1495218666
Tạp chí tiêu điểm

Advertise on podcast: Tạp chí tiêu điểm

Categories
Country
United States
This podcast has
25 episodes
Language
Vietnamese
Explicit
No
Date created
2020/01/16
Latest episode
2026/10/08
Average duration
11 min.
Release period
8 days

Description

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

Unlock Tạp chí tiêu điểm podcast Email contact info,
Listeners & Audience details

Email contact information

Direct podcast contact details

Listeners

Audience numbers & engagement insights

Audience details

Podcast Insights

Podcast episodes

Check latest episodes from Tạp chí tiêu điểm podcast


Washington can thiệp thế nào vào bầu cử Brazil 2026 ?
2026/10/08
Hơn hai tuần nữa Brazil sẽ bỏ phiếu vòng hai bầu tổng thống, sau vòng đầu 04/10/2026 với kết quả bất ngờ là ứng cử viên cực hữu Flávio Bolsonaro vượt lên dẫn đầu, với 47% so với 45% của tổng thống mãn nhiệm cánh tả Lula da Silva. Khả năng Mỹ can thiệp bầu cử Brazil quy mô lớn trước thềm cuộc bỏ phiếu, cũng như những cáo buộc về can thiệp trước đó, đang trở thành  tâm điểm của cuộc bầu cử, với kết quả ảnh hưởng đến cục diện địa chính trị toàn cầu. Một báo cáo gần đây (*) của Cơ quan Tình báo Brazil (ABIN - Agência Brasileira de Inteligência) đã chỉ ra khả năng can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc bầu cử tại Brazil. Theo Reuters, sau cuộc gặp phái đoàn Pháp và Đức tại Brasilia, từ 9 đến 11/09, các quan chức cơ quan tình báo Brazil cho biết đã trao đổi với các đối tác về can thiệp từ phía Mỹ, có thể bao gồm nhiều hình thức, « từ việc sử dụng các biện pháp pháp lý để gây áp lực chính trị (lawfare) cho đến những hành động công khai ». Tình báo Brazil cảnh báo Các cuộc gặp này cho thấy mối lo ngại ngày càng tăng ở cả hai bờ Đại Tây Dương về những nỗ lực của chính quyền Trump trong việc ủng hộ các ứng cử viên có cùng tư tưởng MAGA. Các quan chức Pháp tham gia chuyến đi đến từ Viginum – cơ quan chuyên phát hiện thông tin sai lệch từ nước ngoài – và Arcom – cơ quan quản lý truyền thông và báo chí. Các chuyên gia về truyền thông và chính trị tại Đại học Công giáo Giáo hoàng Rio de Janeiro (PUC-Rio), trong một bài phân tích trên The Conversation, 02/10/2026 (*), cho biết theo tài liệu mật này, « chính phủ Mỹ, trong nỗ lực kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc tại Mỹ Latinh, có thể đang tăng cường các biện pháp, từ áp lực ngoại giao cho đến tài trợ chiến dịch tranh cử và chi phối mạng xã hội ». Báo cáo này đã nhận được nhiều chú ý tại Mỹ vào cuối tháng 9/2026, khi các thượng nghị sĩ Dân chủ Mỹ chất vấn ngoại trưởng Marco Rubio về thái độ của tổng thống Donald Trump đối với cuộc bầu cử Brazil. Báo Gazeta de Povo, một tờ báo có tuổi đời hơn thế kỉ, có uy tín hàng đầu tại Brazil, cho biết thêm về việc cơ quan an ninh liên bang Brazil được yêu cầu điều tra về các ủng hộ ngầm của Mỹ đối với phe đối lập, nhằm thúc đẩy các liên kết của phong trào cực hữu quốc tế với ứng cử viên Flávio Bolsonaro, con trai của cựu tổng thống Jair Bolsonaro, nhằm làm suy yếu chính sách của tổng thống mãn nhiệm cánh tả Brazil ủng hộ chủ nghĩa đa phương trong quan hệ quốc tế. Nhiều người bỏ phiếu cho Bolsonaro Con « không nhận ra ý đồ thực sự của Mỹ » ?  Tường trình của thông tín viên Sarah Cozzolino từ Rio de Jeinero, hai ngày trước cuộc bỏ phiếu vòng 1, cho thấy không khí căng thẳng xung quanh vấn đề can thiệp bầu cử: « "Brazil không phải là sân sau của bất kỳ ai", tổng thống Lula tuyên bố tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 22/9. Bài phát biểu mạnh mẽ đã củng cố niềm tin của Maria Prandini, 31 tuổi, dự định sẽ bỏ phiếu ủng hộ ông tái đắc cử. ‘‘Ông Lula bảo vệ chủ quyền của chúng ta. Đây là lời đáp trả đối với xu hướng bầu ra các chính phủ phục tùng Hoa Kỳ tại Nam Mỹ." Trong năm nay, tổng thống Donald Trump đã liệt một số tổ chức tội phạm của Brazil vào danh sách các nhóm khủng bố. Caio Henrique, một cư dân khu ổ chuột City of God, cảm thấy lo ngại về tương lai của nền dân chủ tại Brazil : "Đó chỉ là một chiêu bài khác để biện minh cho các cuộc tấn công vào châu Mỹ Latinh. Tuy nhiên, Brazil là một quốc gia có chủ quyền, và chỉ các thể chế của chúng ta mới có đủ khả năng đấu tranh chống lại tội phạm có tổ chức trong nước." Vào năm 2025, ông Donald Trump đã áp đặt các biện pháp trừng phạt thương mại đối với Brazil liên quan đến vụ cựu tổng thống Jair Bolsonaro bị xét xử về âm mưu đảo chính. Cô Patricia Bustamante cho rằng nhiều cử tri ủng hộ con trai ông Bolsonaro đã không nhận thức được ý đồ thực sự của Hoa Kỳ : ‘‘Họ không hiểu những gì Mỹ lấy đi từ các quốc gia khác, rằng họ không đến để giải cứu ai cả, mà chỉ là để khai thác và chiếm đoạt tài nguyên của chúng ta." Theo ông Lula, với trữ lượng khoáng sản đất hiếm lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Brazil đã trở thành mục tiêu của tổng thống Mỹ ».  Dùng đe dọa tăng thuế để áp lực buộc thả Bolsonaro Cha Trả lời RFI, chuyên gia về Brazil, nhà sử học Anaïs Flechet, giáo sư về lịch sử đương đại tại đại học Sciences Po Strasbourg, nhấn mạnh can thiệp bầu cử là « một điểm cực kỳ quan trọng », và « một trong những đặc điểm chính của cuộc bầu cử này » : « Khi nhìn vào các ứng cử viên Bolsonaro và Lula, chúng ta thấy có cảm giác quen thuộc. Nhưng đồng thời cũng có một yếu tố rất mới. Đó là sức nặng của Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử này và việc bầu cử ở Brazil mang một chiều kích thực sự mang tầm toàn châu lục. Sức nặng của Hoa Kỳ gắn liền với những nỗ lực can thiệp, đã được ghi nhận rất rõ ràng bằng tài liệu, chứ không phải là trí tưởng tượng của những ai còn mắc kẹt trong tư duy thời Chiến tranh Lạnh. Kể từ năm ngoái, từ khi Donald Trump trở lại cầm quyền tại Mỹ, đã có một loạt hành động nhắm vào Brazil. Đầu tiên là việc tăng thuế quan với mức thuế lên tới 50% đối với các sản phẩm đến từ Brazil được ban hành vào mùa hè năm 2025, kèm theo một thông điệp mang tính chính trị rất cao từ Donald Trump. Trong thông báo gửi Brazil công bố các mức thuế trừng phạt này, ông Trump đã gắn chúng với số phận của Jair Bolsonaro, vào thời điểm đó đang chờ bị xét xử vì âm mưu đảo chính. Thông điệp của Trump là: Đừng đụng đến Jair Bolsonaro, nếu không các người sẽ bị trừng phạt bằng mức thuế quan cực kỳ cao. Đó là giai đoạn đầu tiên của căng thẳng gay gắt giữa chính quyền Lula ở Brazil và chính quyền Trump. » Coi tổ chức tội phạm Brazil là « khủng bố », mở đường cho can thiệp: Tạo lợi thế cho Bolsonaro Con Chuyên gia Anaïs Flechet nhấn mạnh đến giai đoạn can thiệp thứ hai : « Giai đoạn tiếp theo khó khăn và căng thẳng hơn nhiều. Chúng ta thấy sự leo thang căng thẳng ngoại giao từ tháng 6 và đặc biệt là tháng 7 thông qua nhiều hình thức: đầu tiên là mức thuế quan mới (tăng thêm 25%) đối với hàng hóa Brazil sang Mỹ; tiếp đó là việc thu hồi thị thực của đại sứ Brazil tại Washington, một điều rất hiếm khi xảy ra, và cuối cùng là việc xếp các nhóm buôn bán ma túy — như PCC hay Comando Vermelho ở Rio — vào danh sách các tổ chức khủng bố. » Thông báo đưa PCC và Comando Vermelho vào danh sách các tổ chức « khủng bố » quốc tế, đã được ngoại trưởng Marco Rubio đưa ra vào ngày 28/05/2026, hai ngày sau chuyến thăm Nhà Trắng của Flávio Bolsonaro. Brazil phản đối quyết định pháp lý này, lo ngại nó có thể tạo tiền lệ cho can thiệp của Hoa Kỳ trên đất Brazil nhân danh chống khủng bố, theo nguyên tắc « ngoài lãnh thổ » của chính quyền Mỹ. Bên cạnh đó, quyết định này đặt vấn đề an ninh công cộng trở thành chủ đề trọng tâm của chiến dịch tranh cử, mang lại cho ứng cử viên cực hữu Flávio thế mạnh lớn trong vận động tranh cử. Hơn nữa, Viện Kinh tế Quốc tế Peterson - PIIE, trụ sở tại Mỹ, một tổ chức tư vấn kinh tế độc lập, phi đảng phái và có uy tín cao, vào tháng 6 năm 2026 cho rằng quyết định này còn trở thành mối đe dọa tinh vi hơn, với các biện pháp trừng phạt có nguy cơ làm tê liệt hệ thống ngân hàng của Brazil (« The latest US squeeze on Brazil jeopardizes its financial autonomy »). Động thái gây sức ép mới nhất của Hoa Kỳ đối với Brazil đe dọa quyền tự chủ tài chính của nước này, đặc biệt là hệ thống thanh toán PIX.   Nguy cơ loại trừ hệ thống PIX, rất được lòng dân Brazil  Về hệ thống thanh toán PIX, cô Laura Erber, một công dân hai quốc tịch, Ý và Brazil, một người quan sát chính trị Brazil lâu năm, nhận định : « Theo tôi, PIX là một ví dụ thực sự điển hình vì hệ thống thanh toán này hoàn toàn miễn phí. Hệ thống này do Ngân hàng Trung ương Brazil phát triển và được triển khai dưới thời chính quyền Bolsonaro cha. Pix đã thành công vang dội. Hiện nay, tôi
Thủ tướng Andy Burnham công khai để ngỏ phương án đưa Anh tái gia nhập Liên Hiệp châu Âu
2026/10/01
Ngày 29/09/2026, thủ tướng Anh Andy Burnham tới dự Đại hội thường niên của Đảng Lao động cầm quyền với một nghị trình bất ngờ : Công khai định hướng cho đảng Lao Động rằng họ sẽ lấy chủ đề quay trở lại Liên Hiệp Châu Âu (EU) làm khẩu hiệu tranh cử vào năm 2029, đảo ngược hướng đi cho tranh luận về Brexit dai dẳng trong các chính đảng Anh mười năm qua. Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang tường trình: Đâu là các điểm mới trong tuyên bố của ông Burnham so với những phát ngôn về Brexit và EU của các thủ tướng Anh từ 2016 tới nay? TTV Nguyễn Giang : Tại Đại hội của Đảng Lao động Anh tuần này ở Liverpool, hôm 29/09, thủ tướng Andy Burnham đã tung ra "quả bom tấn” (bombshell) về lộ trình đảo ngược Brexit. Năm 2024, trong Cương lĩnh của đảng này có ba lằn ranh đỏ, không thể bước qua : Đó là không đưa Anh quay lại Thị trường chung (single market) của EU, không trở lại Liên minh thuế quan (customs union), và không chấp nhận tự do di chuyển (freedom of movement). Nhưng nay, ông Andy Burnham nói thẳng rằng Brexit “gây hại cho Anh nhiều hơn là đem lại lợi ích”. Ông mô tả rằng khi ra khỏi EU, Anh muốn kiểm soát biên giới tốt hơn, muốn tự chủ hơn để phát triển kinh tế, nhưng cả hai mục tiêu đó đều không đạt được, nên phải tìm giải pháp mới. Từ 10 năm qua, các đảng khác và nhiều đời thủ tướng Anh cũng nói về Brexit, vậy những gì ông Burnham nói có thực sự là mới mẻ? Chính trị Anh lâu nay chia làm hai phái. Phe ủng hộ Brexit, chống lại EU thì luôn nói là “hãy cố làm cho Brexit hoạt động hiệu quả” (make Brexit work). Các khó khăn kinh tế bị họ đổ lỗi cho chính phủ “làm mất cơ hội mà Brexit đem lại”. Những người hoàn toàn chống Brexit như một lãnh đạo của đảng Reform UK (cánh hữu bài ngoại), ông Richard Tice thì cho rằng tranh luận về Brexit là màn hỏa mù mà ông Burnham đưa ra, vì đằng nào thì với quyền lực trong tay, ông Burnham và đảng Lao động đã và đang đảo ngược Brexit bằng “biện pháp cửa sau”, hàm ý là thiếu minh bạch khi ký với EU nhiều thỏa thuận thắt chặt giao thương, trao đổi giáo dục, hợp tác khoa học, năng lượng. Phe phản đối Brexit, ủng  hộ EU cũng chỉ dám ước mơ về việc trở lại EU “trong mấy chục năm tới”, hay “trong thế hệ chúng ta”, tức là rất chung chung. Các đảng Tự do Dân chủ (LibDem) và Đảng Xanh muốn Anh quay lại liên minh thuế quan, hay cùng lắm thì vào thị trường chung EU nhưng không dám nghĩ tới việc đảo ngược hoàn toàn Brexit. Ông Burnham là người đầu tiên táo bạo nói thẳng rằng nước Anh cần chấm dứt tranh cãi mãi mãi về Brexit, mà cần đưa lên nghị trình rõ ràng về việc quay lại EU trong 2-3 năm tới.  Vậy lộ trình đó là như thế nào và lập luận của ông Burnham là gì? Thủ tướng Burnham, trong các phát biểu và khi trả lời phỏng vấn truyền hình bên lề Đại hội Đảng Lao động ở Liverpool, đã nói rất thẳng rằng cứ tranh cãi đúng sai về Brexit thì nước Anh còn “trôi nổi vô phương hướng từ nay đến hết thế kỷ 21 này”. Theo ông, cần phải chọn các phương án, như gia nhập Liên minh thuế quan (bước thấp nhất), hoặc vào Thị trường chung EU (bước tầm trung), và nếu được thì cần xem xét cả việc đưa Anh quay trở lại EU toàn bộ. Lập luận của ông là Brexit gây hại nhiều hơn là lợi cho nước Anh và nếu cần thì Đảng Lao động đề xuất tổ chức trưng cầu dân ý lại về việc vào EU hay ở ngoài.  Liên Hiệp Châu Âu đã có phản ứng ra sao về phát biểu này của thủ tướng Anh ? Lãnh đạo Pháp và Tây Ban Nha đã hoan nghênh đề xuất để Anh quay lại EU. Tất nhiên, như lời tổng thống Emmanuel Macron nói thêm sau đó, Anh không thể chọn cách vào lại EU theo quy chế riêng. Còn ai cũng biết là để quay lại EU thì đơn của nước Anh cần được tất cả các nước thành viên EU phê chuẩn, điều này không dễ và không nhanh chóng. Tác động của phát biểu và nghị trình tái gia nhập EU mà ông Burnham đưa ra là như thế nào ở Anh? Dư luận nghĩ gì? Việc chấm dứt với tính nửa vời của tranh luận Brexit, kể cả ở phe tả như Đảng Lao động là điều mới mẻ nhất và có thể có tác động tới quan hệ Anh-EU từ sau hội nghị thượng đỉnh song phương cuối năm 2026. Xin nhắc rằng người tiền nhiệm của ông Burnham, cùng đảng Lao động, là Keir Starmer, muốn đàm phán tăng cường liên kết với EU trong nhiều lĩnh vực, nhưng vì Anh khi đó giữ các lằn ranh đỏ, như không vào lại liên minh thuế quan, sẽ đứng ngoài thị trường chung, nên đàm phán không có kết quả. Nay thì với cam kết sẵn sàng quay lại EU toàn bộ, toàn phần, người ta tin rằng ông Burnham sẽ dễ dàng tái khởi động việc thảo luận một số cơ chế với EU. Bởi EU sẽ không muốn một nước lớn như Anh “chân trong chân ngoài”. Xin  nhắc là EU có quy chế cho các nước nhỏ hơn Anh, ví dụ Na Uy, Liechtenstein hay Thụy Sĩ tham gia thị trường chung EU mà không cần là thành viên của khối. Dư luận chung ở Anh đã thay đổi khá nhiều về Brexit. Thăm dò dư luận mới ngày 30/09/2026 của YouGov cho thấy việc liên kết trở lại với EU chặt chẽ hơn nhưng không tái gia nhập thị trường chung châu Âu được tới 73% dân Anh ủng hộ và 15% phản đối. Còn về việc tái gia nhập EU thì số ủng hộ là 59%, số phản đối là 32%. Trên các trang tin tiếng Anh, chỉ một bài viết về phát biểu của ông Burnham dã có 4-5 nghìn lời bình luận, chứng tỏ sự quan tâm rất cao. Những người ủng hộ thì vui, nhưng cũng có người lo ngại là quá trình tái gia nhập EU sẽ kéo dài và tốn kém. Một số ý kiến quan tâm đến điều lãnh đạo EU gợi ý cho Canada trở thành "thành viên liên kết" (associate member) của EU và muốn biết quy chế đó là gì, có thể áp dụng cho Vương quốc Anh hay là không. Phe phản đối vẫn có, nhưng đa số nhấn mạnh một đảng chính trị không thể xóa bỏ kết quả trưng cầu dân ý dân chủ 10 năm trước, chọn Brexit của đa số cử tri Anh. Điều đáng chú ý là có các trang Facebook của người Anh sống ở Pháp, ở Tây Ban Nha phàn nàn rằng hồi trưng cầu dân ý lần trước họ không được tham gia – công dân Anh định cư ở nước ngoài tạm bị mất quyền cử tri ở quê nhà – và họ hỏi là nếu có bỏ phiếu đảo ngược Brexit thì họ có được tham gia hay không. Vì họ muốn có quyền lợi. Cuối cùng, đề xuất tái gia nhập EU của ông Burnham nằm ở đâu trong những cải cách thiên tả của ông? Có vẻ như chính phủ của ông Burnham nay nhận thấy việc quay lại EU là cách duy nhất giúp Anh chống đỡ được sóng gió thương mại và các đổ vỡ địa chính trị trên toàn cầu. Tuy không có chính sách viết hẳn ra, nhưng qua phát biểu của bộ trưởng Thương Mại James Reynolds hôm đầu tuần, ta có thể thấy  chính phủ Anh coi Mỹ và Trung Quốc là các đối thủ. Tức là Hoa Kỳ thời Trump không còn là đồng minh kinh tế với Anh nữa, theo quan điểm này. Và ông Reynolds nói Anh phải có mặt trong nghị trình tạo ra thương hiệu Made in Europe, để giúp cả Liên Hiệp Châu Âu và Anh bảo vệ được quyền lợi trước Hoa Kỳ và Trung Quốc. Về đối nội lẫn đối ngoại, đảng Lao động dưới sự lãnh đạo của ông Burnham đã nghiêng hẳn về phía tả, ví dụ như quốc hữu hóa một số dịch vụ công. Chính phủ Anh cũng ra lệnh trừng phạt người định cư Do Thái ở Israel, mở cửa ưu tiên đón người tị nạn Palestine. Đây là những điều ngược hoàn toàn với chính sách của Hoa Kỳ ở Trung Đông. Thêm vào đó, các lãnh đạo đảng Lao động Anh từ năm 2025 cũng đã nêu ra lo ngại về làn sóng cực hữu dâng lên ở châu Âu, được chính quyền Trump ủng hộ từ xa. Các nhân vật quan trọng của đảng này như thị trưởng Luân Đôn Sadiq Khan, hay cựu thủ tướng Gordon Brown đã ủng hộ việc quay lại EU như cách làm giảm đi nguy cơ Anh bị chủ nghĩa dân tộc sau Brexit dâng cao, gây ra chia rẽ nội bộ giữa các nhóm dân tộc, vùng miền ở Anh. Vì thế, việc liên kết với phe tả, phe trung tả hay trung hữu ở châu Âu để chống lại làn sóng cực hữu còn có ý nghĩa sâu xa hơn với đảng Lao động Anh về chính trị nội bộ, chứ không chỉ là chuyện kinh tế.
Trí tuệ nhân tạo: Nguy cơ tác nhân AI vượt vòng kiểm soát buộc Mỹ, Trung đối thoại tìm thỏa hiệp
2026/09/24
Hàng loạt vụ tác nhân AI thoát khỏi kiểm soát của công ty chủ quản AI trong hai tháng gần đây, đặc biệt là vụ Hugging Face, gây chấn động trước hết tại Mỹ. Nhiều đại tập đoàn AI đã kêu gọi chính quyền Mỹ sớm có biện pháp kiểm soát an toàn AI, nhưng tổng thống Donald Trump gạt phăng với lý do cuộc đua tranh công nghệ. Tuy vây, Washington lần đầu tiên chính thức đưa các đối thoại với Bắc Kinh về kiểm soát nguy cơ AI vào chương trình nghị sự. Biến cố Hugging Face: Các tác nhân AI phối hợp hành động  Đầu tháng 7/2026, trong vài ngày, hàng trăm tác nhân AI thuộc một số mô hình tân tiến của OpenAI đang trong giai đoạn thử nghiệm, trong môi trường cô lập với bên ngoài, đã tìm cách thoát ra được bên ngoài, xâm nhập vào các cơ sở của nền tảng Hugging Face. Hơn 17.000 hành động can thiệp đã được thực hiện, hoàn toàn không có bàn tay của con người (báo cáo của Hugging Face). Ngay sau sự việc được phát hiện, cuối tháng 7/2026, hơn 1.000 nhân viên của bốn tập đoàn OpenAI, Anthropic, Google DeepMind và Meta, trong đó có hai lãnh đạo OpenAI và Anthropic, đã công bố một thư ngỏ kêu gọi thế giới hành dộng phối hợp giảm tốc phát triển công nghệ AI, nhằm kịp thời đối phó với nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng khi các công nghệ tiên tiến (frontier models) vượt tầm kiểm soát. Hiểm họa do sự phát triển đột biến của AI gây ra với nhân loại đã liên tục được giới chuyên gia cảnh báo từ lâu nay. Tuy nhiên biến cố Hugging Face là một sự kiện chưa từng có. Cuộc xâm nhập của các tác nhân AI này không gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng đây là lần đầu tiên các tác nhân IA chứng tỏ khả năng tự tổ chức phối hợp hành động quy mô lớn, vượt khỏi hệ thống kiểm soát. Chuyên gia hàng đầu về AI người Canada, Yoshua Bengio, giải thưởng Turing 2018 (thường được coi là Nobel tin học), nhà sáng lập Viện Trí tuệ nhân tạo Milan, nhấn mạnh đến tính chất vô cùng nguy hiểm của tác nhân AI hành động tự chủ : « Các tác nhân AI thậm chí còn tạo ra các lý do để làm những việc mà chúng biết là không nên làm, giống hệt như cách con người vẫn làm. Đó chính là điều chúng ta cần thực sự chú ý. Đa số mọi người hiện tại vẫn coi AI chỉ là những cỗ máy hay chương trình do các kỹ sư con người viết ra, nhưng thực tế chúng ta đã vượt xa giai đoạn đó rồi. Chúng ta đang đối mặt với các hệ thống AI có khả năng tự chủ, không cần đến con người. Để đạt được những mục tiêu mà chúng ta đặt ra, chúng có thể thực hiện đủ loại hành động có thể thực sự nguy hiểm. Nếu để tình trạng này tiếp diễn, và nếu các hệ thống này ngày càng trở nên thông minh và tự chủ hơn nữa, hậu quả có thể sẽ vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên, đó lại chính là hướng đi hiện nay. » Từ hơn hai tháng nay, hàng loạt vụ tác nhân AI hành động tự tung tự tác được ghi nhận. Viện An ninh Trí tuệ nhân tạo Anh quốc AISI, trong cuộc thử nghiệm cuối tháng 7, đầu tháng 8, đã phát hiện được 10 trường hợp tác nhân AI can thiệp mạng Internet mà không được phép, chiếm gần 10% số thử nghiệm, trong đó đại đa số xuất phát từ các mô hình của Anthropic. Xét về quy mô và tầm mức, vụ Hugging Face là ghê gớm nhất. Áp lực gia tăng trong nội bộ nước Mỹ … Về các sự cố AI hành động tự tung tự tác nói trên, trong giới chuyên gia có nhiều quan điểm. Có nhiều người cho đây là thủ đoạn của các tập đoàn công nghệ Mỹ nhằm khôn khéo quảng bá hình ảnh (Racha Chatila, giáo sư danh dự về AI và đạo đức công nghệ ở Đại học Sorbonne), đồng thời gây áp lực với Trung Quốc. Giáo sư Laurence Devillers, chuyên về các vấn đề đạo lý với AI, một mặt chỉ trích việc thổi phồng các nguy cơ của AI dến mức hoang tưởng khi nói đến sự tuyệt diệt của nhân loại, mà không dựa trên cơ sở cụ thể nào, nhưng đồng ý về hiểm họa AI vượt tầm kiểm soát là có thực (trả lời Radio France). Áp lực gia tăng lên chính quyền Trump. Giữa tháng 9/2026, ba tập đoàn lớn trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo tại Hoa Kỳ, Open AI, Anthropic và Google DeepMind thúc đẩy thành lập một cơ quan độc lập với nhà nước, giám sát để ngăn ngừa những rủi ro liên quan đến công nghệ này, tương tự như Cơ quan Quản lý Tài chính Hoa Kỳ (FINRA). Ngày 18/09, thống đốc bang California Gavin Newsom ban hành sắc lệnh thúc đẩy các tập đoàn phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo tăng cường các hàng rào an ninh đề phòng AI « vượt khỏi tầm kiểm soát của con người » với công cụ mới mang tên kill switch, tức một cơ chế ngăn chặn khẩn cấp. Murielle Popa-Fabre, chuyên gia về quản trị AI (bài Comment réguler l’IA sans reculer ? Radio France, 17/09/2026) đánh giá cao hành động phối hợp của các tập đoàn AI hàng đầu vào thời điểm sắp diễn ra thượng đỉnh Mỹ - Trung và hội nghị quốc tế : « Thời điểm mà các thông báo được các công ty AI đưa ra rất đáng chú ý,  ngay trước cuộc gặp Tập Cận Bình - Donald Trump, cũng như một hội nghị quan trọng của Liên Hiệp Quốc vào tuần tới, nơi mà công tác xây dựng cơ chế quản trị AI đã được triển khai từ lâu. Vấn đề này bao gồm hai khía cạnh. Thứ nhất là nhận thức ngày càng rõ rằng mọi hành động cần phải được thực hiện ở cấp độ quốc tế. Và thứ hai là các giải pháp cụ thể đang được đề xuất, đáng chú ý là từ phía công ty Anthropic, như để các bên thứ ba đáng tin cậy (un tiers de confiance) đánh giá các mô hình AI. Bất kể lý do ẩn sau những hành động này là gì, đây vẫn là một bước tiến rất quan trọng. Bởi vì đề xuất này làm nổi bật những vấn đề then chốt liên quan đến hệ thống kiểm thử - giám sát, tham gia của bên thứ ba đáng tin cậy, và cho thấy những thách thức rộng lớn hơn xoay quanh công tác quản trị AI. » Đọc thêm : Vì sao OpenAI và Anthropic muốn làm chậm cuộc đua Trí tuệ Nhân tạo ?  Tại phiên họp về AI của Hội đồng Bảo an, ngày 23/09/2026 (một ngày trước thượng đỉnh Mỹ - Trung), theo sáng kiến của Pháp, lãnh đạo các công ty hàng đầu trí tuệ nhân tạo, OpenAI, Anthropic và Hugging Face đã kêu gọi tăng cường hợp tác quốc tế để kiểm soát những rủi ro. Trong lúc tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 22/09 bác bỏ ý tưởng về cơ chế giám sát toàn cầu, đại sứ Trung Quốc muốn đặt toàn bộ cơ chế giám sát dưới sự bảo trợ của LHQ. Theo AFP, chủ tịch - tổng giám đốc Anthropic Dario Amodei lần đầu tiên cam kết Anthropic « đơn phương làm chậm lại tốc độ phát triển AI » để đảm bảo mọi mô hình mới đều « thực sự an toàn ».   … Washington thúc đẩy đối thoại chính thức với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh Vấn đề đối thoại về an toàn AI rút cục đã được chính phủ Mỹ chính thức đưa vào đề xuất với Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, người phụ trách đàm phán chính, đã đề xuất về cơ chế thông báo về an toàn AI (safety notifications) trong các cuộc thảo luận với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh (24/09). Cụ thể là xây dựng thảo luận về các mối đe dọa chung, bao gồm cả việc thông báo về các sự cố liên quan đến AI có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mỗi bên. Ông Sun Chenghao, nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế, thuộc Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh), cho biết chương trình nghị sự có thể tập trung vào các rủi ro AI có khả năng gây hại cho cả hai nước, chẳng hạn như các cuộc tấn công mạng sử dụng AI, việc lạm dụng AI vào mục đích sinh học, sự cố nghiêm trọng ở các mô hình AI lớn hoặc tình trạng mất quyền kiểm soát của con người (AP). Quân sự : AI ngày càng trở thành chủ chốt, nguy cơ đại thảm họa gia tăng Bộ trưởng An ninh Quốc gia Trung Quốc Trần Nhất Tân (Chen Yixin), trong một bài viết trên báo Trung Quốc hồi tuần trước, nhấn mạnh AI đang làm thay đổi cơ bản cách thức tiến hành chiến tranh, « từ vai trò hỗ trợ trên chiến trường sang vai trò chủ chốt ». Theo Reuters, hai tác giả Melanie Sisson, nghiên cứu viên cao cấp tại viện nghiên cứu Brookings, và Jiang Tianjiao, phó giáo sư tại Đại học Phục Đán (Fudan), đã tham gia vào cuộc đối thoại về trí tuệ nhân tạo (AI) và an ninh quốc gia giữa Mỹ và Trung Quố
Houthi, Hormuz và Ukraina : Một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu mới có xảy ra ?
2026/09/17
Cùng với cuộc chiến tranh Ukraina, eo biển Hormuz bị phong tỏa và đường ống dẫn Đông – Tây của Ả Rập Xê Út bị drone bắn phá, việc phe nổi dậy Houthi chiếm giữ nhiều vị trí chiến lược tại eo biển Bab El Mandeb đang làm dấy lên nỗi lo xảy ra một cú sốc năng lượng mới trên thế giới. Phe Houthi có sẽ là tia lửa châm ngòi khủng hoảng kinh tế toàn cầu ? Nằm ở phía nam bán đảo Ả Rập, giữa Yemen, Djibouti và Erithrea, eo biển Bab el Mandeb, dài 50 km và rộng khoảng 32 km, nối Hồng Hải với Ấn Độ Dương, cửa ngõ đến kênh đào Suez, một tuyến đường tắt hàng hải chính yếu nối châu Á và châu Âu. Trong điều kiện bình thường, gần 20 ngàn tầu thuyền đi qua tuyến đường này mỗi năm, tương đương với khoảng 10-15% thương mại toàn cầu. Đối với châu Âu, khoảng 40% thương mại với Trung Quốc phụ thuộc vào tuyến đường vận tải qua Hồng Hải và Bab el Mandeb. Hành lang đường biển này, tuy không có quy mô như eo biển Hormuz, eo biển Bab el Mandeb còn là nơi trung chuyển của khoảng 12% lượng cung dầu hỏa thế giới và gần 8% lượng khí tự nhiên hóa lỏng. Ngay sau khi phe Houthi tuyên bố chiếm được các đảo chiến lược nằm ở eo biển Bab el Mandeb và thông báo của Ả Rập Xê Út đóng đường ống dẫn dầu Đông – Tây sau một cuộc tấn công bằng drone, giá dầu Brent tham chiếu đã vượt ngưỡng 100 đô la/thùng và tiến gần đến mức 110 đô la, khiến giá xăng dầu tiêu thụ tại nhiều nơi từ châu Á, đến châu Phi, châu Âu hay tại Mỹ cũng tăng cao. Ả Rập Xê Út : Ngân hàng trung ương dầu hỏa Thierry Bros, giáo sư tại trường Khoa học Chính trị Paris, chuyên gia cao cấp về Năng lượng tại Energy Delta Institute, trả lời phỏng vấn trang Atlantico lưu ý thị trường dầu hỏa thế giới trước khi có xung đột với Iran vẫn có một mức độ linh hoạt nhất định. Năm 2025, thị trường trong trạng thái dư cung tương đối, do việc Ả Rập Xê Út, quốc gia sản xuất dầu hỏa duy nhất có khả năng duy trì một công suất khai thác dự phòng đáng kể, khi nguồn cung toàn cầu gặp trục trặc, vẫn có thể tăng sản lượng để bù đắp phần nào. Ngoài ra, Ả Rập Xê Út đã thực hiện những khoản đầu tư được cho là « vô ích » trong thời bình, khi cho phát triển đường ống Đông – Tây, nối vùng Vịnh với cảng Yanbu ở Hồng Hải. Từ khi Hormuz bị đóng, đường ống dài khoảng 1.200 km này đã cho phép Ả Rập Xê Út đưa khoảng bốn triệu thùng dầu mỗi ngày ra thị trường thế giới. Nếu Bab el Mandeb bị phong tỏa, đường ống dẫn này có nguy cơ trở nên « vô dụng ». Việc Riyad thông báo đóng đường ống dẫn này sau vụ drone tấn công càng khiến áp lực lên giá dầu tăng cao.   Trên kênh truyền hình quốc tế France 24, vị chuyên gia về năng lượng giải thích : « Khi eo biển Hormuz bị phong tỏa, hơn 20 triệu thùng dầu và 20% khí hóa lỏng đã biến mất khỏi thị trường mỗi ngày, gây ra một cuộc khủng hoảng khí đốt nghiêm trọng tại châu Âu. Tuy nhiên, Ả Rập Xê Út, được coi là ngân hàng dầu hỏa trung tâm thế giới, đã có những giải pháp thay thế, và một trong số các biện pháp đó là cung cấp bốn triệu thùng dầu mỗi ngày thông qua đường ống dẫn Đông – Tây, giúp giải quyết phần lớn vấn đề eo biển Hormuz. Vì vậy, trên thực tế, từ 20 triệu thùng mỗi ngày, chúng ta đã giảm vấn đề xuống chỉ còn, nếu tôi có thể nói như vậy, 9 triệu thùng mỗi ngày, vì Trung Quốc cũng đã giảm nhu cầu nhập khẩu. Ngày nay, nếu đường ống dẫn dầu bị đóng cửa, hoặc nếu eo biển bị đóng cửa – về cơ bản là giống nhau – chúng ta sẽ lại thiếu hụt 14 triệu thùng dầu mỗi ngày trong một thế giới tiêu thụ khoảng 100 triệu thùng mỗi ngày, có nghĩa là 14%, một con số khổng lồ. » Bab el Mandeb, chốt chặn chiến lược thứ hai của Iran Trong bối cảnh này, theo giới quan sát, nếu Hormuz và Bab el Mandeb bị đóng hoàn toàn, giá dầu có thể tăng vọt đến mức đe dọa nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, theo quan điểm của Thierry Bros, chiến lược của Iran và phe Houthi không nhất thiết nhằm phá hủy hoàn toàn hệ thống kinh tế toàn cầu, mà là đẩy giá dầu lên cao đến mức Washington buộc phải đàm phán. Thời điểm tung đòn chiến lược này cũng không phải ngẫu nhiên. Donald Trump đang đối mặt với những khó khăn trong cuộc bầu cử giữa kỳ. Iran hiểu rõ rằng dầu mỏ là « vũ khí kinh tế » mạnh nhất mà họ còn nắm giữ. Do vậy, eo biển Bab el Mandeb được coi là « vũ khí nguyên tử » thứ hai của Teheran trong cuộc đối đầu với Washington. Trả lời France 24, chuyên gia Thierry Bros giải thích tiếp : « Iran và các đồng minh của họ, trong trường hợp này là phe nổi dậy Houthi và cả những kẻ đã đánh bom đường ống dẫn dầu, mà tôi nghĩ là từ Irak, đang cố gắng đẩy giá dầu lên cao vì họ biết phương Tây chúng ta không thể sống thiếu dầu mỏ, và nếu giá dầu tăng quá cao, Trump sẽ buộc phải tìm ra giải pháp cho cuộc chiến. Thực tế, chúng ta đang trong một cuộc chạy đua với thời gian. Một mặt, ông Trump đang cố gắng lật đổ chế độ Iran bằng cách ngăn chận dòng chảy dầu mỏ và do đó là doanh thu từ dầu mỏ, khiến Iran có ít tiền, và có thể không còn khả năng trả lương cho quân đội. Vì vậy, khi chính quyền không còn tiền trả lương cho quân đội, không gì chắc chắn là họ sẽ bắn vào người dân của họ. Mặt khác, Iran đang cố gắng bằng mọi cách  đẩy giá dầu lên cao. Cách tốt nhất là tấn công Ả Rập Xê Út, vì vương quốc này là 'ngân hàng trung ương' của dầu mỏ, là một trong những nhà sản xuất dầu lớn nhất, một trong những nhà xuất khẩu dầu lớn nhất. » Giá dầu tăng, lỗi ở Ukraina ? Việc sử dụng phe Houthi để gây sức ép tại Bab el Mandeb được xem như là một quân bài chiến lược nhằm tạo thêm đòn bẩy trong đàm phán. Dù vậy, trong cuộc đọ sức này, cả Mỹ và Trung Quốc đều không có lợi ích trong việc đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Điều này giải thích vì sao Trung Quốc đã giảm nhập khẩu đến 5 triệu thùng dầu/ngày, bởi vì Bắc Kinh không muốn gây ra một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Đây chính là yếu tố hạn chế nguy cơ leo thang quá mức giữa các bên tham chiến. Theo AP, giá dầu diesel tại Mỹ hôm thứ Hai 14/09 đã chạm mức kỷ lục hơn 6 đô la/gallon, tăng gần 66% so với thời điểm đầu cuộc chiến Iran. Trong thế khó này, nguyên thủ Mỹ đã đổ trách nhiệm cho đồng cấp Ukraina và yêu cầu Volodymyr Zelensky ngừng không kích các nhà máy lọc dầu của Nga, vì theo ông, đây chính là nguồn cội khiến giá dầu tăng cao. Về điểm này, ông Jean-Louis Schilansky, cựu chủ tịch UFIP (Liên đoàn Công nghiệp Dầu khí Pháp) trên kênh truyền hình Franceinfo phần nào nhìn nhận các tác động của cuộc chiến Ukraina đối với nguồn cung nhiên liệu : « Quả thật, các cuộc tấn công của Ukraina vào các nhà máy lọc dầu của Nga từ nhiều tháng qua đã phần nào làm giảm sản lượng dầu diesel của Nga, chủ yếu xuất khẩu sang Ấn Độ và các nước châu Á khác, và do vậy, đã góp phần làm gia tăng căng thẳng trên thị trường dầu diesel quốc tế ». Châu Âu, bên thiệt lớn nhất Chỉ có điều, trong cuộc đọ sức này, ngoài Ả Rập Xê Út là nạn nhân liên đới, Châu Âu là bên thua cuộc lớn nhất và có nguy cơ đối mặt với khủng hoảng năng lượng nhiều hơn Mỹ, khi phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép là khí đốt và dầu hỏa. Theo ông Thierry Bros, cú sốc năng lượng này diễn ra vào lúc nền kinh tế Châu Âu trì trệ, có mức tăng trưởng thấp, năng suất suy giảm và đang gặp nhiều bất ổn chính trị: « Thật không may, khủng hoảng khí đốt hiện nay là khủng hoảng của châu Âu. Hôm thứ Sáu, 11/09, giá khí đốt đã chạm mức kỷ lục chưa từng thấy kể từ cuối tháng 12/2022. Bởi vì giá khí đốt tại Mỹ rẻ hơn đến 10 lần so với châu Âu, do vậy không có khủng hoảng khí đốt ở Mỹ. Giờ đây, khủng hoảng xăng dầu là toàn cầu, nhưng đối với châu Âu, đó là khủng hoảng khí đốt và dầu lửa, trong khi tại Mỹ chỉ là khủng hoảng dầu hỏa.   Một lần nữa, châu Âu đã tỏ ra thụ động, bởi vì người cuối cùng có quyền chấm dứt cuộc chiến giá cả này sẽ là Trump, nếu giá dầu tăng quá cao và cử tri của ông không thể c
Dữ liệu bị đánh cắp : Một thị trường chợ đen béo bở và có cấu trúc chặt chẽ
2026/09/10
Các dữ liệu bị rò rỉ hay đánh cắp không còn đơn thuần là « sản phẩm phụ » của các cuộc tấn công mạng. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chúng đang trở thành một « nguồn tài nguyên vận hành » được mua bán và tái khai thác trong một hệ sinh thái tội phạm mạng có tổ chức chặt chẽ. Theo các khảo sát gần đây, ngoài một số vụ tấn công mạng có mục tiêu chính trị và địa chính trị, 86% các vụ xâm phạm dữ liệu có mục tiêu kiếm tiền và 55% số vụ tấn công là do các nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện. Những dữ liệu bị đánh cắp này sau đó sẽ được rao bán trên Internet, đặc biệt là trên thị trường chợ đen của Dark Web. Những người rao bán và mua dữ liệu đánh cắp là ai ? Rayna Stambouliscka, tổng giám đốc công ty tư vấn an ninh mạng RS Stratégie, cộng tác viên Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS), trên đài France Culture cho biết : « Đó là những người muốn bán lại các dữ liệu, hoặc họ tự đánh cắp dữ liệu, hoặc họ mua dữ liệu rẻ hơn từ người khác, hoặc họ có một nguồn cung cấp liên tục các dữ liệu mới giá rẻ… Nhìn chung, có hai loại hình chính : Những người thích các dữ liệu của cá nhân và những người thích các dữ liệu của các tổ chức ». Giống như trên eBay của Mỹ hay Leboncoin tại Pháp, dữ liệu bị rò rỉ được chào bán trên Dark Web, có ghi rõ xuất xứ và các mẫu dữ liệu giống như trong cửa hàng nước hoa, theo giải thích của Gael Musquet, một hacker, với đài France Inter : « Quý vị nhận được các mẫu cho phép xác minh chất lượng dữ liệu, mức độ cuộc tấn công đã được thực hiện ». Các nghiên cứu gần đây cho thấy thị trường ngầm này có quy mô to lớn. Năm 2024, lần đầu tiên các hoạt động mua bán dữ liệu bị đánh cắp cán mốc 2 tỷ đô la. Và chỉ riêng trong sáu tháng đầu năm 2025, người ta ghi nhận hơn 1,4 tỷ bản ghi dữ liệu bị xâm phạm. Một công trình khảo sát 30 chợ darknet lớn đã phát hiện hơn 96 ngàn tin rao bán dữ liệu đánh cắp từ khoảng 3000 người bán chỉ trong vòng tám tháng. Doanh thu được ghi nhận trong thời gian nghiên cứu vượt 140 triệu đô la, nhưng con số này được cho là khá nhỏ so với quy mô thực tế của thị trường hiện nay. Dark Web : Tin tặc đóng vai trò « nhà sản xuất » Nền kinh tế ngầm này ngày càng giống với các nền tảng thương mại điện tử hợp pháp, thậm chí có cả dịch vụ chăm sóc khách hàng và hệ thống đánh giá người bán. Điều này minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của mô hình mà trang Businesstechweekly gọi là « tội phạm mạng như một dịch vụ » (Cybercrime-as-a-Service). Các cuộc điều tra do Synacktiv1 tiến hành còn chỉ ra rằng thị trường này là một chu trình khai thác có thể kéo dài nhiều năm, với sự tham gia của nhiều nhóm tác nhân khác nhau, được phân công lao động tương tự như « các chuỗi gia công trong ngành công nghiệp », theo như cách diễn đạt của Maxence Fossat, chuyên gia an ninh mạng tại Synacktiv, trong một báo cáo công bố ngày 28/05/2026. Cụ thể, mạng lưới này được phân chia giữa những người thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng các phần mềm đánh cắp thông tin (infostealers) hoặc trực tiếp xâm nhập vào hệ thống; Các đơn vị tổng hợp dữ liệu, chuyên tập hợp và hợp nhất các dữ liệu thu được từ nhiều vụ rò rỉ khác nhau; Các nhà cung cấp dịch vụ kiểm thử tự động, chỉ giữ lại những thông tin truy cập thực sự còn hiệu lực và có thể khai thác được. Và sau cùng là các đầu mối môi giới, bán lại chuyên biệt, những người chào bán các quyền truy cập này cho các nhóm tội phạm khác, trong đó nổi bật nhất là các tổ chức vận hành phần mềm tống tiền (ransomware). Tuy nhiên, không phải mọi dữ liệu thu được từ một vụ rò rỉ đều có giá trị thương mại trong cùng một khoảng thời gian. Bà Yamina Tadjeddine Fourneyron, giáo sư kinh tế tại đại học Lorraine, chuyên gia về tài sản tiền điện tử, trên đài France Culture giải thích : « Khi bạn vào Dark Web, những thị trường chợ đen, để bán lại, bạn sẽ thấy mọi thứ được tổ chức theo bản chất của thông tin được bán. Đó là lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dữ liệu tài chính, hay dữ liệu cá nhân, ít nhiều đầy đủ thông tin hay không ? Và bạn sẽ tìm thấy những người chuyên về từng lĩnh vực, và sau đó là danh tiếng và xếp hạng phản ánh độ tin cậy của người bán lại. » Theo hacker Gael Musquet, thông tin cá nhân này được mua bán, đấu giá, thậm chí được cho không nếu không ai muốn. Và đối với những tội phạm ít kinh nghiệm hơn, sách hướng dẫn và thiết bị cũng được cung cấp đính kèm: « Họ có dữ liệu thô, nhưng cũng có cả công cụ phân tích, công cụ gửi email và tin nhắn văn bản. Tóm lại, tùy thuộc vào trình độ kỹ năng của người có được những tập tin này, tội phạm mạng sẽ cung cấp các công cụ để khai thác dữ liệu đó dễ dàng hoặc khó khăn hơn. » Những dữ liệu có giá trị cao nhất Trang ITSocial còn lưu ý thêm, trong nền kinh tế ngầm của tội phạm mạng, mỗi dữ liệu bị đánh cắp có « vòng đời kinh tế » riêng : Cookie phiên làm việc có giá trị rất cao nhưng ngắn hạn, trong khi các cặp « tên đăng nhập và mật khẩu » có thể tiếp tục được mua bán và khai thác trong thời gian dài hơn. Các dữ liệu kỹ thuật lại tuân theo một logic khai thác dài hạn. Những dữ liệu như tài liệu nội bộ, cấu hình hạ tầng công nghệ thông tin, sơ đồ kiến trúc hệ thống, hay mã nguồn phần mềm có thể được lưu giữ trong nhiều năm trước khi được sử dụng để phát hiện các lỗ hổng bảo mật, hoặc chuẩn bị cho các cuộc tấn công có chủ đích. Loại hình khai thác này chủ yếu liên quan đến các tác nhân có năng lực cao, đặc biệt là những nhóm hoạt động vì lợi ích quốc gia hoặc phục vụ mục tiêu tình báo kinh tế. Đối với các tin tặc, giá trị của dữ liệu không nằm ở khả năng bán lại ngay lập tức, mà ở tiềm năng cung cấp thông tin chiến lược trong dài hạn. Tùy theo giá trị của mỗi loại thông tin mà giá cả các cơ sở dữ liệu được định giá rất khác nhau trên thị trường ngầm. Các cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, thông tin sở hữu trí tuệ nhân tạo là những tập tin có giá trị cao nhất, có thể được giao dịch với giá hàng trăm nghìn đô la. Đặc biệt, dữ liệu y tế được coi là loại tài sản có giá trị cao vì tính « vĩnh viễn » của chúng. Nếu thẻ tín dụng bị lộ, chủ sở hữu có thể khóa và cấp lại thẻ mới. Nhưng hồ sơ bệnh án hay thông tin sức khỏe cá nhân gần như không thể thay đổi khi đã bị đánh cắp. Trong số này, các dữ liệu cá nhân là những món hàng có giá trị thấp nhất. Trong vụ rò rỉ dữ liệu tại France Travail, cơ quan hỗ trợ việc làm cho người thất nghiệp tại Pháp, vào năm 2024, thông tin của hơn 36 triệu người được rao bán trên Dark Web với giá 5.000 đô la. Vì vậy, theo giáo sư kinh tế Yamina Tadjiddine, tiêu chí định giá dữ liệu thực ra không khác nhiều so với thị trường kinh tế truyền thống : « Điều này phụ thuộc vào mức độ khan hiếm. Nếu bạn là người đầu tiên sở hữu chúng, rõ ràng là giá sẽ rất cao. Ví dụ, hiện nay, dữ liệu thẻ tín dụng gần như vô giá trị vì chúng đã được phổ biến rộng rãi. Sau đó còn có một khía cạnh khác : Tính chất đầy đủ của thông tin thu thập được. » AI, trợ thủ đắc lực mới cho tin tặc, doanh nghiệp thêm khốn đốn Các cuộc tấn công mạng đang trở nên phổ biến và ngày càng tinh vi hơn. Thay vì khai thác các lỗ hổng kỹ thuật, tin tặc tấn công bằng xâm nhập các tài khoản hợp lệ bị đánh cắp. Dữ liệu rò rỉ giúp tội phạm thực hiện các chiến dịch lừa đảo, giả mạo danh tính và kỹ nghệ xã hội thuyết phục hơn nhờ những hiểu biết về nội bộ của nạn nhân. Theo điều tra của Synacktiv, hai yếu tố đang thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế ngầm này là trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI) và các nhà môi giới quyền truy cập ban đầu (Initial Access Brokers - IAB). AI giúp tự động hóa nhiều công đoạn tấn công, còn các IAB chuyên tìm kiếm rồi bán lại quyền truy cập vào hệ thống bị xâm nhập cho những nhóm tội phạm khác. Cuối cùng, Synacktiv nhận định, các doanh ng
Sáu cột mốc lớn đánh dấu quan hệ Mỹ - Trung : Từ kỳ vọng hợp tác đến đối đầu thế kỷ
2026/09/03
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một trong những trục quan trọng nhất trong dòng chảy lịch sử thế giới đương đại. Giữa các cuộc chiến thương mại, đối đầu địa chính trị và cạnh tranh công nghệ, mỗi ngày trôi qua càng củng cố thêm niềm tin chắc rằng cuộc đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh đang định hình thế giới ngày nay và có thể cả trong tương lai.  Nhà sử học Pierre Grosser, trên đài phát thanh France Inter nhận định, nếu nhìn lại lịch sử hơn một thế kỷ quan hệ Mỹ - Trung, hai quốc gia này đã nhiều lần thay đổi vị thế đối với nhau : Từ đối tác thương mại, đồng minh thời chiến, đối thủ ý thức hệ, cho đến đối thủ cạnh tranh chiến lược toàn diện như ngày nay. Là chuyên gia về quan hệ quốc tế và châu Á và cũng là tác giả tập sách « Chiến tranh lạnh khác chăng ? Đối đầu Mỹ - Trung », Pierre Grosser còn nêu ra sáu cột mốc lớn quan trọng để lý giải vì sao Washington và Bắc Kinh đang trong một cuộc cạnh tranh được nhiều nhà quan sát gọi là « cuộc đối đầu định hình thế kỷ XXI ». Đằng sau những tranh chấp thương mại, công nghệ hay vấn đề Đài Loan, là một câu chuyện dài về quyền lực, nhận thức lịch sử và trật tự thế giới. 1900 : Khi Hoa Kỳ đến « mở cửa » Trung Quốc … Vào cuối thế kỷ XIX, Trung Quốc đang ở giai đoạn suy yếu nghiêm trọng. Sau thất bại trước Nhật Bản năm 1895 và hiệp ước Shimonoseki, các cường quốc châu Âu và Nhật Bản lao vào cuộc đua tranh giành tô giới và nhượng địa ở Trung Quốc. Trong bối cảnh này Hoa Kỳ tự thể hiện mình là người ngoài cuộc bằng cách ủng hộ chính sách « Mở cửa » (Open Door Policy), với hai công hàm ngoại giao năm 1899 và 1900, đề cao việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc và tự do cạnh tranh thương mại. Theo sử gia Pierre Grosser, trong « cuộc chạy đua đến Trung Quốc », chính sách này của Mỹ là mang tính hai mặt : Hoa Kỳ tự thể hiện mình như « một cường quốc đế quốc kiểu khác, chủ yếu được thúc đẩy bởi các lợi ích thương mại », nhưng vẫn không thoát khỏi lô-gic truyền thống của chủ nghĩa bành trướng. Việc Hoa Kỳ chiếm Cuba và nhất là Philippines sau cuộc chiến với Tây Ban Nha năm 1898 có liên hệ trực tiếp với tham vọng thâm nhập thị trường Trung Quốc, đồng thời tạo thành bàn đạp chiến lược để Mỹ tiến sâu vào châu Á, khẳng định vị thế cường quốc Thái Bình Dương. « Đây là một phần của bước ngoặt chủ nghĩa đế quốc, đánh dấu sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới vào thời điểm đó. Đồng thời, đó cũng là thời điểm Washington hầu như chính thức thâu tóm Hawai ». Nhưng chính ở giai đoạn này đã làm xuất hiện nghịch lý đầu tiên trong quan hệ Mỹ - Trung. Trong khi Washington yêu cầu Bắc Kinh mở cửa cho hàng hóa Mỹ, thì Hoa Kỳ lại đóng cửa với người Trung Quốc khi ban hành đạo luật « Loại trừ » (Loi d’Exclusion) năm 1882, cấm phần lớn người Trung Quốc nhập cư vào Mỹ. Luật này được đưa ra sau « những hành động bạo lực chống người Trung Quốc », khiến gần 1000 người thiệt mạng, đặc biệt là những người đã tham gia xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa. Sự mâu thuẫn này trong chính sách của Mỹ khó hiểu đến mức, nhà báo Yves Guillot, trên tờ Le Siècle (Thế kỷ) ngày 27/06/1900, phải viết : « Người Mỹ [...] mở cửa Trung Quốc cho chính họ và các sản phẩm của họ, nhưng họ lại có ý định đóng cửa nước Mỹ đối với người Trung Quốc. Làm sao người Trung Quốc có thể hiểu được logic này ? » Một chi tiết khác cũng được nhà sử học Pierre Grosser nhắc đến là vào đầu thế kỷ XX, đã tồn tại những định kiến rất giống với những lời chỉ trích nhắm vào Trung Quốc ngày nay. « Ngay từ thời đó đã tồn tại một quan niệm gắn liền người Trung Quốc với ma túy. Và ngày nay, với vấn đề fentanyl, chúng ta thấy ý tưởng cũ ấy được khơi lại theo cách tương tự : người Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc mang ma túy đến Mỹ, tìm cách lách các hàng rào thuế quan và đôi khi gian lận về bản chất hay thành phần thực sự của hàng hóa. » 1943 : Roosevelt đặt cược vào Trung Quốc Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, Trung Quốc nằm trong số các quốc gia kháng chiến chống đế quốc Nhật mạnh mẽ nhất. Pierre Grosser nhấn mạnh rằng, trên thực tế Trung Quốc đã tham chiến sớm hơn nhiều so với cường quốc khác. « Trung Quốc đã chiến đấu đơn độc từ năm 1931 trở đi, ngay cả khi chúng ta coi chiến tranh bắt đầu từ năm 1937. Khi sự leo thang giữa Trung Quốc và Nhật Bản thực sự bắt đầu, thì Hoa Kỳ chỉ tham gia chiến tranh vào tháng 12 năm 1941. Trước đó, điều gì đã xảy ra ? Mỹ cũng giống như Liên Xô, đã hỗ trợ Trung Quốc để kìm chân Nhật Bản, ngăn chặn họ tấn công vào phía bắc hoặc cuối cùng là về phía Hoa Kỳ. » Trong bối cảnh này, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã có một quyết định mang ý nghĩa lịch sử. Ngày 11/01/1943, Hoa Kỳ ký « Hiệp ước Trung – Mỹ về miễn áp dụng luật ngoài lãnh thổ tại Trung Quốc ». Trong điều khoản thứ 3 có ghi, xin trích : « Hoa Kỳ từ bỏ quyền quản lý và kiểm soát tại Trung Quốc và đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong việc đạt được sự từ bỏ các quyền đó từ các quốc gia khác. » Điều này có nghĩa là Mỹ từ bỏ các đặc quyền ngoại trị từng áp đặt lên Trung Quốc từ thời các « hiệp ước bất bình đẳng », theo đó, các quyền tài phán của Phương Tây cho phép công dân nước ngoài trốn tránh công lý của Trung Quốc. Những đặc quyền này khá phổ biến ở châu Á trong thế kỷ 19, từ lâu đã được biện minh bằng ý tưởng rằng các nước châu Á « không đủ văn minh để xét xử đúng đắn » người phương Tây. Theo quan điểm của Pierre Grosser, động thái này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một yếu tố cốt lõi trong chính sách của Roosevelt : « Hoa Kỳ đã lôi kéo Trung Quốc trở thành một cường quốc », đưa Trung Quốc tham gia vào câu lạc bộ các cường quốc lớn. Như một phần thưởng, Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã giành được một ghế trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc tương lai vào năm 1943. Và Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được tham gia các cuộc đàm phán lớn về trật tự kinh tế quốc tế như Bretton Woods. Ngày nay, Bắc Kinh vẫn thường nhắc lại giai đoạn này để chứng minh rằng Trung Quốc không phải là một cường quốc mới nổi. Theo lập luận của họ, Trung Quốc đã được các đồng minh thắng trận công nhận là một cường quốc từ năm 1945. 1950 : Cuộc đối đầu quân sự Mỹ - Trung đầu tiên Năm 1949, Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bại trận, Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan, thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Đây thực sự là một cú sốc lớn, ám ảnh giới chính khách Mỹ trong nhiều năm sau đó. Chủ nghĩa MaccarThy bài cộng sản ra đời từ đó ở Mỹ. Năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ buộc Mao Trạch Đông phải điều khoảng một triệu quân sang Triều Tiên, khiến người con trai ông yêu quý nhất bị thiệt mạng. Theo Pierre Grosser, quyết định này của Mao Trạch Đông ít nhất vì ba động cơ : Thứ nhất là vì lợi ích an ninh. Bắc Kinh không thể chấp nhận việc quân đội Mỹ tiến sát biên giới Trung Quốc. Thứ hai là lý tưởng cách mạng. Và thứ ba, thường là yếu tố hay bị bỏ qua nhất, đó là nhu cầu củng cố quyền lực trong nước. « Bằng cách phóng đại mối đe dọa từ Mỹ và nguy cơ về một cuộc “phản cách mạng toàn cầu” do Hoa Kỳ dẫn dắt, đặc biệt là nguy cơ can thiệp từ bên trong Trung Quốc, đây là một cách để củng cố quyền lực và trấn áp mọi hình thức có thể thách thức chế độ cộng sản. Và vì thế, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1951 đã diễn ra một chiến dịch trấn áp đẫm máu, khiến khoảng từ 500.000 đến 600.000 người thiệt mạng ». Tuy nhiên, chuyên gia về châu Á Pierre Grosser đánh giá, hệ quả lớn nhất của cuộc chiến lại liên quan đến Đài Loan. Trước chiến tranh, Washington đã phần nào mất niềm tin vào Tưởng Giới Thạch. Nhưng chiến tranh Triều Tiên đã khiến Mỹ thay đổi hoàn toàn chính sách.
Donald Trump làm lung lay thế kiềng ba chân chiến lược an ninh tại Đông Bắc Á ?
2026/08/27
Ngày 17/08/2026, vài giờ trước khi diễn ra cuộc tập trận thường niên Mỹ - Hàn Ulchi Freedom Shield (Lá chắn tự do), tổng thống Mỹ Donald Trump bất ngờ thông báo giảm thời lượng chiến dịch. Theo giới quan sát, những động thái khó lường của nguyên thủ Mỹ có nguy cơ làm suy yếu một trong những nền tảng quan trọng nhất trong cấu trúc an ninh Đông Bắc Á hiện nay là tam giác an ninh bao gồm Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Trump trừng phạt Seoul ? Trên mạng xã hội Truth Social, ông đánh giá rằng cuộc tập trận « tốn kém » này gởi đi « một tín hiệu hoàn toàn không phù hợp và mang tính thù địch » đến Bình Nhưỡng. Ngoài ra, cuối thông điệp, tổng thống Trump còn khiển trách Hàn Quốc đã « từ chối » hỗ trợ Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Iran trong khi Washington có những cam kết bảo đảm an ninh cho Seoul. Trả lời Reuters, bà Jenny Town, giám đốc chương trình 38 Vĩ tuyến bắc, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Stimson, trụ sở tại Hoa Kỳ, nhận định : « Theo tôi, đây là một động thái chưa từng có tiền lệ khi gắn hai vấn đề hoàn toàn khác biệt lại với nhau. Đây là những cuộc tập trận thường kỳ của một liên minh đã tồn tại hơn 70 năm qua. Chiến dịch này không phải là một hành động đặc biệt nhắm vào bất kỳ quốc gia nào. Việc nói rằng "chúng tôi sẽ giảm quy mô tập trận vì quý vị không đáp ứng yêu cầu trước đây về một hành động quân sự ở khu vực khác" đơn giản không phải là cách người ta hành xử với đồng minh. Đặc biệt là với đồng minh mà bạn đã cam kết bảo vệ an ninh. Hiện Mỹ đang duy trì khoảng 28.500 quân nhân trên bán đảo Triều Tiên để bảo vệ khu vực này. » Những phát biểu này của Donald Trump không chỉ gây ngỡ ngàng cho các đồng minh trong khu vực, mà còn khiến giới quan sát khó hiểu: Ông Trump đang có những tính toán gì tại châu Á ? Một số nhà phân tích cho rằng động thái này của ông Trump là nhằm mục tiêu đối nội. Ông muốn chuyển hướng công luận về thất bại chiến lược quân sự trong cuộc xung đột với Iran, đã kéo dài gần chín tháng và hiện đang rơi vào tình trạng bế tắc, khi chỉ còn vài tháng nữa là đến bầu cử giữa kỳ. Đổi đầu tư lấy cam kết an ninh ? Tuy nhiên, theo nhiều kênh truyền thông Mỹ, tổng thống Hoa Kỳ dường như đang dùng cuộc tập trận như là một công cụ ngoại giao để gây sức ép với Hàn Quốc, buộc nước này tăng tốc thực hiện khoản đầu tư trị giá 350 tỷ đô la để đổi lấy mức thuế quan thấp hơn. Ngoại trưởng Hàn Quốc Cho Hyun hôm 19/08 xác nhận sự việc trước Quốc Hội. Theo trang CNBC, tin nhắn của ông Trump được đăng đúng thời điểm bộ trưởng Thương Mại Hàn Quốc Kim Jung Kwan đến Washington để thảo luận với đồng cấp Mỹ Howard Lutnick về các cam kết đầu tư và vấn đề thuế quan. Còn trang Politico, dẫn các nguồn tin am hiểu vấn đề, cho biết quyết định của Trump một phần xuất phát từ việc ông không hài lòng với tiến độ triển khai các khoản đầu tư của Hàn Quốc, vốn được cho là chậm hơn Nhật Bản. Đây cũng không phải là lần đầu tiên ông Trump sử dụng cuộc tập trận như một đòn bẩy ngoại giao. Nhà báo Arnaud Vaulerin, trong chương trình phát thanh France Culture, nhắc lại : « Khi diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên giữa Kim Jong Un và Donald Trump tại Singapore năm 2018, ông Trump cũng đã yêu cầu đình chỉ các cuộc tập trận chung Mỹ - Hàn. Vì vậy, đây là một đòn bẩy mang tính giao dịch mà ông ấy luôn sử dụng. » Chuyên gia Jenny Town nhìn nhận, ngay khi trở lại Nhà Trắng trong nhiệm kỳ hai, Donald Trump đã nhiều lần phát tín hiệu muốn nối lại các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, theo bà, « cách thức thực hiện lần này khá tùy tiện và khó có thể tạo ra tác động như ông mong muốn, nhất là khi hiện tại không có bất kỳ tiến trình đàm phán thực chất nào đang diễn ra ». Tập trận thường niên Mỹ - Hàn không đơn thuần là huấn luyện tác chiến. Hoạt động quân sự này còn là biểu tượng hữu hình cho cam kết an ninh mà Washington dành cho Seoul. Hàng năm, hàng chục ngàn binh sĩ tham gia các cuộc diễn tập nhằm kiểm tra khả năng phối hợp trước các kịch bản từ tấn công tên lửa, chiến tranh mạng, cho đến xung đột quy mô lớn trên bán đảo Triều Tiên. Trump làm suy yếu thế răn đe của Hàn Quốc Việc chính quyền Donald Trump quyết định rút ngắn thời lượng diễn tập vào phút chót trong khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất và binh sĩ đã sẵn sàng, là một sự lãng phí. Chuyên gia Jenny Town nhận định đây không phải là một quyết định khôn ngoan, bởi cuộc tập trận lần này là một trong những chương trình đầu tiên thực sự tích hợp nhiều bài học rút ra từ các cuộc chiến tranh hiện đại, đặc biệt là cuộc chiến Ukraina:  « Đặc biệt là khi xem xét các phương thức tác chiến hiện đại cũng như tính chất đa miền của chúng, tôi cho rằng đây thực sự là giai đoạn đầu tiên chúng ta bắt đầu chứng kiến ​​việc triển khai các cuộc diễn tập đa miền và diễn tập ứng phó tình huống khẩn cấp; qua đó chúng ta có thể hình dung các kịch bản xung đột khác nhau và đánh giá mức độ sẵn sàng của mình trước những tình huống đó, đồng thời nỗ lực nhận diện các điểm yếu của chính mình trong quá trình này. Vì vậy, tôi thực sự cho rằng đó là một quyết định vội vàng và sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng của liên minh. » Chuyên gia Marianne Péron Doise, giám đốc Đài Quan sát Địa Chính trị về vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), cũng có cùng một quan điểm : Quyết định đơn phương của Mỹ đã làm suy giảm phần nào năng lực răn đe và tác chiến của đồng minh Hàn Quốc, vào lúc nước này đang phải đối mặt với mối đe dọa Bắc Triều Tiên ngày càng lớn, mà cuộc chiến Ukraina được cho là một bước ngoặt chiến lược quan trọng cho tình hình an ninh bán đảo Triều Tiên. Trả lời đài France Culture, bà phân tích tiếp : « Nếu nhìn vào Bắc Triều Tiên và đặt trong bối cảnh rộng hơn, dù mức độ không hoàn toàn giống với chiến trường Châu Âu, việc Bình Nhưỡng nay thường xuyên triển khai binh sĩ sang chiến đấu cùng với quân đội Nga trong cuộc chiến tranh xâm lược Ukraina đã giúp họ có điều kiện tích lũy và nâng cao kinh nghiệm tác chiến trên thực địa. Đó là chưa kể đến việc Bắc Triều Tiên đã củng cố các năng lực hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Vì thế, mức độ dễ bị tổn thương của Hàn Quốc đang gia tăng đáng kể. Tuy nhiên, không chỉ có yếu tố mang tính "sỉ nhục" đối với một đồng minh rất thân cận đang trên tuyến đầu là Hàn Quốc, hành động này của tổng thống Mỹ còn có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của chính các lực lượng Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc. Điều mà chính quyền Trump có thể chưa lường trước được, vì cuối cùng chúng sẽ làm suy yếu các năng lực tác chiến, phản ứng cũng như khả năng phối hợp hiệu quả giữa lực lượng Mỹ và Hàn Quốc ». Nhật Bản thấp thỏm lo cho an ninh quốc gia Việc giảm quy mô hay thời lượng tập trận có thể không làm thay đổi tức thời tương quan lực lượng trong khu vực, nhưng đang gởi đi tín hiệu rằng Washington sẵn sàng điều chỉnh các cam kết chiến lược vì những tính toán chính trị ngắn hạn. Và đối với Tokyo, thông điệp không chỉ dành riêng cho Seoul này là thật sự đáng lo ngại, vào lúc Nhật Bản, vốn phụ thuộc nhiều vào Hoa Kỳ về an ninh, hiện đang đối diện cùng lúc với các đe dọa an ninh quốc gia đến từ ba nước có vũ khí hạt nhân là Nga, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Phát biểu của ông Trump diễn ra một thời gian ngắn sau chuyến thăm của tổng thống Nga Vladimir Putin đến bốn đảo phía bắc của quần đảo Kuril do Matxcơva kiểm soát nhưng Tokyo đòi chủ quyền. Liệu hành động này của nguyên thủ Nga có nhằm mục đích trắc nghiệm mức độ bền vững của quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật? Chuyên gia địa chính trị Marianne Péron Doise phân tích tiếp : « Tôi nghĩ rằng tổng thống Nga thực sự muốn nhắc nhở Nhật Bản về cuộc tranh chấp tồn tại từ lâu này, đồng thời tái khẳng định đó vẫn là nguồn gốc bất ổn và đe dọa tiềm tàng. Tuy nhiên, thông điệp
Thụy Sĩ: Khi các cuộc khủng hoảng thế giới mang lại hưng thịnh cho Geneve
2026/08/20
Dịch bệnh, chiến tranh, khủng hoảng tài chính hay bất ổn chính trị thường dẫn đến suy thoái và khó khăn cho nhiều quốc gia. Thế nhưng với Geneve, Thụy Sĩ, những biến động đó nhiều lần trở thành cơ hội để gia tăng sự giàu có và củng cố vị thế quốc tế của thành phố này. Minh chứng mới nhất là vào tháng 03/2026, chính quyền bang Geneve công bố thặng dư ngân sách 50 triệu franc Thụy Sĩ cho năm 2025. Bất chấp các cuộc khủng hoảng quốc tế liên tiếp xảy ra, thành phố đắt đỏ hàng thứ tư thế giới vẫn tiếp tục thịnh vượng. Và đây cũng là năm thứ sáu liên tiếp Geneve công bố thặng dư ngân sách. Làm thế nào giải thích cho sự ổn định đáng ngạc nhiên này ? Theo Marc Guéniat, nhà báo điều tra của nhật báo Thụy Sĩ Le Temps, đó không phải là một hiện tượng mới, mà là một sự tiếp nối liên tục trong dòng lịch sử của Geneve từ hơn bốn thế kỷ. Sự giầu có đến từ Pháp Nền tảng cho sự thịnh vượng của Geneve trước hết được xây dựng trên vai trò là một vùng đất trú ẩn, bắt đầu từ thế kỷ XVI với cuộc Cải cách Tin Lành do nhà thần học người Pháp có sức ảnh hưởng mạnh mẽ là Jean Calvin thực hiện. Cuộc cải cách này đã biến Geneve thành trung tâm của đạo Tin Lành tại châu Âu, được mệnh danh là « La Mã của người Tin Lành ». Thành Geneve trở thành điểm đến cho những người bị đàn áp tôn giáo vào thời kỳ đó, đặc biệt là từ Pháp, sau khi các chính sách khoan dung tôn giáo ở Pháp bị bãi bỏ, nhiều tín đồ Tin Lành buộc phải rời bỏ quê hương. Trên làn sóng đài phát thanh France Culture, ngày 22/05/2026, phóng viên điều tra Marc Guéniat và cũng là tác giả tập sách « Genève confidentielle, la ville qui aimait l'argent des autres » (tạm dịch: Bí mật Genève, thành phố yêu chuộng tiền của người khác, NXB Stock), giải thích : « Một làn sóng nhập cư cộng đồng tín hữu Kháng Cách (Huguenot), những tín hữu Tin lành Pháp đã đến định cư tại Geneve. Họ mang theo tài năng, di sản, của cải, kiến ​​thức chuyên môn và mạng lưới thương mại. Một khi ổn định, họ tiếp tục sử dụng những nguồn lực ấy, để rồi từ Geneve xuất khẩu kiến ​​thức và chuyên môn của họ sang Pháp. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng Geneve đã trở nên giàu có hơn đáng kể là nhờ Pháp. » Nhờ đó Geneve dần dần xây dựng sức mạnh kinh tế dựa trên khả năng thu hút nguồn vốn, các mối quan hệ thương mại và tri thức chuyên môn từ bên ngoài. Động lực này tiếp tục được củng cố nhờ những cơ hội kinh doanh bất ngờ. Marc Guéniat nhắc đến trường hợp nổi tiếng của « indiennes », loại vải cotton in hoa rất được ưa chuộng nhưng từng bị cấm ở Pháp: « Một ví dụ khác là vải bông (cotton) in hoa văn, mà Vua Louis XIV đã cố gắng cấm ở Pháp vào cuối thế kỷ 17 và suốt thế kỷ 18. Loại vải này rất thời thượng và rất được người Pháp ưa chuộng. Chúng bị cấm trên lãnh thổ của họ. Chính người dân Geneve đã bắt đầu sản xuất và xuất khẩu chúng thông qua các mạng lưới buôn lậu. Và một lần nữa, hoạt động đó đã làm giàu cho Geneve. » Thế giới bất ổn là một cơ hội Từ đó người ta có thể rút ra một nghịch lý lịch sử : Geneve đã làm giàu đáng kể nhờ chính nước Pháp. Ngày nay, khả năng thích ứng ấy của Geneve vẫn thể hiện rõ trong nền kinh tế hiện đại. Trong khi các cuộc khủng hoảng quốc tế làm suy yếu nhiều quốc gia, thành phố đắt hàng thứ tư thế giới vẫn biết cách biến bất ổn thành cơ hội kinh tế. « Ví dụ trong đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảng, mọi thứ gần như đình trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, thì tại Geneve, 300 hãng kinh doanh nguyên nhiên liệu, nhất là các tập đoàn kinh doanh dầu mỏ, đã hoạt động tích cực và thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ. Chúng được phản ảnh trong ngân sách liên bang thông qua thuế đánh vào lợi nhuận của những công ty này và các khoản thu nhập từ nhân viên của họ. Có thể nói, Geneve đã vượt qua được khủng hoảng này rất tốt. Và kịch bản này cũng đã được lặp lại với cuộc chiến ở Ukraina. Một cuộc khủng hoảng năng lượng lớn đã diễn ra. Trên khắp châu Âu, tại các nước phương Tây, người ta bắt đầu tự hỏi liệu có nên giảm tiêu thụ điện năng hay không. Và một lần nữa, giá cả tăng vọt và các cuộc đàm phán về nguyên liệu thô đã diễn ra. Khoảng 300 công ty trên, bao gồm cả chi nhánh của hãng Total của Pháp, đã thu được những khoản lợi nhuận to lớn và tất nhiên là thặng dư kỷ lục trong ngân sách liên bang. » Như « món lộc trời ban », Geneve sở hữu một « khả năng chống chịu phi thường », nhờ vậy thành phố hưởng lợi từ những biến động địa chính trị toàn cầu, hay nói như Voltaire, triết gia người Pháp, là « từ những sai lầm gây ra ở nước ngoài ». Ổn định chính trị : Lá chủ bài cho sự hưng thịnh Nhưng Geneve đâu chỉ có những hình ảnh tích cực. Trong một phim tài liệu do đài truyền hình Thụy Sĩ RTS thực hiện, khi được hỏi « Theo quý vị, sự thịnh vượng của Thụy Sĩ từ đâu mà có ? », nhiều người trong số họ trả lời « nhờ vào các ngân hàng ». Đối với Geneve nói riêng và Thụy Sĩ nói chung, câu chuyện về « bí mật ngân hàng » ngày nay là khá quen thuộc. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 từng làm thổi bùng lên dự đoán rằng sự suy giảm dần của bí mật ngân hàng sẽ kéo theo sự sụp đổ của mô hình tài chính Geneve. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Ngược lại, thành phố giàu có này đã tái tạo mô hình tài chính của mình. Với cuộc khủng hoảng đồng euro (2010 – 2012), một lần nữa hình ảnh về một nước Thụy Sĩ như là nơi « trú ẩn an toàn » lại nổi lên mạnh mẽ. Theo Marc Guéniat, chưa bao giờ lượng vốn đổ vào các ngân hàng Thụy Sĩ lại nhiều đến như thế trong giai đoạn đó. Sức hấp dẫn này trước hết là nhờ vào sự ổn định chính trị ngoại lệ của Thụy Sĩ:  « Trong 150 năm qua, Thụy Sĩ vẫn có cùng một kiểu chính phủ điều hành, với một Quốc Hội ổn định, không hề có bất kỳ biến động lớn nào. Họ không đột nhiên có một François Mitterrand được bầu lên nắm quyền, cũng không đột nhiên có một Nicolas Sarkozy được bầu. Thụy Sĩ đi theo một con đường gần như đã được định sẵn, và đó là điều mà người ta gọi là ổn định chính trị. Đây là một lợi thế đáng kể cho những người giàu có hoặc các doanh nhân, cho phép họ lập kế hoạch cho tương lai. Tôi nghĩ đó là một yếu tố then chốt của sự thịnh vượng của đất nước. » Dù vậy, Marc Guéniat cũng nhìn nhận đằng sau sự ổn định đó, vẫn tồn tại những cơ chế tài chính ít minh bạch : « Tuy bí mật ngân hàng đã biến mất, nhưng vẫn còn một loạt các dịch vụ tài chính bình phong được Geneve cung cấp, thông qua đội ngũ các luật sư và người ủy thác cung cấp nhiều dịch vụ cho phép bạn cất giấu tiền để trốn thuế bất chấp việc trao đổi thông tin thuế tự động, bằng cách thành lập các công ty bình phong ở Bahamas hoặc các thiên đường thuế ở vùng Caribê. Vì vậy, cơ chế này về cơ bản vẫn còn tồn tại. » Trong số các dịch vụ này, « cảng miễn thuế - port franc » là một ví dụ tiêu biểu. Marc Guéniat cho biết: « Cảng miễn thuế là các kho ngoại quan cho phép mọi người đăng ký hàng hóa, đặc biệt là các kiệt tác, và lưu trữ chúng mà không phải trả thuế trị giá gia tăng TVA. Điều này rõ ràng giúp tiết kiệm chi phí TVA, và sau đó cho phép họ lưu trữ tác phẩm nghệ thuật, âm thầm đầu cơ vào việc làm tăng giá của những thứ hàng hóa đó, và sau đó bán lại, với việc người mua phải trả thuế TVA ». Những điểm mong manh tiềm tàng Dù sở hữu một nền kinh tế mạnh mẽ, Geneve cũng không tránh khỏi những căng thẳng xã hội ngày càng gia tăng. Trong nhiều thập niên sau Đệ Nhị Thế Chiến, thành phố này đã xây dựng được một sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Marc Guéniat giải thích : « Sau chiến tranh, Thụy Sĩ đã hình thành một loại liên minh chính trị giữa các đảng tự do, các đảng trung hữu và các đảng dân chủ xã hội, những đảng này đã được hợp nhất vào các chính phủ liên minh ở cả cấp bang
Khí đốt Nga : Nghịch lý lớn của châu Âu
2026/08/13
Vào lúc lệnh cấm nhập khẩu khí ga hóa lỏng LNG của Nga sắp có hiệu lực, châu Âu trong vòng sáu tháng đầu năm 2026, đã mua gần như toàn bộ lượng LNG do nhà máy Yamal tại Siberia sản xuất. Sự việc cho thấy thế khó khăn của Liên Hiệp Châu Âu (EU) để thoát khỏi sự phụ thuộc vào khí đốt Nga, đồng thời phản ảnh nguy cơ làm suy yếu hiệu quả của các biện pháp trừng phạt khi khối này liên tục cho phép các ngoại lệ. Bất chấp các biện pháp trừng phạt, châu Âu chưa thể nào khóa được vòi khí đốt Nga. Trong một báo cáo công bố hồi đầu tháng 7/2026, Cơ quan Hợp tác Điều tiết Năng lượng EU (ACER) của Liên Hiệp Châu Âu ghi nhận : « Từ tháng 01-05/2026, nhập khẩu khí đốt qua đường ống tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025, trong khi nhập khẩu khí ga hóa lỏng LNG tăng 11% ». Các dữ liệu từ công ty phân tích Kpler, được nhật báo tài chính Anh Financial Times dẫn lại, xác nhận xu hướng trên, theo đó, trong vòng sáu tháng đầu năm, Liên Âu mua gần như toàn bộ sản lượng của dự án Yamal LNG tại Siberia, do công ty tư nhân Novatek của Nga kiểm soát, đạt mức 9,89 triệu tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2025. Các nước Pháp, Bỉ và Tây Ban Nha là những nhà nhập khẩu khí đốt Nga nhiều nhất, để rồi từ đó tái xuất một phần sang các nước khác trong khu vực. Cũng theo Kpler, châu Âu dường như đã trả hơn sáu tỷ euro cho Nga. Xung đột Trung Đông : Khí đốt Nga được lợi ? Theo ACER, việc Liên Âu tăng nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Nga là do các nước và doanh nghiệp tranh thủ nhập hàng trước khi các lệnh hạn chế mới có hiệu lực, cùng với những điều chỉnh trong hợp đồng và việc giữ lại một phần LNG vốn trước đây được trung chuyển sang nơi khác. Kênh truyền hình tư nhân Pháp BFMTV, nhắc lại, trung tuần tháng 3/2026, Liên Âu đã cam kết ngưng hoàn toàn mua khí đốt Nga từ đây đến tháng 11/2027. Các quy định của EU hiện nay cấm mua khí ga hóa lỏng Nga theo hợp đồng ngắn hạn. Và kể từ ngày 01/01/2027, lệnh cấm của EU đối với các hợp đồng dài hạn sẽ có hiệu lực. Ngoài ra, xung đột ở Trung Đông cũng làm giảm nguồn cung LNG từ Qatar, đặc biệt sau các rủi ro liên quan đến eo biển Hormuz. Vì vậy, trong giai đoạn châu Âu tích trữ khí đốt cho mùa đông, Nga tiếp tục trở thành một nguồn cung quan trọng. Về điểm này, chuyên gia Philippe Chalmin, giáo sư tại đại học Paris Dauphine, chuyên gia về thị trường nguyên nhiên liệu, trả lời kênh truyền hình tư nhân Pháp LCI, nhìn nhận, một phần nguyên nhân còn do việc khí ga tự nhiên hóa lỏng của Nga chưa bị trừng phạt, và mặt khác, đó còn là một thực tế khác khá mỉa mai : Châu Âu cần khí hóa lỏng Nga để có thể nhập khẩu ít hơn từ Mỹ. « Điều này diễn ra trong bối cảnh toàn cầu rất căng thẳng; hầu như không có LNG nào rời khỏi vùng Vịnh Ba Tư. Gần đây người ta đã chứng kiến ​​một vụ tấn công, gây ra mối lo ngại đáng kể, vào một cảng dầu ở Damietta, Ai Cập, mà cho đến hiện tại người ta vẫn chưa xác định được hoàn toàn nguồn gốc. Rõ ràng là thế giới hiện đang trải qua một thời kỳ căng thẳng liên quan đến khí tự nhiên hóa lỏng. Giá khí đốt lúc này không xa mức 20 đô la Mỹ/triệu BTU (đơn vị nhiệt Anh), và điều đó tương đương với giá ở châu Âu gần 60 euro/megawatt-giờ, vì vậy chúng ta đang ở trong một tình huống tương đối khó khăn. Có một điểm quan trọng cuối cùng cần nhấn mạnh là trước đây, khi thời tiết tốt hơn, mùa cao điểm tiêu thụ khí đốt tự nhiên là mùa đông. Hiện nay, với những đợt nắng nóng, sau điều được gọi là "mùa sưởi ấm", chúng ta có mùa hè, "mùa làm mát", hay mùa của máy điều hòa. Điều này có nghĩa là lượng tiêu thụ điện tăng lên và do đó, tỷ lệ tiêu thụ khí đốt tự nhiên cũng tăng theo. » Lệnh trừng phạt và những mâu thuẫn của Liên Âu Theo Cơ quan Hợp tác Điều tiết Năng lượng EU, hiện nay khí đốt Nga vẫn chiếm 12% nhu cầu của khối. Tại hai nước Đông Âu là Hungary và Slovakia, khí đốt Nga chiếm từ 70 – 80% lượng tiêu thụ, được sử dụng chủ yếu cho sưởi ấm nhà và ngành công nghiệp. Từ góc độ này, chuyên gia về nguyên nhiên liệu Philippe Chalmin, giải thích vì sao châu Âu vẫn chưa sẵn sàng từ bỏ khí đốt Nga vào lúc lệnh cấm đối với LNG Nga sắp có hiệu lực vào đầu năm 2027. « Nếu chúng ta muốn tuân theo logic của các lệnh trừng phạt, chúng ta thực sự sẽ phải từ bỏ LNG của Nga. Vấn đề là, chúng ta sẽ thay thế LNG của Nga bằng cái gì ? Về cơ bản là đối với châu Âu là bằng LNG của Mỹ. Nhưng như vậy, chúng ta có nguy cơ phải trả giá cao hơn cho LNG của Mỹ. Bởi vì, khi một tàu chở LNG rời vịnh châu Mỹ, như ông Trump nói, hoặc Vịnh Mexico, như cách gọi trước đây, thì có hai khả năng : Đi đến châu Âu, là lựa chọn gần nhất, hoặc đi đến châu Á. Hiện tại, sự chênh lệch giá cả khiến chúng nghiêng về phía châu Á nhiều hơn. Điều đó có nghĩa là có một cuộc đấu về giá cả giữa châu Á và châu Âu. » Một nghịch lý khác cho thấy rõ sự phụ thuộc của EU đối với khí đốt Nga : Ngày 23/07/2026, để có thể đạt được gói trừng phạt thứ 21 nhắm vào Matxcơva, EU đã chấp nhận một ngoại lệ theo yêu cầu của Hy Lạp. Theo đó, nước này được phép tiếp tục vận chuyển LNG của Nga đến các nước thứ ba trong một số điều kiện nhất định, trái ngược hoàn toàn với quyết định được Liên Âu đưa ra vào trung tuần tháng Ba năm nay. Thời báo Le Temps của Thụy Sĩ nhận định, quyết định này đã làm nổi rõ sự khó khăn ngày càng lớn của châu Âu trong việc thống nhất áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Matxcơva. Quyết tâm chính trị chung ngày càng vấp phải những thực tế thương mại và lợi ích quốc gia riêng. Việc cho phép các trường hợp ngoại lệ đồng nghĩa với việc tạo ra những kẽ hở và làm suy yếu một trong những công cụ gây sức ép quan trọng nhất của khối. Đội tầu ma của Nga Trong khoảng thời gian này Nga cũng đang điều chỉnh và thích nghi với tình hình, khi không ngừng mở rộng « hạm đội ma » nhằm tìm cách lách các lệnh trừng phạt bằng nhiều biện pháp như đổi cờ hiệu đăng ký, vô hiệu hóa hoặc gây nhiễu hệ thống định vị, cũng như sử dụng các công ty bình phong để che giấu hoạt động. Theo tiết lộ của Financial Times, « hạm đội ma » của Nga giờ có đến 25 tầu, bao gồm tám chiếc mua lại. Mặc dù Liên Âu ngày càng siết chặt các biện pháp nhắm vào mạng lưới này, nhưng Matxcơva dường như vẫn luôn đi trước một bước. Gói trừng phạt mới nhất của EU lần đầu tiên nhắm vào các tầu và các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba hỗ trợ trực tiếp về hậu cần hoặc vận hành cho đội tầu bí mật. Tuy nhiên hiệu quả của các biện pháp đó vẫn còn hạn chế. Trên kênh truyền hình LCI, nhà sử học quân sự, Benoist Bihan, chuyên gia về các vấn đề chiến lược giải thích : « Việc này sẽ trở nên khó khăn hơn bởi vì việc chuyển trở lại trực tiếp một số tầu dưới quốc kỳ Nga có thể cho phép Nga chẳng hạn như triển khai lực lượng bảo vệ có vũ trang trên tàu, hay nói cách khác là "quốc hữu hóa hạm đội ma" của mình. Điều đó sẽ khiến việc kiểm tra, chặn bắt hoặc khám xét các tàu này trên biển trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Bởi vì, việc kiểm soát một tầu mang cờ hiệu của nước thứ ba hoàn toàn khác với cách xử lý một con tàu treo quốc kỳ Nga và được hưởng sự bảo hộ trực tiếp của Nhà nước Nga. Do đó, Nga cũng đang thích nghi với các biện pháp mà các nước châu Âu, trong đó có Pháp, đã áp dụng trong những tháng gần đây nhằm cản trở hoạt động của các tàu này. Nga vẫn có khả năng bố trí các tàu hộ tống đi kèm, điều này có thể buộc các nước phương Tây phải vượt qua những ngưỡng đối đầu nghiêm trọng hơn nếu muốn ngăn chặn tuyến vận tải này. Vì vậy, đây hoàn toàn không phải là một vấn đề đơn giản. Tôi cũng muốn nói thêm rằng Tuyến Hàng hải Phương Bắc (Northern Sea Route), chạy dọc phía bắc nước Nga và kết nối đến châu Á, hiện đang ngày càng được khai thác nhiều hơn. Khi khí hậu ấm lên, tuyến đường này không bị băng bao phủ lâu như trước và có thể hoạt đ
Thị trường robot hình người : Hoa Kỳ có đối phó được thế thống trị của Trung Quốc ?
2026/08/06
Ngày 28/07/2026, chính quyền Donald Trump ra quyết định cấm nhập khẩu robot tiên tiến của nước ngoài. Biện pháp này, về thực chất, là nhắm vào các mẫu robot được tăng cường trí tuệ nhân tạo (AI) do Trung Quốc phát triển. Và theo nhiều nhà phân tích, động thái này của Mỹ còn làm nổi rõ cách tiếp cận cạnh tranh giữa hai siêu cường trong lĩnh vực này. Hãng tin Mỹ AP cho biết lệnh cấm do Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (FCC) ban hành còn áp dụng cho cả việc nhập khẩu các loại robot bốn chân mới (thường được gọi là robot chó) và một số bộ biến tần điện (power inverters) được sử dụng trong năng lượng tái tạo, trung tâm dữ liệu và thiết bị gia dụng. Và lệnh cấm này áp dụng đối với các « phiên bản mới » của những mặt hàng được nêu trên. Robot tiên tiến và nỗi lo an ninh của Mỹ Theo giải thích của FCC, các loại robot tiên tiến có thể tạo ra rủi ro về an ninh mạng, thu thập dữ liệu và làm gia tăng sự phụ thuộc của Mỹ vào chuỗi cung ứng nước ngoài. Chủ tịch của FCC, ông Brendan Car, cho biết hành động này nhằm « bảo đảm an toàn cho các chuỗi cung ứng trọng yếu của Mỹ ». Ngoài ra, chính quyền Trump cho biết đang cân nhắc các biện pháp kiểm soát việc sử dụng các mô hình trí tuệ nhân tạo AI mã nguồn mở của Trung Quốc, trong bối cảnh AI của nước này đang nhanh chóng gia tăng vị thế. Theo nhiều chuyên gia được kênh truyền hình quốc tế France 24 trích dẫn, Hoa Kỳ có lý do để lo lắng cho an ninh quốc gia. Thế hệ robot hiện đại ngày nay, chủ yếu do Trung Quốc chế tạo, không chỉ để thực hiện các nhiệm vụ đơn giản như vẫy tay chào khách tham quan tại các hội nghị công nghệ đầu những năm 2000, mà là những mẫu robot dạng AI hiện thân (embodied AI). Chúng có thể nghe, nhìn, di chuyển và tương tác với môi trường, nhờ các thiết bị cảm biến, cũng như các mô hình ngôn ngữ lớn như ChatGPT hay DeepSeek, được cài đặt bên trong « cơ thể robot ». Ông Valentin Weber, chuyên gia về Trung Quốc và các công nghệ tiên tiến, thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Đức (DGAP), trụ sở ở Berlin, nhận định mức độ tinh vi của những cỗ máy này đang đặt ra những thách thức mới cho an ninh Hoa Kỳ : « Với hệ thống cảm biến, những robot này có thể được xem như là những camera giám sát di động, thường được trang bị các chương trình nhận diện khuôn mặt. Hoa Kỳ không muốn những loại thiết bị này xuất hiện trong các môi trường nhạy cảm như văn phòng chính phủ hoặc các khu vực quân sự. » Robot hình người : Trung Quốc thống lĩnh thị trường Ngoài vấn đề an ninh, giới quan sát ghi nhận đây còn là vấn đề kinh tế. Tuy lệnh cấm mới của Mỹ không nhắm trực tiếp vào Trung Quốc, mà liên quan đến các thiết bị nước ngoài nói chung, theo kênh CNN, trong năm 2025, các nhà sản xuất Trung Quốc cung cấp « hơn 90% robot cho thế giới ». Các hãng Unitree, Agibot, UBTech và Galbot của Trung Quốc hầu như thống lĩnh thị trường mới nổi, qua mặt các hãng Figure AI, Tesla của Mỹ và Agile Robots của Đức. Lệnh cấm được đưa ra vào thời điểm các khảo sát dự báo năm 2026 bùng nổ thị trường robot hình người. TrendForce, một công ty chuyên nghiên cứu về thị trường Robot của Đài Loan, trích dẫn các nguồn quan sát dự báo lượng xuất xưởng toàn cầu sẽ vượt mức 50 ngàn đơn vị, tăng hơn 700% so với năm 2025. Trong số này, Unitree và AgiBot của Trung Quốc chiếm gần 80% tổng sản lượng. Và từ đây đến cuối năm 2030, con số này có thể đạt mốc 195 ngàn đơn vị. RBC Capital Markets đưa ra triển vọng dài hạn, đến năm 2050, sẽ có khoảng một tỷ robot trên trái đất với quy mô thị trường là 9 nghìn tỷ đô la, trong đó, Trung Quốc vẫn chiếm thị phần áp đảo trên 60%. Ngày 20/08/2025, ông Johnny Chen, chủ tịch Solomon Technology Corporation, trong một phóng sự của kênh truyền hình quốc tế France 24, đã vẽ ra bức tranh ngành công nghiệp robot humanoid như sau : « Mỹ hiện đang đi đầu trong việc sản xuất robot hình người vì nước này có công nghiệp AI tân tiến nhất. Nhưng Trung Quốc Đại Lục đang tiến  rất nhanh, đặc biệt là trong lĩnh vực phần cứng, nhờ nhiều nhà sản xuất có mặt ở đó. Lợi thế của Đài Loan ngày nay là chất bán dẫn và một số nhà sản xuất linh kiện có chất lượng cao. Bên nào cũng phải nỗ lực hết sức cho tương lai và tích hợp các nguồn lực khác nhau để có cơ hội cạnh tranh trong ngành công nghiệp robot hình người. » Từ bức tranh tổng quan này, lệnh cấm trên của Mỹ còn là một cách để gây sức ép đối với một lĩnh vực mà Trung Quốc đã sớm đưa lên hàng đầu trong danh sách các ưu tiên công nghệ. Sự việc cũng làm nổi rõ hai tầm nhìn chiến lược khác nhau về phát triển AI. Robot hình người : Trung Quốc và lợi thế chuỗi cung ứng France 24 nhắc lại Trung Quốc thời Tập Cận Bình, ngay từ năm 2015, đã coi việc phát triển robot và AI là một chiến lược quốc gia. Rút kinh nghiệm từ khủng hoảng tài chính 2008, Bắc Kinh tin rằng phải dựa nhiều hơn vào công nghiệp, sản xuất và công nghệ có khả năng tạo ra giá trị vật chất. Tầm nhìn của Tập Cận Bình là sử dụng AI để nâng cấp các lĩnh vực sản xuất và nền kinh tế thực, thay vì chỉ phát triển các ứng dụng số hay dịch vụ trực tuyến. Sự xuất hiện của ChatGPT tháng 11/2022 là chất xúc tác, thúc đẩy Trung Quốc tăng tốc đầu tư vào AI hiện thân. Trong chương trình truyền hình của France 24, Lucas Goumarr, nhà sáng lập và tổng giám đốc hãng Korben Robotique của Pháp nhấn mạnh vai trò của chính phủ Trung Quốc trong chiến lược phát triển AI : « Nhà nước Trung Quốc hoạt động dựa trên các kế hoạch phát triển mà người ta gọi là kế hoạch năm năm. Trong các kế hoạch 5 năm đó, robot học chính là một trong số các ưu tiên chiến lược. Điều thú vị là nên hiểu được lý do tại sao. » Về cơ bản, việc phát triển robot giúp Trung Quốc giải quyết hai thách thức kinh tế : Thiếu hụt lao động trong một số ngành nghề vì ngày càng có ít người Trung Quốc muốn làm công nhân nhà máy và thách thức nhân khẩu do dân số lão hóa nhanh chóng. Bắc Kinh hy vọng rằng robot có thể dần thay thế con người trong nhiều công việc, từ đó nâng cao năng suất lao động khi lực lượng lao động trong độ tuổi làm việc không còn đủ lớn để duy trì các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của chính phủ. Kết quả là trong vòng 20 năm, từ là một công xưởng thế giới, Trung Quốc – đặc biệt là Thâm Quyến, đã vươn lên thành một trong những trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới. Cũng trong chương trình của France 24, Stephane Bohbot, chủ tịch Innov8 Group, giải thích : « Điểm đáng chú ý là Trung Quốc đã thực hiện một sự chuyển đổi rất mạnh mẽ. Xuất phát từ một nền kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất và công nghiệp, họ đã xây dựng được năng lực sản xuất rất lớn với chi phí thấp, nhờ tự động hóa và robot hóa quy trình ở quy mô lớn. Đồng thời, ngày nay họ cũng sở hữu các trung tâm đổi mới sáng tạo mạnh mẽ, đặc biệt tại Thâm Quyến và Nam Xương (Nanchang), khu vực thường được gọi là “thung lũng robot”, với khoảng hơn một chục trường đại học đào tạo những kỹ sư chất lượng cao. Điều này tạo ra sự gắn kết rất chặt chẽ giữa khu vực học thuật và khu vực công nghiệp. Các kỹ sư mới tốt nghiệp có thể nhanh chóng tham gia trực tiếp vào các trung tâm sản xuất và nghiên cứu, từ đó tạo ra những sản phẩm có năng lực cạnh tranh rất cao. » Một điểm khác không kém phần quan trọng tạo nên thế mạnh cho Trung Quốc trong cuộc đua chiến lược với Mỹ : Lợi thế chuỗi cung ứng khổng lồ, theo như quan sát của ông Stephane Bohbot: « Đối với một robot hình người, gần như 80% linh kiện cần thiết có thể được tìm thấy và tiếp cận chỉ trong vài giờ. Điều này giúp đẩy nhanh đáng kể quá trình chế tạo nguyên mẫu (prototype). Thời gian từ khi phát triển sản phẩm đến khi đưa ra thị trường chỉ khoảng 9 tháng, nhanh gấp đôi so với nhiều nơi khác trên thế giới. Chính điều đó tạo nên khả năng lặp lại và cải tiến sản phẩm cực nhanh của Trung Quốc. Đây là một trong những thế mạnh lớn nhất của họ. » Hoa Kỳ và ưu thế năng lực AI
Hợp tác chiến lược Trung Quốc, Nga, Iran, Bắc Triều Tiên : Một thách thức lớn cho Mỹ
2026/07/30
Tuy không có hiệp ước phòng thủ chung chính thức giống như Liên minh  Bắc Đại Tây Dương NATO, chiến tranh giữa Mỹ và Iran ở Trung Đông đang thúc đẩy bốn nước Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên hành động như một khối có liên kết chiến lược. Mối quan hệ hợp tác này có thể là một thách thức to lớn đối với Hoa Kỳ. Những năm gần đây, mỗi khi nói đến các cuộc khủng hoảng quốc tế, từ chiến tranh Ukraina đến căng thẳng ở Trung Đông, người ta thường nghe nhắc đến một nhóm quốc gia gồm Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên, mà nhiều nhà phân tích phương Tây gọi là « CRINK », được ghép từ chữ cái đầu bằng tiếng Anh của bốn quốc gia (China, Russia, Iran và North Korea). Mạnh mẽ hơn, nhóm bốn nước này còn bị chỉ định là « trục gây bất ổn », « trục chống phương Tây » hay « trục các quốc gia gây hấn ». CRINK : Một khối thống nhất như NATO ? Câu hỏi quan trọng : Liệu đây có thực sự là một khối thống nhất giống như NATO? Hay người ta đang đơn giản hóa một thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Chủ đề vẫn gây tranh cãi trong giới quan sát, giữa một bên cho rằng Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên đang hình thành một liên minh chiến lược chặt chẽ nhằm đối đầu với Mỹ và phương Tây, và bên kia thì cho rằng « không tồn tại bất kỳ khối nào », rằng mỗi nước theo đuổi lợi ích riêng và không có sự phối hợp đáng kể. Thực tế cho thấy là cả hai cách nhìn này đều chưa hoàn toàn chính xác. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ hợp tác quân sự và an ninh giữa bốn nước đã gia tăng mạnh mẽ, nhất là kể từ khi Nga tiến hành « chiến dịch quân sự đặc biệt » ở Ukraina năm 2022. Các hoạt động chuyển giao vũ khí, hàng hóa lưỡng dụng, các cuộc tập trận chung và những thỏa thuận song phương xuất hiện với tuần suất cao hơn. Tuy cho đến nay bốn nước này chưa có một cấu trúc chỉ huy chung hay một cơ chế phòng thủ tập thể, nhưng theo ghi nhận của các tác giả một báo cáo đăng trên trang Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) ngày 30/09/2025, CRINK đang tồn tại như một mạng lưới hợp tác linh hoạt hơn là một liên minh quân sự chính thức. Xung đột giữa Israel và Iran trong giai đoạn 2024-2026 là phép thử rõ nét nhất cho nhận định trên. Bắc Triều Tiên : Lợi ích quốc gia trên cả ý thức hệ, tình hữu nghị Nếu thực sự tồn tại một « khối » thống nhất như NATO, người ta có thể kỳ vọng rằng khi Iran đối mặt với áp lực quân sự, ba đối tác còn lại sẽ ngay lập tức tham gia hỗ trợ một cách mạnh mẽ. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Và Bắc Triều Tiên là một ví dụ đáng chú ý nhất. Thái độ thận trọng của Bình Nhưỡng cho thấy lợi ích quốc gia của Bắc Triều Tiên vẫn được đặt lên trên bất kỳ tình cảm ý thức hệ nào. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt (ngày 18/06/2026), nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về Nam Á, Trung Á và Vịnh Ba Tư, nhận định : « Thời gian gần đây, Cơ quan Tình báo Quốc gia Hàn Quốc (NIS) có đưa ra một thông điệp khá rõ ràng, cho thấy Bắc Triều Tiên đã khẳng định họ không hậu thuẫn Iran trong suốt cuộc chiến, vì muốn duy trì mối quan hệ tốt với chính quyền Trump trong tương lai. Bình Nhưỡng không muốn là mục tiêu sau khi chiến tranh Iran kết thúc. » Nga và Iran : Mối quan hệ đối tác chặt chẽ Tuy nhiên, Nga lại có một cách hành xử khác. Iran không chỉ là một đối tác mà còn là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới giúp Matxcơva đối phó với các biện pháp cô lập của phương Tây. Trong chiến tranh Ukraina, Iran đã cung cấp cho Nga một lượng lớn drone Shahed và nhiều loại khí tài khác, đổi lại, Matxcơva đã mở rộng hợp tác quân sự, chia sẻ công nghệ và ký kết các thỏa thuận chiến lược, hỗ trợ Teheran trong nhiều lĩnh vực quốc phòng. Về điểm này, chuyên gia địa chính trị Didier Chaudet cho biết thêm rằng « một lượng lớn vũ khí đã được vận chuyển từ các cảng của Nga tại vùng biển Caspi đến Iran. Tất nhiên, đây là cách Nga lách các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Iran, một phần để đáp trả những lời chỉ trích về việc thiếu hỗ trợ trong năm 2025 khi căng thẳng giữa Israel và Iran tăng cao. Thật vậy, đối với Nga, nếu Iran sụp đổ, có nguy cơ thực sự họ sẽ là nạn nhân tiếp theo, khiến liên minh phương Tây trở nên quyết liệt hơn đối với Nga trong tương lai. » Đây cũng là quan điểm của nhà nghiên cứu Andrea Kendall - Taylor, giám đốc Chương trình An ninh Xuyên Đại Tây Dương, Trung tâm An ninh Hoa Kỳ Mới (CNAS), khi trả lời trang RFE/RL (24/07/2026). Theo bà, việc Iran sụp đổ có nguy cơ tạo ra bất ổn sâu rộng tại Trung Đông, đồng thời làm suy yếu một trong những đối tác quan trọng nhất của Nga. Thế nên, việc duy trì sự tồn tại và ổn định của Iran phù hợp với lợi ích chiến lược của Matxcơva. Trung Đông ổn định là lợi ích của Bắc Kinh Trong khi đó, Bắc Kinh lại chọn một cách tiếp cận khác thận trọng hơn. Trung Quốc tránh can dự quân sự trực tiếp, nhưng duy trì các mối quan hệ sâu rộng với Iran. Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà địa chính trị học Didier Chaudet phân tích : « Ai cũng biết rằng Trung Quốc mua dầu của Iran, vì điều này nằm trong lợi ích của họ. Tương tự, trong khoảng thời gian 2025-2026 (…) rõ ràng đã có các hoạt động buôn bán những loại sản phẩm không thuộc diện trừng phạt do Mỹ và các đồng minh áp đặt, những sản phẩm không nằm trong phạm vi pháp luật, nhưng lại giúp tái thiết đặc biệt là khả năng tên lửa tầm trung của Iran. » Bắc Kinh không nhất thiết hành động vì mục tiêu bảo vệ Iran vô điều kiện. Lợi ích của Trung Quốc nằm ở một Trung Đông ổn định, đủ để bảo đảm các tuyến năng lượng và thương mại, đồng thời tránh sụp đổ nhà nước dẫn tới chiến tranh kéo dài. Một Iran hỗn loạn hoặc rơi vào nội chiến sẽ gây bất ổn cho toàn bộ khu vực và tác động đến kinh tế toàn cầu, điều mà Trung Quốc cũng như là châu Âu hoàn toàn không mong muốn, theo giải thích của nhà nghiên cứu Didier Chaudet. Lệnh trừng phạt của phương Tây : Mẫu số chung của CRINK Nhưng khi quan sát CRINK, người ta phát hiện ra một nghịch lý thú vị: Bốn nước này tuy không phối hợp ở mức độ cao như một liên minh quân sự thực sự, nhưng họ vẫn liên tục hỗ trợ lẫn nhau. Vậy điều gì đang gắn kết họ với nhau ? Đó là các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây. « Nhìn từ Trung Quốc, một nước như Hoa Kỳ có thể áp đặt luật lệ của mình ra ngoài lãnh thổ nhắm mục tiêu các công ty cùng nhiều thực thể của Trung Quốc, nhất là trong hồ sơ Iran, là điều càng ngày càng không thể chấp nhận trên phương diện luật quốc tế », theo đánh giá của chuyên gia Chaudet. Trong hoàn cảnh này, việc tăng cường hợp tác với nhau giữa bốn nước là một lựa chọn hợp lý. Nhà phân tích Andrea Kendall - Taylor gọi đây là một mạng lưới linh hoạt, vừa chia sẻ nguồn lực, vừa giúp nhau giảm tác động các biện pháp trừng phạt. Một trong những tác động quan trọng nhất của mạng lưới là giúp tăng cường năng lực của từng thành viên, đồng thời làm suy giảm hiệu quả các công cụ gây sức ép từ phương Tây. Ví dụ điển hình nhất là Bắc Triều Tiên. Trong nhiều năm, hình ảnh phổ biến về quốc gia này là một nền kinh tế trì trệ và cô lập, nhưng tình hình đã được cải thiện đáng kể trong hai năm gần đây. Theo giải thích của chuyên gia Didier Chaudet, « bởi vì Triều Tiên đang được hưởng lợi từ việc họ có thể hợp tác với Nga và kiếm tiền từ Nga dưới danh nghĩa hỗ trợ mà họ dành cho Nga trong cuộc chiến ở Ukraina. Bởi vì Trung Quốc, đối mặt với áp lực quốc tế từ những lãnh đạo cũng nhắm mục tiêu vào các thực thể Trung Quốc, đã quyết định nới lỏng các quy định thương mại giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. » CRINK : Một mạng lưới linh hoạt Điều này giải thích vì sao, bất chấp các lệnh cấm vận kéo dài, nền kinh tế Bắc Triều Tiên vẫn cho thấy có những dấu hiệu cải thiện tương đối. Từ góc độ quan hệ quốc tế, đây không còn là câu chuyện về tình hữu nghị hay ý thức hệ, mà là vấn đề lợi ích. Nga
Nguyên tắc ngoài lãnh thổ : Kho vũ khí pháp lý mới của Trung Quốc trong cạnh tranh thương mại
2026/07/16
Ngày 22/06/2026, Trung Quốc thông báo loạt trừng phạt mới có hiệu lực ngay lập tức nhắm vào hàng chục công ty Mỹ, chủ yếu trong các lĩnh vực quốc phòng và đất hiếm để đáp trả quyết định của Lầu Năm Góc đưa các tập đoàn như Alibaba và BYD vào danh sách đen. « Ăn miếng, trả miếng », Bắc Kinh kể từ giờ không ngần ngại trừng phạt các công ty nước ngoài, mà còn cấm các doanh nghiệp trong nước tuân thủ các biện pháp ngoài lãnh thổ của những nước khác, đặc biệt là Mỹ. Để đáp trả nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ, Trung Quốc đang hoàn thiện các công cụ pháp lý của mình. Từ nhiều năm qua, Bắc Kinh triển khai kho vũ khí pháp lý vượt ra ngoài lãnh thổ, mà nạn nhân liên đới đầu tiên là lĩnh vực kinh tế. Trên đài France 24, chuyên gia Mathieu Duchâtel, giám đốc nghiên cứu quốc tế, Viện Montaigne, trước hết giải thích đôi nét về nguyên tắc ngoài lãnh thổ : « Đơn giản đó là việc áp dụng luật pháp quốc gia ở nước ngoài. Có thể là đối với các chủ thể quốc gia hiện diện ở nước ngoài, các cá nhân, các tác nhân kinh tế, nhưng đôi khi là đối với chính các chủ thể nước ngoài. Cách tiếp cận truyền thống là đối với các tội phạm hình sự do công dân của nước mình đang ở nước ngoài gây ra, điều này có thể bao gồm các thỏa thuận dẫn độ hoặc nhiều cách thức khác để xử lý họ. » Hoa Kỳ : Quốc gia đi đầu về luật ngoài lãnh thổ Nguyên tắc ngoài lãnh thổ không phải là hiện tượng mới. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên sử dụng cách tiếp cận này như một cơ chế bảo hộ nhằm ngăn chặn tất cả các rủi ro hiện có, bao gồm cả những rủi ro liên quan đến chống hối lộ quan chức nước ngoài, trừng phạt và cấm vận. Giáo sư Mathias Audit, chuyên ngành luật trường đại học Sorbonne, từng giải thích trong một hội thảo: « Luật ngoài lãnh thổ của Mỹ dựa trên hai nguyên tắc : Thứ nhất, nếu một công ty nước ngoài được hưởng lợi từ thị trường của Mỹ thì họ cũng phải tôn trọng các quy tắc của Mỹ. Thứ hai, trên thị trường quốc tế, các công ty Mỹ không được ở thế bất lợi về cạnh tranh, do đó nảy sinh ý tưởng áp đặt các công ty không phải của Mỹ vào cùng những ràng buộc. » Từ 1976 đến 2019, Mỹ ban hành 7 đạo luật mang tính ngoài lãnh thổ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, từ kiểm soát hoạt động buôn bán vũ khí, chống hối lộ, kiểm soát thị trường tài chính, đến chống khủng bố, bảo vệ dữ liệu hay chống doping trong thể thao. Nếu như phần lớn các tập đoàn lớn châu Âu là nạn nhân của luật ngoài lãnh thổ Mỹ, việc sử dụng nguyên tắc này đã gia tăng đáng kể từ khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng năm 2017 nhằm ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận công nghệ phương Tây. Theo chuyên gia Mathieu Duchâtel, Hoa Kỳ đã áp dụng nguyên tắc này một cách tùy tiện đối với các công ty châu Âu và châu Á để ngăn họ xuất khẩu sang Trung Quốc, mà vụ án Mạnh Vãn Châu là một ví dụ điển hình. Năm 2018, để trả đũa việc Canada quyết định bắt giam nữ giám đốc tài chính, con gái nhà sáng lập Hoa Vi tại Vancouver theo yêu cầu của Mỹ, chính quyền Trung Quốc đã bắt giữ và tống giam hai công dân Canada là Michael Kovrig et Michael Spavor trong vòng hơn 1.000 ngày trong những điều kiện ngặt nghèo. Sự việc đã gây ra khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng giữa Ottawa và Bắc Kinh. Ba mục tiêu Đối với Trung Quốc, sự phát triển của nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ dường như là một hành động gây hấn nhắm thẳng vào chính quyền Bắc Kinh. Cảm thấy bị đe dọa bởi tất cả các điều khoản về luật ngoài lãnh thổ của Mỹ kể từ khi Hoa Vi bị tuyên bố là mối đe dọa an ninh mạng tiềm tàng vào năm 2009, Trung Quốc thời Tập Cận Bình đã có những thay đổi triệt để về lập trường. Ngay từ năm 2019, ông đã có một tuyên bố rõ ràng, kêu gọi tất cả các thể chế Trung Quốc, Nhà nước, Đảng, xây dựng một đạo luật có hiệu lực ngoài lãnh thổ cho đến thời điểm đó vẫn còn khá hạn chế. Trả lời France 24, nhà nghiên cứu về Đông Á, Mathieu Duchâtel, giải thích tiếp : « Đó là một loạt các văn bản mang tính chất kinh tế. Tôi nghĩ điều cốt lõi trong tất cả những điều này là ý tưởng về sự trả đũa, được đưa vào trong luật thương mại quốc tế của Trung Quốc. Trước hết, đây là một biện pháp tương tự như cách tiếp cận của Mỹ, nghĩa là lập danh sách các thực thể không đáng tin cậy, các thực thể nước ngoài, cuối cùng định nghĩa chúng một cách rất rộng rãi là các chủ thể kinh tế, hoặc thậm chí, không nhất thiết là các chủ thể kinh tế, mà là các chủ thể mà hành động của họ có thể gây nguy hiểm cho lợi ích của Trung Quốc. Đó là về lợi ích, chứ chưa phải là vấn đề an ninh. » Trong một bài ghi chú đăng vào tháng 12/2025, Viện Montaigne giải thích luật ngoài lãnh thổ của Trung Quốc theo đuổi ba mục tiêu. Thứ nhất, nguyên tắc ngoài lãnh thổ được thiết kế để giải quyết sự cạnh tranh mang tính hệ thống với Hoa Kỳ. Đây là kho vũ khí phòng thủ của Bắc Kinh nhằm mục đích giảm thiểu tác động của các lệnh trừng phạt kinh tế của Hoa Kỳ và chống lại các hạn chế xuất khẩu của Mỹ, ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận các công nghệ lưỡng dụng. Thứ hai, Bắc Kinh cũng áp dụng luật lệ của mình ở nước ngoài để tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng toàn cầu bằng cách tuân theo lô-gic thực dụng, tập trung vào việc bành trước sức mạnh và cân bằng quyền lực với Hoa Kỳ. Chính quyền Bắc Kinh cố gắng sử dụng luật pháp Trung Quốc để giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, chẳng hạn như ở Biển Đông, và sử dụng ngôn ngữ pháp lý của mình để hợp pháp hóa các hành động của Trung Quốc. Cuối cùng, Trung Quốc áp dụng các chính sách an ninh công của mình ra ngoài lãnh thổ để triển khai các biện pháp của Trung Quốc về an ninh nội địa (người nước ngoài, bất đồng chính kiến, các vấn đề liên quan đến Hồng Kông và Đài Loan) trên phạm vi toàn cầu. Bắc Kinh cho thiết lập các đồn cảnh sát phi chính thức ở nước ngoài, và tìm cách cưỡng chế hồi hương một số công dân của mình. Việc đe dọa, răn đe và dẫn độ cưỡng bức công dân Trung Quốc ở nước ngoài đặt ra một thách thức đáng kể đối với các nền dân chủ châu Âu. Theo quan sát của Mathieu Duchâtel, khi nói đến « lợi ích », Trung Quốc đã đề ra một phạm vi áp dụng nguyên tắc ngoài lãnh thổ rất rộng, vượt ngoài phạm vi an ninh quốc gia. « Điều cần hiểu là mọi biện pháp mà Trung Quốc thực hiện để giảm thiểu tính chất dễ bị tấn công trước nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ đều có thể được sử dụng để tấn công và cưỡng chế. Điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Trung Quốc và cụ thể là Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong văn hóa chiến lược của mình, thực sự có ý tưởng về chiến tranh thông qua luật pháp. Điều này được thể hiện trong các vấn đề không chỉ thuần túy về kinh tế, mà cả trong tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc có cả một chiến lược sử dụng luật pháp để củng cố hay hợp pháp hóa các lập trường của mình. Trên thực tế, Bắc Kinh có một đường hướng chỉ đạo chung, đi từ các vấn đề lãnh thổ đến các hồ sơ kinh tế và địa kinh tế. » « Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết » Được trang bị cả một kho vũ khí pháp lý, Trung Quốc kể từ giờ không chỉ có thể đáp trả với các biện pháp ngoài lãnh thổ của Mỹ như lập danh sách đen các cá nhân, thực thể hay doanh nghiệp, mà còn có thể kiểm soát điểm đến cuối cùng của nhiều mặt hàng xuất khẩu giống như những gì Washington đã thực hiện từ nhiều thập niên thông qua một số luật, trong đó, đáng chú ý nhất là luật I-TAR, kiểm soát xuất khẩu vũ khí và luồng lưu thông trang thiết bị quân sự Mỹ.  Vị giám đốc nghiên cứu quốc tế Viện Montaigne, trên đài France 24 nhắc lại : « Trung Quốc có luật kiểm soát xuất khẩu từ năm 2021, có hiệu lực từ năm 2025. Nhưng Trung Quốc đã thực hiện kiểm soát xuất khẩu đối với các nguyên vật liệu quan trọng mà họ chiếm ưu thế mà không có lý do pháp lý chính đáng. » Đây là những gì xảy ra đối với đất hi
Châu Mỹ Latinh ngả theo cánh hữu và cực hữu : Thành công chính trị của Trump ?
2026/07/09
Hơn một tuần sau thắng lợi bầu cử của Abelardo de la Espriella tại Colombia (21/06/2026), đến lượt Keiko Fujimori, con gái của nhà độc tài Alberto Fujimori, được loan báo về đầu trong cuộc bầu cử tổng thống Peru ngày 07/06/2026. Chỉ trong vòng 18 tháng, các ứng cử viên liên minh hoặc liên kết với Donald Trump thắng cử tổng thống hay lập pháp tại bảy nước châu Mỹ La-tinh. Bước đột phá ngoạn mục của phe theo chủ nghĩa dân tộc – dân túy dường như đã mang đến cho Donald Trump một thắng lợi trong chính sách của ông tại khu vực. Sự dịch chuyển này đã bắt đầu từ năm 2019, với thắng lợi bầu cử của Nayib Bukele tại Salvador, rồi như một hiệu ứng đô-mi-nô, phe cực hữu trong những năm gần đây lần lượt giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử lập pháp và tổng thống tại các nước Achentina, Bolivia, Chilê, Costa Rica, Ecuador, Honduras, Panama và gần đây nhất là Colombia và Peru.   Tình trạng mất an ninh, bài di dân : Những điểm chung Sau « làn sóng mầu hồng » trong những năm đầu thập niên 2020, ngoại trừ Uruguay, hầu như toàn bộ các cuộc bầu cử ở khu vực châu Mỹ Latinh những năm gần đây đều có lợi cho cánh hữu hoặc các đảng cánh hữu cực đoan và tự do nhất. Bước đột phá bầu cử này, tuy bắt nguồn từ nhiều vấn đề quốc gia khác nhau nhưng theo quan sát của nhà chính trị học Gaspar Estrada, chuyên gia về Nam Bán Cầu, thuộc London School of Economics, vấn đề an ninh, chống các băng đảng tội phạm, di dân là những điểm chung trong các cuộc bầu cử gần đây. Trên làn sóng RFI Pháp ngữ, ông giải thích : « Trong những tháng gần đây, vấn đề mất an ninh đã trở thành mối bận tâm hàng đầu ở khu vực châu Mỹ Latinh, và hầu hết các cuộc thăm dò dư luận trong khu vực đều xác nhận xu hướng trên. Điều này trái ngược hoàn toàn với một thập kỷ trước, khi tham nhũng là một chủ đề nổi bật hơn nhiều trong không gian công luận và là chủ đề trọng tâm trong các chiến dịch tranh cử. » Anthony Pereira, một chuyên gia về nghiên cứu Châu Mỹ Latinh tại đại học Tulane ở Louisiana, chỉ ra rằng yếu tố đã dẫn đến sự sụp đổ của cánh tả tại Nam Mỹ là giá cả nguyên nhiên liệu. Trả lời kênh truyền hình France 24, ông giải thích : « Khi giá cả cao, người ta có thể thực hiện các chương trình viện trợ, tăng lương và cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục. Số người sống trong nghèo đói giảm, và các phong trào tiến bộ giành được chỗ đứng trong khu vực. Nhưng khi không thể duy trì các chương trình này do giá cả giảm, thì sự lạc quan của những năm 2010 đã nhường chỗ cho sự thất vọng. Đồng thời, tội phạm có tổ chức ngày càng lớn mạnh và kiểm soát được toàn bộ các khu phố, thậm chí cả nhà tù. Và cử tri bắt đầu hưởng ứng nhiệt tình hơn đối với các ứng cử viên tự xưng là người chống lại giới cầm quyền. » Không chỉ đối với cánh tả, sự trỗi dậy của làn sóng « cánh hữu cứng rắn » còn phản ánh một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong các chính đảng truyền thống mà Colombia là một ví dụ mới nhất, theo như phân tích của Mathilde Allain, chuyên gia về Nam Mỹ, giảng viên trường đại học Sorbonne Nouvelle, với France 24 : « Chúng ta đang chứng kiến ​​sự sụp đổ của cánh hữu truyền thống Colombia, vốn không thể tìm được ứng cử viên nào xứng đáng. Lá phiếu dành cho Abelardo de la Espriella cũng là lá phiếu chống lại các chính đảng, chống lại giới tinh hoa và chống lại giới cầm quyền, như chúng ta đã thấy ở những nơi khác trên lục địa ». Một trong những chìa khóa thành công của « cánh hữu cứng rắn » nằm ở chiến lược truyền thông. Hoạt động tích cực trên mạng xã hội, những ứng cử viên này phần lớn bỏ qua các kênh chính trị truyền thống bằng cách tập trung vào giao tiếp trực tiếp, được cá nhân hóa và thường mang tính khiêu khích, cực đoan, như ủng hộ xu hướng vãn hồi trật tự bằng vũ lực, thậm chí bằng quân sự để chống các băng đảng tội phạm, chống di dân bất hợp pháp, được cho là nguồn cội làm gia tăng tội phạm, hay bài sinh thái, chống các quyền của giới LGBT… Donald Trump: Điểm kết nối lớn Tuy nhiên, giữa các ứng viên cực hữu này, còn một điểm chung khác quan trọng hơn : Tất cả đều chia sẻ các quan điểm, giá trị với nước Mỹ thời Donald Trump và đều được ông Trump hậu thuẫn ! Đối với nhiều nhà quan sát, thắng lợi bầu cử của Abelardo de la Espriella tại Colombia và bà Keiko Fujimori ở Peru khẳng định xu thế « Trump hóa » ở châu Mỹ, đặc biệt là Nam Mỹ, với một kiểu liên minh quốc tế các đảng cánh hữu cực đoan đang được hình thành để cùng giải quyết một số vấn đề. Thomas Posado, giảng viên về Văn minh châu Mỹ Latinh đương đại, trường đại  học Rouen Normandie, trên trang Huffpost, phân tích : « Donald Trump chắc chắn là một trong những động lực thúc đẩy sự cực đoan hóa này. Đầu tháng 3 năm nay, ông đã triệu tập Liên minh "Lá chắn châu Mỹ", tập hợp tất cả các tổng thống cánh hữu và cực hữu của châu Mỹ Latinh, dẫn đến việc hình thành kiểu liên minh này, một liên minh trông giống như sự phục tùng hơn. Nói cách khác, họ đang cố gắng tận dụng thành công của Donald Trump. Họ đang cố gắng tận dụng triển vọng nhận được tài trợ từ Mỹ. » Quả thật Nhà Trắng đã có sự can thiệp về ngoại giao chưa từng có vào các cuộc bầu cử ở châu Mỹ Latinh. Ông Donald Trump không ngần ngại khoe khoang rằng những thành công bầu cử đạt được là nhờ sự ủng hộ của ông. Tuy nhiên, theo các nhà quan sát, Donald Trump có xu hướng sử dụng kiểu ngoại giao dọa dẫm, cứng rắn hơn là mềm mỏng với các nước Nam Mỹ. Tại Achentina, ông đặt điều kiện viện trợ của Mỹ phụ thuộc vào chiến thắng của Javier Milei trong cuộc bầu cử lập pháp năm 2025 và đã ký kết thỏa thuận thương mại với đồng cấp Achentina sau thắng lợi bầu cử. Nhưng thỏa thuận này chủ yếu mang lại lợi ích cho nông dân Mỹ tại thị trường Achentina. Nếu như liên minh này nhằm mục đích chống các băng đảng ma túy như được thể hiện tại kỳ họp thượng đỉnh « Lá chắn châu Mỹ », thì mục tiêu chính của ông Trump là Trung Quốc. Tại khu vực này, Bắc Kinh là đối tác thương mại hàng đầu và do vậy, nguyên thủ Mỹ đang nỗ lực hạn chế tầm ảnh hưởng này của Trung Quốc. Nước Mỹ của Donald Trump muốn giành lại chỗ đứng ở Nam Mỹ, và để đạt mục tiêu này, họ không ngần ngại sử dụng các biện pháp gây áp lực chính trị. Học thuyết Donroe có duy trì được liên minh ? Theo Thomas Posado, đây chính là điểm hạn chế của liên minh của Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo cực hữu Nam Mỹ. « Ví dụ, vấn đề Trung Quốc ngay từ đầu đã là một cái gai trong mắt phe cực hữu ở châu Mỹ Latinh. Khi vận động tranh cử, những người như Bolsonaro hay Milei đều tuyên bố, "Không bao giờ nữa, đó là chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc, chúng ta sẽ không giao thương với họ." Nhưng khi lên cầm quyền, họ nhận ra rằng đã tồn tại những mạng lưới thương mại vận hành hiệu quả, các doanh nghiệp cần giao dịch với Trung Quốc và có những cơ hội mà Hoa Kỳ không thể mang lại. Vì vậy, chúng ta sẽ phải chờ xem Hoa Kỳ có thể đảo ngược những động lực quyền lực này hay không. Hiện tại, bất chấp mọi tuyên bố về ý chí chính trị từ các nhà lãnh đạo cực hữu, vẫn chưa có thay đổi đáng kể nào trên mặt trận này. » Học thuyết Donroe cũng vì thế mà ra đời. Trong nỗ lực giành lại ảnh hưởng, Donald Trump đã dùng lại học thuyết Monroe nhưng theo cách của ông. Học thuyết Monroe được đưa ra dưới thời tổng thống Theodore Roosevelt (1901-1909) nhằm loại trừ  ảnh hưởng của châu Âu khỏi khu vực. Nhưng thay vì « giơ cao đánh khẽ » thì Donald Trump lại sử dụng biện pháp « đao to búa lớn » nhằm áp đặt thế bá quyền của Mỹ. Theo « học thuyết Donroe » mới này, châu Mỹ Latinh phải trở lại là « sân sau » của Mỹ, hiện đang tìm cách chiếm đoạt các nguồn tài nguyên chiến lược như những gì đã diễn ra ở Venezuela. Trả lời trang HuffPost, nhà nghiên cứu về châu Mỹ Latinh, Thomas Posado, lưu ý, chiến lược này của chính quyền Trump là con dao hai lưỡi : « Chúng ta
Nhân dân tệ : Chiến lược của Trung Quốc để « cạnh tranh » với đô la Mỹ
2026/07/02
Ngày 17/06/2026, Trung Quốc thông báo một loạt các biện pháp mới nhằm thúc đẩy quốc tế hóa đồng nhân dân tệ. Bắc Kinh tiến thêm một bước trong một chiến lược lớn hơn hướng tới quốc tế hóa nhân dân tệ để giảm dần sự phụ thuộc vào đô la Mỹ, và xác lập một vị trí trong hệ thống thanh toán tài chính toàn cầu nhằm khẳng định vị thế của một cường quốc kinh tế, công nghệ và quân sự. Cụ thể, Bắc Kinh cho phép sáu ngân hàng nhà nước, bao gồm cả Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc thực hiện các giao dịch bằng nhân dân tệ với nước ngoài tại vùng đặc quyền kinh tế Thượng Hải. Một kế hoạch hành động với ba thời điểm mốc là 2027, 2030 và 2035 cũng được công bố. Ngoài ra, theo Reuters, Bắc Kinh loan báo thành lập một cơ chế mới có tên gọi FIMA RMB Repo, nhằm tạo thuận lợi cho các ngân hàng trung ương nước ngoài, các quỹ đầu tư quốc gia và các định chế tài chính quốc tế  tiếp cận thanh khoản bằng nhân dân tệ, thông qua việc sử dụng trái phiếu Trung Quốc có xếp hạng tín nhiệm cao làm tài sản thế chấp để vay nhân dân tệ. Phản đối thế thống trị của đô la Giới quan sát đánh giá đây là một bước tiến mới trong nỗ lực quốc tế hóa nhân dân tệ mà Bắc Kinh thực hiện từ hơn hai thập niên qua với một mục tiêu rất rõ ràng : Củng cố vai trò của đồng nhân dân tệ trong giao thương quốc tế và dự trữ ngoại hối, đồng thời giảm thiểu các rủi ro do sự phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 là một ví dụ điển hình, khiến Trung Quốc đặc biệt lo lắng, do quy mô danh mục đầu tư vào các trái phiếu Mỹ mà nước này nắm giữ. Chuyên gia về châu Á,và kinh tế Trung Quốc, Philippe Aguigner, hiện giảng dạy tại trường INALCO, trong bài phân tích đăng trên trang mạng của Viện Montaigne, ngày 14/10/2025, lưu ý, từ khi cải cách kinh tế và tiền tệ năm 1979 cho đến khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001 và nhất là trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Trung Quốc « chỉ tập trung vào việc quản lý dòng vốn ra vào mà không tìm cách cạnh tranh với đô la cũng không muốn quốc tế hóa nhân dân tệ ». Khủng hoảng xảy ra, Bắc Kinh tỏ thái độ không hài lòng đối với hệ thống tiền tệ lấy đô la làm trung tâm, theo như nhận xét của Barry Eichengreen, một nhà nghiên cứu về hệ thống tiền tệ quốc tế với nhật báo kinh tế Les Echos: « Thực ra từ năm 2009, Trung Quốc đã và đang thực hiện các bước nhằm thúc đẩy việc sử dụng rộng rãi hơn đồng tiền của mình trong các giao dịch xuyên biên giới. Trung Quốc nhận thấy những rủi ro của việc phụ thuộc vào đồng tiền của nước khác, cụ thể là phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ - đặc biệt trong bối cảnh chính sách kinh tế và đối ngoại của Mỹ trở nên khó đoán định. » Cùng với thời gian, việc kinh tế Trung Quốc hội nhập sâu hơn vào thế giới đã làm thay đổi diện mạo. Thâm hụt mậu dịch của Mỹ với Trung Quốc ngày càng lớn, biến Bắc Kinh thành tâm điểm chỉ trích. Washington cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ để kích thích xuất khẩu. Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đã gia tăng khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng năm 2017 và nhất là trong nhiệm kỳ II (bắt đầu vào năm 2025) với những cuộc chiến thuế quan. Kiểm soát dòng vốn : Rào cản để quốc tế hóa đồng yuan Đối với Bắc Kinh, việc chính quyền Trump hiện nay hành động ngoài cơ chế đa phương, áp đặt tùy tiện các mức thuế quan, sử dụng các biện pháp trừng phạt tài chính và theo đuổi các chính sách ngân sách thiếu trách nhiệm, minh chứng rõ ràng cho những nguy cơ đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu mà Trung Quốc đã lên án từ lâu nay. Từ góc nhìn này, Phan Công Thắng (Pan Gongsheng), thống đốc ngân hàng trung ương Trung Quốc, tại Diễn đàn Tài chính châu Á, tổ chức ở Thượng Hải vào tháng 6/2025 đã bày tỏ mong muốn tái cân bằng hệ thống tiền tệ quốc tế và công bố các mục tiêu của Bắc Kinh nhằm « đưa nhân dân tệ trở thành đồng tiền trụ cột chứ không phải thay thế đô la » điều mà dẫu sao « đồng nhân dân tệ hiện cũng chưa có khả năng thực hiện ». Quan điểm này của Bắc Kinh đã được chủ tịch Tập Cận Bình, một lần nữa tái khẳng định trong bài viết đăng trên tạp chí Cầu Thị (Qiushi), cơ quan lý luận chủ chốt của đảng Cộng sản Trung Quốc, vào cuối tháng 01/2026 : « Điều gì làm nên một cường quốc tài chính ? Trước hết, quốc gia đó phải sở hữu một đồng tiền mạnh, được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế, đầu tư và trên các thị trường ngoại hối, đồng thời giữ vị thế là một đồng tiền dự trữ toàn cầu. » Tuy nhiên, để đồng yuan có được một thế mạnh trên thế giới, Trung Quốc phải mở rộng cửa thị trường tài chính, cho đến hiện tại vẫn bị kiểm soát chặt chẽ. Nghĩa là, theo như giải thích từ nhà kinh tế học Eric Monnet, chuyên gia về tiền tệ, giáo sư trường Kinh tế Paris, với nhật báo kinh tế Les Echos, « phải là bất kỳ ai, khi nói "bất kỳ ai" tức là cả nhà đầu tư tư nhân lẫn nhà đầu tư công, đặc biệt là các ngân hàng trung ương lớn, đều có thể dễ dàng mua đồng tiền đó vào bất cứ lúc nào. Điều này có nghĩa là đã phải tồn tại các thị trường để thực hiện việc đó. Và bất kỳ nhà đầu tư nào cũng có thể mua đồng tiền đó ở bất kỳ đâu và thông thường cũng có thể bán lại mà không gặp nhiều khó khăn », Bài học kinh nghiệm 2015 Nói một cách ngắn gọn : Một đồng tiền quốc tế là phải dễ mua, dễ bán và có một thị trường toàn cầu hoạt động liên tục. Đây chính là điểm mạnh của đồng đô la Mỹ, điều mà nhân dân tệ Trung Quốc vẫn thiếu. Bắc Kinh hiểu rõ các hạn chế : Công cụ hiệu quả nhất để đẩy mạnh đồng yuan là phải tự do hóa tài khoản vốn, nhưng nếu mở cửa, nguy cơ tháo chạy vốn là rất cao. Đó là những gì từng diễn ra vào năm 2015 khi Trung Quốc nới lỏng kiểm soát dòng vốn. Biện pháp này đã dẫn đến việc tháo chạy dòng vốn ồ ạt, gây thiệt hại cho Trung Quốc đến gần 1.000 tỷ đô la dự trữ ngoại hối, và cuối cùng phải quay trở lại với chính sách kiểm soát chặt chẽ. Theo phân tích của nhà kinh tế học Eric Monnet : « Trung Quốc khá do dự khi thực hiện biện pháp này, bởi vì điều đó có nghĩa là các nhà đầu tư có thể mua nhưng cũng có thể bán nợ của Trung Quốc một cách tự do, và do vậy, chúng có thể gây áp lực lên chính phủ cũng như lên các khoản đầu tư tại Trung Quốc. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận rằng các quốc gia nước ngoài có thể nắm giữ những phần sở hữu lớn trong các doanh nghiệp, v.v… » Dù nỗ lực muốn một đồng yuan mạnh và phổ biến trên thế giới, nhưng đối với Bắc Kinh, việc kiểm soát được dòng vốn còn là một lá chủ bài quan trọng cho nền kinh tế, cho phép giữ giá đồng yuan thấp so với các loại ngoại tệ khác, và như vậy, giúp hỗ trợ ngành xuất khẩu của Trung Quốc. Cho đến hiện tại Bắc Kinh tiến hành từng bước quốc tế hóa đồng yuan với các biện pháp có mục tiêu và đặt cược vào mô hình ít tự do hơn, phù hợp với cấu trúc nền kinh tế đất nước, bằng cách thực hiện các khoản vay song phương gắn liền với các giao dịch thương mại. Nhà kinh tế học Eric Monnet giải thích tiếp : « Nghĩa là Ngân hàng Trung ương Trung Quốc chỉ cho một ngân hàng trung ương khác vay khi quốc gia đó cam kết mua hàng hóa Trung Quốc bằng đồng nhân dân tệ. Thực chất, chúng ta đang quay trở lại một cách nhìn về tiền tệ quốc tế hoàn toàn gắn với thương mại và ít dựa hơn vào sự thống trị của các thị trường tài chính. » Bước cải cách hệ thống kinh tế - tài chính này được đưa ra vào một thời điểm khá thuận lợi cho Trung Quốc:  Vị thế của đồng yuan trên trường quốc tế đang được củng cố. Trung Quốc chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Các nước như Nga, Iran đã bắt đầu giao dịch với Trung Quốc bằng đồng yuan thay vì đô la. Về phần mình, Bắc Kinh mua ngày càng nhiều dầu hỏa Trung Đông bằng nhân dân tệ. Trung Quốc cũng đã phát tri
Lực lượng Hezbollah Liban và những cội rễ của xung đột Israel - Iran
2026/06/25
Cái tên Hezbollah một lần nữa trở thành tâm điểm của thời sự quốc tế khi tương lai hòa bình hay chiến tranh giữa Mỹ và Iran được quyết định một phần chủ yếu tại vùng biên giới Liban – Israel, nơi quân đội Israel đối đầu với lực lượng Hezbollah.  Từ eo biển Hormuz Vùng Vịnh đến sông Litani, miền nam Liban  Điều 1 của Thỏa thuận sơ bộ Mỹ - Iran 14 điểm yêu cầu đình chiến tại Liban, bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Liban, cũng có nghĩa là Israel phải rút khỏi các vùng đất đang kiểm soát tại đây. Teheran từng đe dọa đóng cửa trở lại eo biển Hormuz, nếu khu vực miền Nam Liban, cách đó 2.000 km, chưa im tiếng súng. Cuối năm 2024, sau khi thủ lĩnh tối cao Hassan Nasrallah và hàng loạt lãnh đạo cao cấp của Hezbollah bị Israel hạ sát, lực lượng này tưởng như đang trên đường suy tàn. Cuộc chiến Mỹ - Israel chống Iran rút cuộc đưa Hezbollah trở lại tuyến đầu. Hezbollah được biết đến vừa như một đảng chính trị của cộng đồng Hồi giáo theo hệ phái Shia tại Liban, nhưng đồng thời cũng là một tổ chức vũ trang, được mệnh danh là « một nhà nước trong nhà nước ». Hezbollah được một số cơ sở nghiên cứu xếp vào « lực lượng vũ trang phi nhà nước » lớn nhất khu vực. Lá cờ của tổ chức này nổi bật với cụm từ « Hezbollah », có nghĩa là « Đảng của Thượng Đế », với một cánh tay cầm khẩu súng trường AK-47, tượng trưng cho chủ trương tranh đấu vũ trang, chống lại các thế lực áp bức (xem thêm What Is Hezbollah?, Viện tư vấn Council on Foreign Policy).   Hezbollah, sản phẩm « made in 1982 » của chế độ Hồi giáo Iran? Hezbollah thường được coi là một tổ chức do chế độ thần quyền Iran lập ra, sau cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979, để phục vụ các mục tiêu của Teheran. Tuy nhiên, đối với nhiều chuyên gia, quá trình ra đời của lực lượng này cho thấy mối quan hệ lâu đời giữa các cộng đồng Hồi giáo theo hệ phái Shia ở Liban với Iran. Trả lời RFI tiếng Việt, nhà báo Farid Fatemi, Ban tiếng Persan RFI, nhận định : « Hezbollah là một sản phẩm, có thể nói là hệ quả trực tiếp của cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran. Vào thời điểm Cách mạng Iran nổ ra, người ta thường nói đến « xuất khẩu cách mạng ». Chế độ Iran đã nhanh chóng tận dụng những mối quan hệ lâu đời  giữa giới giáo sĩ theo hệ phái Hồi giáo Shia Iran và cộng đồng Shia ở Liban, đặc biệt là ở miền nam Liban. Chẳng hạn, Iran đã cử các thành viên của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đến miền Nam Liban. Các giáo sĩ Iran cũng đến đó và bắt đầu tổ chức dần dần các nhóm Shia nhỏ lẻ. Cũng đã có những nhóm Shia nhỏ tồn tại từ trước. Họ hỗ trợ và tài trợ cho các nhóm này. Dần dần, những nhóm này hợp nhất lại và Hezbollah ra đời vào đầu thập niên 1980.» Hai thập niên Israel chiếm đóng miền nam Liban và sự ra đời, lớn mạnh của Hezbollah  Cho dù chế độ Hồi giáo Iran muốn xuất khẩu cách mạng, theo nhiều nhân chứng, Hezbollah sẽ không thể hình thành với hình thức như sau này, nếu không có việc Israel chiếm đóng miền nam Liban với mục tiêu thoạt tiên là để đánh đuổi các lực lượng Palestine lưu vong. Đọc thêm -  Điểm lại lịch sử tranh đấu vì độc lập: Từ "20 năm bị xóa sổ" đến Nhà nước Palestine Nhiều thập niên sau, cựu thủ tướng Israel Ehud Barak thừa nhận: « Khi chúng tôi tiến vào Liban, Hezbollah chưa hề tồn tại. Chúng tôi đã được người Hồi giáo dòng Shia ở miền nam chào đón bằng cơm thơm và hoa. Chính sự hiện diện của chúng tôi tại đó đã tạo ra Hezbollah ». Nhận định trên đây được trích dẫn trong một bài viết của Matthew Levitt, chuyên gia chống khủng bố, từng làm việc cho FBI (Le Hezbollah au Liban : Concilier allégeance à l'Iran, militantisme panchiite et politique intérieure). Hezbollah được thành lập trong thời kỳ hỗn loạn của cuộc Nội chiến Liban (1975–1990), nhưng chính cuộc chiếm đóng kéo dài của Israel tại miền nam Liban là giai đoạn mà Hezbollah nổi lên như một lực lượng chính trị lớn tại Liban, và tổ chức duy nhất được phép duy trì lực lượng vũ trang riêng tại Iran, theo Thỏa thuận Taif năm 1989, chấm dứt nội chiến. Nhà báo Farid Fatemi nhận định: « Vì miền nam Liban bị Israel chiếm đóng, Hezbollah đã tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao chống lại Israel tại đây. Cuối cùng, sau gần 20 năm chiếm đóng, Israel buộc phải rút quân khỏi miền nam Liban vào năm 2000. Khi Israel rút đi, sự kiện này đã trở thành một chiến thắng vinh quang đối với Hezbollah. Họ tuyên bố: ''Chính chúng tôi đã kháng cự, buộc Israel phải rời đi. Không phải chính phủ Liban, mà là Hezbollah đã kháng cự và đuổi được Israel ra khỏi đất nước.''  Từ đầu những năm 2000, Hezbollah đã xây dựng được uy tín và dần dần trở thành một thể chế ở Liban. Đó không chỉ là một lực lượng quân sự, mà còn là một lực lượng chính trị. » « Trục kháng chiến » : Sức mạnh quân sự của một thành phần chủ chốt Sức mạnh quân sự của Hezbollah không chỉ áp đảo quân đội Liban. Cho đến trước cuộc chiến tranh 2023-2024 với Israel, tổ chức này được coi là sở hữu kho tên lửa từ 100.000 đến 130.000 trái, có thể tấn công mọi vị trí tại Israel, và được xem như có thể tạo ra sức mạnh răn đe đáng kể khiến Israel phải dè chừng (theo nhà nghiên cứu Jean-Loup Samaan). Lực lượng vũ trang của Hezbollah bao gồm khoảng 25.000 tay súng thường trực, cùng với khoảng 20.000 quân dự bị (theo tài liệu tổng hợp của Trường Quân sự Paris, « L’axe de la résistance », l’expansionnisme régional iranien, Trung tâm Tài liệu của Trường Quân sự Paris, 2021). Trên thực tế, theo nhiều nhà quan sát phương Tây, sức mạnh quân sự chủ yếu của Hezbollah nằm ở chỗ lực lượng này được coi là một bộ phận chủ chốt trong số các lực lượng ủy nhiệm của Iran ở nước ngoài, được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của lực lượng al-Qods của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran. Al-Qods với khoảng 15.000 người, là lực lượng điều phối của nhiều nhóm vũ trang từ bờ đông Địa Trung Hải (bao gồm Liban) đến bán đảo Ả Rập, và Afghanistan, Pakistan và khu vực Trung Á, để thực hiện các mục tiêu của Teheran. Đây là liên minh thường được gọi là « Trục Kháng chiến », mà Iran chủ trương để chống lại các tham vọng của Mỹ và Israel. « Wilāyat al-faqīh » và sự thống trị của Iran trong thế giới Hồi giáo Shia Trong liên minh dưới sự chỉ đạo của Iran, học thuyết Velayat-e Faqih dành cho giới giáo sĩ tiếng nói quyết định đã là nguyên tắc cho phép khẳng định sự trung thành của Hezbollah với Giáo chủ tối cao Iran, được xem như người có uy tín tuyệt đối với đông đảo tín đồ Hồi giáo Shia tại Liban. Đây được coi là lý do chính khiến Hezbollah là lực lượng đầu tiên tham chiến chống lại Israel, sau khi Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch quân sự hạ sát giáo chủ tối cao Khamenei. Nhà báo Farid Fatemi cho biết : « Học thuyết Velayat-e Faqih đã tái sử dụng khái niệm chống Mỹ và chống « chủ nghĩa Zion », tức chủ nghĩa phục quốc Do Thái, để tăng cường ý thức hệ, đem lại sắc thái tôn giáo cho các tư tưởng này, và giúp các tư tưởng này thâm nhập vào cộng đồng người Shia Liban. Học thuyết này ban đầu mang ý nghĩa thuần túy tôn giáo, nhưng mất dần ý nghĩa tôn giáo sau đó. Để so sánh, điều này cũng tương tự như khái niệm « chuyên chính vô sản », sau đó mất hoàn toàn ý nghĩa và chỉ còn là công cụ để khẳng định chế độ độc tài, như chế độ của Stalin chẳng hạn. Đặc biệt, khi Hiến pháp Iran thêm từ ''tuyệt đối'' vào học thuyết Velayat-e Faqih, điều đó có nghĩa là giáo chủ tối cao có thể làm bất cứ điều gì mà họ muốn. Hezbollah cũng cố gắng làm điều tương tự ở Liban. » Đọc thêm : Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao? Hezbollah bám rễ trong xã hội Liban Học thuyết Velayat-e Faqih và các diễn ngôn Hồi giáo Shia của nhánh 12 imam tử đạo đã được Hezbollah sử dụng hiệu quả trong việc xây dựng một cộng đồng xã hội được tổ chức chặt chẽ tại Liban, khiến cho mọi nỗ lực loại trừ lực lượng này từ phía chính quyền trung ương chắc chắn sẽ dẫn đế

Podcast reviews

Read Tạp chí tiêu điểm podcast reviews


0 out of 5
0 reviews

Podcast sponsorship advertising

Start advertising on Tạp chí tiêu điểm relevant audience podcasts


What do you want to promote?