhiều điện năng hơn nữa ». Trung tâm dữ liệu : Những cỗ máy « háu » năng lượng Theo Le Monde Diplomatique, số ra tháng 01/2026, tại Mỹ trong giai đoạn 2022-2024, đầu tư vào các trung tâm dữ liệu ở chiếm 84% tổng vốn cam kết ở Virginia, bang tập trung nhiều trung tâm nhất. Trên toàn quốc, chi tiêu cho các trung tâm dữ liệu và các hoạt động công nghệ dường như đã giúp tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ thêm 0,5 điểm trong quý 2 năm 2025. Việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu không chỉ mang tính kinh tế, mà còn là một thách thức chiến lược. Trả lời nhà báo độc lập Eva Thiébaud, tác giả bài viết « Vì sao Hoa Kỳ tái khởi động hạt nhân dân sự ? », đăng trên báo Le Monde Diplomatique, chuyên gia về kinh tế - chính trị các giao diện kỹ thuật số Vili Lehdonvirta, đại học Aalto ở Phần Lan, phân tích : « Nhìn từ góc độ quân sự, các tập đoàn công nghệ khổng lồ và các trung tâm dữ liệu của họ hỗ trợ chính phủ bằng cách lưu trữ và xử lý, thông qua trí tuệ nhân tạo, khối lượng thông tin khổng lồ được thu thập từ camera hoặc bộ cảm biến trong vùng chiến sự, như những gì đã xảy ra với Israel và cuộc tấn công của họ ở Palestine. Và ngoài lĩnh vực quân sự, Edward Snowden đã cho chúng ta thấy các công ty công nghệ có thể đồng ý cung cấp quyền truy cập dữ liệu của họ cho chính phủ Mỹ, do đó chúng có một tầm quan trọng đối với tình báo. » Tuy nhiên, việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu và AI tại Mỹ, ngoài những rủi ro địa chính trị như gián đoạn nguồn cung đất hiếm, đang vấp phải một trở ngại lớn ở trong nước : Tình trạng thiếu điện do thiếu mạng lưới truyền tải và đòi hỏi nhiều thời gian để cải thiện. Le Monde Diplomatique nêu ví dụ Dominion, nhà sản xuất, điều hành và phân phối điện lớn nhất tại bang Virginia, hồi tháng 07/2024, đã gởi thư thông báo với khách hàng rằng việc kết nối với các đường dây công suất lớn sẽ phải kéo dài thêm từ 12 đến 36 tháng so với trước đây, tức là phải mất từ 4 đến 7 năm. Hạt nhân : Nguồn năng lượng dồi dào Ngày 23/05/2025, tổng thống Mỹ ký sắc lệnh nhắm mở ra « một kỷ nguyên hạt nhân mới ». Ông kêu gọi triển khai 300GW điện hạt nhân bổ sung từ đây đến năm 2050. Nhà Trắng đầu tư vào 10 lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng từ đây đến năm 2030. Ngày 28/10/2025, Washington thông báo một đối tác chiến lược trị giá 80 tỷ đô la với tập đoàn năng lượng hạt nhân Westinghouse Electric Company, nhằm tái triển khai ngành công nghiệp hạt nhân quốc gia, có khả năng cung cấp năng lượng trước sự bùng nổ nhu cầu từ các trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Trên đài France Culture, nhà báo Eva Thiébaud, giải thích, « Ai cũng nhận thấy hiện nay chúng ta đang trải qua thời kỳ bùng nổ trí tuệ nhân tạo, với rất nhiều trung tâm dữ liệu đang được xây dựng ở Hoa Kỳ, vốn tiêu thụ và sẽ tiếp tục tiêu thụ ngày càng nhiều năng lượng, mặc dù các dự báo hiện tại đầy rẫy sự bất định. Vì vậy, các trung tâm dữ liệu này cần được cung cấp năng lượng, và để làm được điều đó, có một số giải pháp năng lượng khả dụng. Tất nhiên, có các nhà máy điện chạy bằng khí đốt và, tại sao không phải là năng lượng hạt nhân trong tương lai ? Chính vì lẽ đó mà thông báo này đã được đưa ra gần đây. » Ngoài ra, chính quyền Trump còn có thể trông cậy vào các đại tập đoàn công nghệ. Các hãng lớn như Google AI và Google DeepMind, Meta AI, Nvidia, Amazon Web Services (AWS) hay như Microsoft, vốn xem hạt nhân như là một nguồn năng lượng ổn định nhất cho các trung tâm dữ liệu, để phát triển các công nghệ hạt nhân mới như mô hình « lò phản ứng mô-đun nhỏ », một công nghệ được cho là có nhiều lợi thế, có thể cung cấp năng lượng trực tiếp cho các trung tâm dữ liệu, hạn chế phát thải khí nhà kính và tự giải phóng khỏi lưới điện. Hay như việc Trump Media, công ty mẹ của mạng xã hội Truth Social ưa thích của tổng thống Trump, thông báo liên kết với hãng Mỹ TAE chuyên về phát triển công nghệ phản ứng tổng hợp hạt nhân, mà Trung Quốc hiện đang dẫn đầu. Nhưng việc xây dựng các nhà máy hạt nhân dân sự mới không phải là điều dễ dàng, bởi vì, « các nhà máy điện hạt nhân là những dự án cực kỳ phức tạp, cần rất nhiều thời gian để triển khai, và hiện nay năng lượng hạt nhân tiêu tốn của Hoa Kỳ nhiều hơn so với việc xây dựng các nhà máy điện khí đốt », theo như nhận xét của nhà báo Eva Thiébaud. Theo nhà báo độc lập này, « đây là lý do vì sao hiện nay, bên hưởng lợi chính từ sự bùng nổ trí tuệ nhân tạo, vốn tiêu thụ nhiều năng lượng là khí đốt, và có lẽ bước tiếp theo là năng lượng hạt nhân. Nhưng quả thật, năng lượng nguyên tử rất đắt đỏ và rất khó để triển khai. Người ta phải chờ xem chính quyền Trump thực sự có đủ nguồn lực để đáp ứng tham vọng đó hay không. Điều chắc chắn là hiện nay có nhiều thông báo về các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) nhưng chúng ta cần xem liệu việc sản xuất điện bằng các lò phản ứng nhỏ với giá cạnh tranh có khả thi hay không. Hiện tại, các nhà sản xuất lớn tron
more
Can thiệp quân sự chống Venezuela giúp Trump áp đặt quan điểm « Nước Mỹ trên hết »
2026/01/08
Cuộc can thiệp quân sự chớp nhoáng trong vài tiếng đồng hồ của các lực lượng Mỹ tại Venezuela để bắt tổng thống Nicolas Maduro đưa sang Hoa Kỳ ngày 03/01/2026 là một diễn biến bất ngờ với đông đảo công chúng. Hành động không thông qua Quốc Hội Mỹ, đứng ngoài mọi khuôn khổ luật pháp quốc tế của chính quyền Trump được nhiều nhà quan sát xem như là một cuộc tấn công vào nền móng của kiến trúc an ninh quốc tế, do chính Hoa Kỳ chủ trương. Với những ai tin tưởng tổng thống Mỹ Donald Trump là người theo chủ nghĩa biệt lập, xa lánh mọi can thiệp quân sự bên ngoài, và chỉ hành động trong trường hợp bất đắc dĩ, sẽ ngạc nhiên về chiến dịch quân sự quy mô lớn, bắt giữ tổng thống một quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, giới quan sát ghi nhận chiến lược của phe cầm quyền tại Mỹ đối với Venezuela thể hiện rõ quốc gia Nam Mỹ này đã được sử dụng như một phương tiện thực thi chủ trương « Nước Mỹ trên hết » của Donald Trump, và chủ trương « Nước Mỹ trên hết » chỉ có thể thành công nếu Washington áp đặt trở lại quyền kiểm soát với khu vực Tây Bán Cầu. Chống « khủng bố ma túy » chỉ là bình phong Vì sao Donald Trump chọn Venezuela làm mục tiêu của cuộc can thiệp quân sự chưa từng có này ? Nhà báo Gille Paris của Le Monde, trong bài « Đối với Donald Trump, chủ trương ‘‘Nước Mỹ trên hết’’ được thực thi trước hết qua trường hợp Venezuela », nêu bật việc tổng thống Mỹ ngay từ khi trở lại cầm quyền đầu năm 2025, đã chuẩn bị các điều kiện cho mục tiêu kiểm soát Venezuela : từ việc ban hành sắc lệnh tổng thống về việc xác định các tổ chức tội phạm và các băng đảng buôn lậu ma túy là « tổ chức khủng bố nước ngoài », một công cụ tư pháp chống lại chế độ Caracas, cho đến việc triển khai lực lượng quân sự quy mô lớn áp sát Venezuela nhân danh lá bài chống « khủng bố ma túy ». Các hoạt động này diễn ra song hành với nỗ lực của chính quyền Trump khẳng định quyền lực của một siêu cường có thể hành xử tùy ý, bất chấp mọi khuôn khổ, đặc biệt tại khu vực châu Mỹ Latinh, vốn được coi là « sân sau » của nước Mỹ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng như nhiều thập niên trước đó. Kẻ mạnh có thể chà đạp mọi khuôn khổ: « Sự thật vĩnh cửu trong quan hệ quốc tế » Cuộc chiến chống « khủng bố ma túy » của chính quyền Trump được nhiều chuyên gia xem như là một bình phong để che đậy các tham vọng khác. Tháng 6/2025, trả lời phỏng vấn tạp chí The Atlantic, tổng thống Mỹ khẳng định có toàn quyền quyết định điều gì có thể đưa vào hay không đưa vào định nghĩa « Nước Mỹ trên hết ». Chiến lược an ninh quốc gia điều chỉnh, được công bố vào tháng 12/2025, ít tuần lễ trước cuộc can thiệp quân sự tại Venezuela, cho thấy rõ chủ trương của tổng thống Mỹ sẵn sàng hành động bất chấp mọi khuôn khổ pháp lý hay đạo lý: « Ảnh hưởng của các quốc gia lớn nhất, giàu nhất và mạnh nhất luôn vượt ra mọi khuôn khổ là một sự thật vĩnh cửu trong quan hệ quốc tế ». Liên quan đến khu vực Mỹ Latinh, chiến lược này nêu rõ là Mỹ phải tìm cách tiếp cận các nguồn tài nguyên và vị trí chiến lược, đồng thời đảm bảo rằng các chính phủ trong khu vực « đủ ổn định và được quản lý tốt để ngăn chặn và hạn chế tình trạng di cư ồ ạt đến Hoa Kỳ ». Theo tài liệu này, Hoa Kỳ « sẽ ngăn chặn các đối thủ ngoài khu vực có cơ hội triển khai lực lượng hoặc các khả năng đe dọa khác, hoặc sở hữu hoặc kiểm soát các tài sản chiến lược » trong khu vực, ám chỉ đến Trung Quốc, quốc gia mua dầu mỏ chính của Venezuela. Châu Mỹ Latinh nói riêng và Tây Bán Cầu nói chung đã được tái xác định là khu vực gắn liền với lợi ích sống còn của nước Mỹ dưới thời Trump. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, tổng thống Mỹ đã nhiều lần tuyên bố về chủ trương sáp nhập Canada, Groenland và kênh đào Panama. Tuy nhiên, Venezuela đã được chọn làm điểm tấn công đầu tiên. Dầu mỏ Venezuela: Duyên nợ trăm năm và tham vọng thống trị của Mỹ Nếu như chế độ độc tài của tổng thống Nicolas Maduro thường xuyên bị chính quyền Trump lên án, dầu mỏ được coi là lý do chủ yếu khiến Nhà Trắng can thiệp quân sự tại Venezuela. Ông Trump liên tục khẳng định nước Mỹ phải giành lại quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên đã bị chế độ Chavez tước đoạt. Việc lãnh đạo cánh tả Hugo Chavez lên nắm quyền vào năm 1999 đã chấm dứt giai đoạn quan hệ được coi là ổn định, kéo dài gần thế kỉ giữa chính quyền Venezuela trong các thời kỳ khác nhau và Washington. Chính quyền của tổng thống Bush con từng ủng hộ cuộc đảo chính hụt chống chế độ Chavez hồi năm 2002. Quan hệ « dầu mỏ » Mỹ - Venezuela bắt đầu từ năm 1908, sau khi tư lệnh quân đội, phó tổng thống Juan Vicente Gómez lật đổ tổng thống Cipriano Castro, với sự hỗ trợ của hải quân Mỹ, Venezuela bước vào một thời kỳ liên minh thực dụng với Washington. Gómez mở cửa hoàn toàn ngành dầu mỏ cho các tập đoàn dầu khí Mỹ, đặt nền móng cho mối « quan hệ dầu mỏ » kéo dài hàng thập kỷ. Tuần báo Le Point, trong bài phân tích mang tựa đề « De Monroe à Trump : Le Venezuela éternel laboratoire de l’empire américain » (Từ Monroe đến Trump : Venezuela luôn là địa bàn thử nghiệm cho chính sách đế quốc của nước Mỹ), ghi nhận : bất chấp quan hệ song phương căng thẳng, Venezuela vẫn tiếp tục là nhà cung cấp dầu mỏ chính của Mỹ, cho dù chính quyền Chavez mở rộng quan hệ với Cuba, Iran, Nga và Trung Quốc. Dưới thời Chavez, trao đổi thương mại Mỹ - Venezuela, với hàng hóa chính là dầu mỏ, lên tới 50 tỉ đô la vào năm 2007. Sự phụ thuộc lẫn nhau về năng lượng khiến Washington hạn chế các trừng phạt đối với chế độ Caracas. Việc chính quyền Venezuela quốc hữu hóa ngành dầu mỏ từ năm 1976 đã không phá vỡ thế cân bằng này : Venezuela tiếp tục được coi là nhà cung cấp đáng tin cậy cho Mỹ, nên Washington chấp nhận sự độc lập tương đối của Caracas trong Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ nhất đã thi hành chiến lược « gây áp lực tối đa » với Venezuela, nhằm buộc tổng thống Maduro, cầm quyền từ năm 2013, phải có nhiều nhân nhượng. Tập đoàn Mỹ Chevron, đối tác liên doanh chính của tập đoàn dầu mỏ quốc gia Venezuela (PDVSA), là công ty duy nhất được phép vận chuyển dầu thô từ Venezuela sang Mỹ với khoảng 100.000 đến 150.000 thùng dầu mỗi ngày, ngay trong thời gian Washington phong tỏa các tuyến đường hàng hải, và ra lệnh cấm Venezuela xuất khẩu dầu. Hơn 40 lần Mỹ thay đổi chính quyền tại châu Mỹ Latinh, nhưng Venezuela là trường hợp đặc biệt Theo thống kê của nhà sử học John Coatsworth, được trang mạng Le Grand Continent dẫn lại, từ năm 1898 đến năm 1994, nước Mỹ đã can thiệp 41 lần vào khu vực châu Mỹ Latinh để thay đổi chính quyền. Tuy nhiên, cuộc can thiệp vừa qua chống tổng thống Nicolas Maduro được xem như một trường hợp đặc biệt. Việc Mỹ đưa binh sĩ can thiệp trực tiếp vào lãnh thổ một quốc gia Mỹ Latinh để bắt giữ hoặc loại bỏ người đứng đầu nhà nước đương nhiệm chỉ xảy ra hai lần. Một lần tại Grenada năm 1983, và một lần vào năm 1989 tại Panama. Hai chiến dịch này đều nhắm vào lãnh đạo các quốc gia nhỏ với ít ảnh hưởng quốc tế. Với việc bắt giữ nhà lãnh đạo Venezuela, mặc dù Washington không công nhận ông là tổng thống hợp pháp, Hoa Kỳ đã tấn công một quốc gia có tầm vóc hoàn toàn khác, cả về quy mô và tầm ảnh hưởng khu vực và quốc tế. Thách thức Nga, Trung, hạ nhục cánh tả Về các lý do Mỹ can thiệp vào Venezuela, chuyên gia về châu Mỹ Latinh Clément Thibaud, giám đốc nghiên cứu trường Cao học Khoa học Xã hội (EHESS), đưa ra một nhận định tổng quan trong cuộc trả lời phỏng vấn đài Pháp France Culture (La Doctrine Monroe expliquée):   « Châu Mỹ Latinh phần nào giống như một phòng thí nghiệm cho những gì có thể xảy ra tiếp theo phần còn lại của thế giới, bởi vì Hoa Kỳ khá quen thuộc với khu vực này, họ ít gặp rủi ro hơn khi hành động. Thực tế, tôi cho rằng chúng ta
more

Podcast reviews

Read Tạp chí tiêu điểm podcast reviews


0 out of 5
0 reviews

Podcast sponsorship advertising

Start advertising on Tạp chí tiêu điểm & sponsor relevant audience podcasts


What do you want to promote?

Ad Format

Campaign Budget

Business Details