1574625714
Tạp chí Việt Nam

Advertise on podcast: Tạp chí Việt Nam

Categories
Country
United States
This podcast has
24 episodes
Language
Vietnamese
Explicit
No
Date created
2021/07/01
Latest episode
2026/10/19
Average duration
11 min.
Release period
7 days

Description

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam

Unlock Tạp chí Việt Nam podcast Email contact info,
Listeners & Audience details

Email contact information

Direct podcast contact details

Listeners

Audience numbers & engagement insights

Audience details

Podcast Insights

Podcast episodes

Check latest episodes from Tạp chí Việt Nam podcast


Thiếu hụt nhân lực cho dự án điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam
2026/10/19
Việt Nam đã tái khởi động 2 dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, đồng thời dự trù sau đó có thể sẽ tiến tới triển khai thêm các công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR). Chưa biết các dự án đó sẽ được hoàn thành đúng kỳ hạn hay không, nhưng có nguy cơ Việt Nam sẽ thiếu hụt nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân.  Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu phát triển điện hạt nhân từ đầu những năm 2000, nhằm đa dạng hóa nguồn cung và đáp ứng nhu cầu điện trong dài hạn. Sau quá trình khảo sát, tỉnh Ninh Thuận (cũ) đã được lựa chọn để xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Năm 2009, Quốc Hội thông qua chủ trương đầu tư dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Tuy nhiên, đến năm 2016, dự án bị tạm dừng "do điều kiện chưa cho phép". Mãi đến năm 2024, Quốc Hội Việt Nam mới thông qua quyết định khởi động lại dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Mục tiêu đề ra là đưa hai nhà máy này vào hoạt động vào năm 2035.  Trước mắt Việt Nam sẽ hợp tác với Nga để xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Ngày 23/3/2026, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà máy sẽ được xây dựng bằng công nghệ của Nga và được tài trợ bằng khoản vay từ Nga. Theo hãng thông tấn TASS, tại Diễn đàn Kinh tế phương Đông EEF 2026 (01-04/09/2026), giám đốc điều hành Tập đoàn Năng lượng Hạt nhân Nhà nước Nga Rosatom, ông Alexey Likhachev, cho biết công tác thi công hợp đồng xây dựng và vận hành Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 “đang được tiến hành khẩn trương.” Cụ thể, "công tác soạn thảo hợp đồng và đạt được các thỏa thuận ràng buộc pháp lý về tiến độ và cấu trúc dự án đang được tiến hành khẩn trương. Lò phản ứng thế hệ III+ VVER-1200 đã được chọn cho dự án". VVER*1200 là một lò phản ứng áp dụng công nghệ mới nhất của Nga, có công suất khoảng 1.200 Megawatt. Còn về dự án Ninh Thuận 2, sau khi Nhật Bản rút, chính phủ Việt Nam hiện đang xem xét chọn một đối tác công nghệ "phù hợp". Hàn Quốc (với tập đoàn KEPCO) là một trong những đối tác tiềm năng đã bày tỏ mong muốn và sẵn sàng hợp tác toàn diện trong các khâu từ xây dựng nhà máy, vận hành, bảo đảm an toàn, cho đến đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 09/10/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cho rằng Việt Nam không thể nào hoàn tất được dự án nhà máy điện hạt nhân vào thời điểm 2035 như dự kiến, vì từ đây đến đó chỉ còn 10 năm: "Kinh nghiệm từ những nước đã làm như Bangladesh, từ lúc động thổ, bắt đầu xây dựng trên công trường thì phải mất 7 năm sau may ra mới đưa nhà máy vào vận hành được. Bangladesh đã lùi lại kế hoạch vận hành bao nhiêu năm rồi, lần này định là vào tháng 12 năm nay, nhưng không biết có làm được hay không.  Mà trước khi động thổ thì cần phải có một thời gian chuẩn bị nhiều, kể cả việc xét duyệt dự án thì phải mất mấy năm. Cho nên không thể nào năm 2035 mà xong được. Dự án nhà máy điện thứ hai thì Nhật đã rút lui rồi, bây giờ chắc là Hàn Quốc sẽ nhảy vào được thôi. Chưa có thông tin chính thức gì về chuyện này. Nhưng mà thực ra tôi nghĩ Việt Nam chỉ có thể xúc tiến một lúc một nhà máy thôi, sau đó từ từ tính sau, chứ nhân lực như thế này lấy đâu ra để mà làm nhiều được!" Một trong những vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay đó là đào tạo đủ nguồn nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân một khi hoàn thành. Theo báo chí trong nước, trong cuộc họp báo của bộ Khoa Học và Công Nghệ tháng 9 vừa qua, ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, đã nhìn nhận: "Kế hoạch quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử đã được ban hành, có đặt ra nhiệm vụ về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc triển khai đến nay vẫn chưa thực sự hiệu quả. Một phần vì thiếu kinh phí, phần khác do chưa xác định được đầy đủ những nhiệm vụ cụ thể và nhu cầu đối với công nghệ hạt nhân ở các bộ, ngành khác." Theo thẩm định, một nhà máy điện hạt nhân có thể cần khoảng 1.000 người, trong đó phần lớn là nhân viên vận hành, kỹ thuật và hỗ trợ (khoảng 700-800 người), còn đội ngũ nhân lực cốt lõi khoảng 200-300 người. Theo ông Trần Chí Thành, trước đây, Việt Nam đã từng cử gần 100 người sang Nga và Nhật Bản để đào tạo về điện hạt nhân. Tuy nhiên, sau khi trở về, một bộ phận trong số này đã chuyển sang làm việc ở những lĩnh vực khác. Số người quay lại làm việc trong lĩnh vực hạt nhân hiện có lẽ chỉ còn khoảng 30%. Vấn đề là ở Việt Nam hiện nay chưa có những chương trình đào tạo về kỹ thuật hạt nhân bài bản như các quốc gia khác, cho nên trước mắt vẫn phải đưa người đi đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu chắc sẽ là ở Nga. Nhưng theo giáo sư Phạm Duy Hiển, quan trọng hơn hết là đào tạo được những chuyên gia đủ khả năng thẩm định để xét duyệt dự án nhà máy điện hạt nhân:  "Vấn đề này là tùy thuộc vào cách làm điện hạt nhân như thế nào. Nếu như làm điện hạt nhân để mà dần dần tiến đến làm chủ được công nghệ, tự anh có thể thay thế một phần công việc thì khác. Còn nếu như mà làm kiểu như để cho người ta chỉ đâu mình làm đó thì khác. Về cách thứ nhất, hai nước Hàn Quốc và Trung Quốc rất thành công, tức là họ có phần chuyển giao công nghệ từ bên ngoài. Sau khi chuyển giao công nghệ đó một thời gian tương đối ngắn thì họ có thể làm chủ được công nghệ, như là Hàn Quốc có thể tự xây dựng được nhà máy điện hạt nhân, thậm chí còn xuất khẩu được sang các nước khác. Trung Quốc cũng tự xây dựng được và do nhu cầu xây dựng trong nước rất  lớn cho nên họ tự lực cánh sinh được. Nhưng Việt Nam chưa chắc đã bắt chước như thế được, bởi vì lực lượng công nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với hai nước đó. Thứ hai, nếu muốn làm điện hạt nhân mà dần dần làm chủ công nghệ thì trước hết phải có những người làm trong cái gọi Ủy ban an toàn quốc gia, tức là cơ quan tiếp nhận các kế hoạch của nước ngoài để tự xem xét, thẩm định, phán xét được các dự án đó, nhất là về mặt môi trường, về mặt địa chất. Hiện nay Việt Nam ngay chỗ đấy là cũng đã thiếu người rồi. Cũng đã có kế hoạch đào tạo, nhưng ta không nên hiểu đào tạo là cử người đi học ở nước ngoài. Đào tạo ở đây là phải thông qua làm việc trong nước, mà muốn làm như vậy thì Việt Nam phải cho chạy được một lò phản ứng công suất lớn, chứ còn công suất như lò Đà Lạt thì chỉ làm những việc ứng dụng thôi. Trước đây chính ông Putin, lúc bấy giờ đang làm thủ tướng, đã đề nghị Nga giúp Việt Nam xây một trung tâm hạt nhân như thế. Câu chuyện này đã nói từ cái năm 2010, nhưng cho đến bây giờ cũng chưa đâu vào đâu cả. Kinh nghiệm của nhiều nước là muốn có được người giỏi làm chủ được công nghệ thì phải đào tạo qua những cơ sở như thế. Chẳng hạn Bắc Triều Tiên cũng làm theo cách như vậy." Theo báo chí trong nước, Việt Nam đang triển khai dự án xây dựng một lò hạt nhân nghiên cứu mới tại Đồng Nai, với công suất dự kiến cao hơn khoảng 30 lần so với lò Đà Lạt. Nhưng đối với điện hạt nhân, quá trình đào tạo không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Đội ngũ kỹ sư cần nhiều năm học tập, thực hành và tích lũy kinh nghiệm trước khi có thể đảm nhiệm các vị trí chuyên môn tại nhà máy. Về điểm này, giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận: " Như Nga đã làm cho Bangladesh, tức là họ đưa những người chưa biết gì sang Nga để đào tạo cho các cơ quan pháp quy ở Bangladesh. Còn mình thì bây giờ sắp đến thì chưa biết sẽ làm như thế nào, nhưng phải có đàm phán về những chuyện đó. Chứ còn đào tạo người để điều khiển lò phản ứng thì không khó. Ta phải phân biệt với việc đào tạo những người để vận hành nhà máy điện hạt nhân. Còn những người tiếp thu đư
Việt Nam hưởng lợi khi Mỹ-Trung không hòa dịu cũng không đối đầu
2026/10/12
Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung giúp Việt Nam hưởng lợi từ chiến lược “Trung Quốc+1” của các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc cũng chuyển hoạt động kinh doanh sang Việt Nam để “lách” các biện pháp hạn chế xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc. Tính đến cuối tháng 09/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tại Việt Nam đạt 50,36 tỷ đô la, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là chiến lược ngoại giao đa chiều và tiếp cận đa hướng, “giữ thái độ cởi mở, duy trì hợp tác kinh tế với càng nhiều đối tác càng tốt”, theo nhận định của Ted Osius, nguyên đại sứ Mỹ tại Việt Nam, hiện là nhà đầu tư kiêm cố vấn tại thành phố Hồ Chí Minh, được Bloomberg trích dẫn ngày 11/07/2026. Trong chiến lược này, Việt Nam cố gắng duy trì cân bằng giữa hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc, đồng thời là hai đối thủ thương mại. Mỹ giữ vai trò quan trọng vì là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp thiết bị điện tử. Trong cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc, Việt Nam bị chỉ trích là “sân sau” cho hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ cao nhất trong số các đối tác thương mại của Washington, khiến Mỹ đe dọa áp thuế cao. Gần đây, sau chuyến công tác tới New York của chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội thông báo hai bên sắp đạt được thỏa thuận về thuế. Trả lời Bloomberg, ông Tô Lâm cho biết Việt Nam cam kết mua thêm các mặt hàng công nghệ cao như máy bay để thu hẹp thâm hụt thương mại. Ông cho rằng “hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phù hợp với nhu cầu của Mỹ và không cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Hoa Kỳ”. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm chuẩn bị một vòng công du Âu – Mỹ Ngay sau đó, tổng thống Mỹ Donald Trump trải thảm đỏ, đón tiếp trọng thị chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Hai nước cũng gia hạn đình chiến thương mại. Liệu những dấu hiệu hòa hoãn này có lợi cho Hà Nội hay không ? Trả lời RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Vũ Khang, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, học giả thính giảng tại Khoa Chính trị học Đại học Boston tại Hoa Kỳ, nhận định Hà Nội chỉ có thể hưởng lợi khi mối quan hệ của hai đại cường Trung Quốc và Mỹ không quá hòa dịu cũng không quá đối đầu. RFI : Trong chuyến công du Mỹ từ ngày 23-25/09 của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tổng thống Donald Trump có nhiều cử chỉ hòa dịu. Nếu Washington và Bắc Kinh tiếp tục xu hướng hòa dịu, điều đó sẽ làm thay đổi bài toán cân bằng chiến lược của Hà Nội như thế nào ? Việt Nam sẽ có thêm dư địa hay là gặp nhiều thách thức hơn trong việc thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ ? Tiến sĩ Vũ Khang : Quan hệ Mỹ-Trung có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Nền tảng chính sách này dựa vào một trật tự thế giới mở, nơi mà các cường quốc tôn trọng quyền lợi của các nước nhỏ và luật pháp quốc tế. Việt Nam không muốn một lần nữa bị đẩy vào thế bị động nếu như Mỹ và Trung Quốc bắt tay nhau và chia nhỏ thế giới thành các khu vực ảnh hưởng riêng biệt hoặc là hai nước này nổ ra một xung đột và bắt buộc Việt Nam phải chọn phe. Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất khi mà quan hệ Mỹ-Trung không quá thân thiện hay là cũng không quá thù địch. Trong trường hợp này, Việt Nam có thể hưởng lợi từ chuyển dịch vốn và nhà máy từ Trung Quốc và vẫn có thể duy trì được quyền tiếp cận thị trường Mỹ. Đọc thêmViệt Nam cố giữ cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc Do vậy, việc Mỹ-Trung xoa dịu trong thời điểm áp lực thương chiến và địa-chính trị vấn đề Đài Loan đang ngày càng gia tăng sẽ giúp Việt Nam có thêm dư địa để giữ cả quan hệ với Trung Quốc và Mỹ ổn định. Và tất nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, việc hai nước này có mối quan hệ thân thiết với Hà Nội vẫn là điều ưu tiên trên hết. RFI : Tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm cũng có chuyến công tác New York từ ngày 20 đến 23/09. Chuyến đi của ông Tô Lâm có tạo ra được bước đột phá mới trong quan hệ Việt - Mỹ ? Vũ Khang : Chuyến đi của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam và trong đó, Mỹ là một đối tác rất là quan trọng. Nếu nhìn vào lịch trình của ông Tô Lâm, một trong những chủ đề thảo luận chính lần này chính là mức thuế quan mà Mỹ có thể áp đặt lên Việt Nam. Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã đạt mức thặng dư vượt trên 100 tỷ đô la Mỹ, tăng gần 23% so với cùng kỳ năm trước. Và mức thặng dư này đã đẩy Việt Nam lên vị trí số 1, cao hơn cả những đối tác thương mại lớn khác của Mỹ như là Trung Quốc, Mêhicô, Đài Loan về thâm hụt thương mại. Đọc thêmĐối tác châu Á giúp Việt Nam tạo thế cân bằng với nhà đầu tư phương Tây Ngoài vấn đề thuế quan, ông Tô Lâm cũng bày tỏ mong muốn doanh nghiệp Mỹ hỗ trợ Việt Nam đào tạo chuyên môn để có thể giúp Việt Nam tăng vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu và Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Đổi lại, Việt Nam vẫn sẽ sẵn sàng nhập khẩu sản phẩm công nghệ và dịch vụ từ Mỹ để làm giảm thâm hụt thương mại giữa hai bên. Tuy vậy, hiện giờ vẫn chưa có một thỏa thuận thuế quan nào đạt được giữa Mỹ và Việt Nam. RFI : Liệu sau chuyến công du này, vấn đề thuế quan Mỹ đối với Việt Nam sẽ tiến triển như thế nào trong thời gian tới ? Vũ Khang : Việt Nam mong muốn biến vấn đề thuế quan trở thành một lĩnh vực đôi bên cùng có lợi. Việt Nam muốn gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu, đổi lại Mỹ có thể bán được nhiều hàng hóa và dịch vụ cho Việt Nam hơn. Tuy vậy, chính sách thuế quan của tổng thống Donald Trump nói chung lại luôn đặt quyền lợi của Mỹ lên trên hết, bất chấp ảnh hưởng tới hình ảnh hoặc là lòng tin của các đồng minh và đối tác đối với Mỹ. Việc tổng thống Trump sẵn sàng đánh thuế quan lên tất cả các đồng minh lâu năm cho thấy sự tương đồng về lợi ích chiến lược chưa chắc đã bảo đảm một mức thuế quan hợp lý cho cả hai bên. Chính sự khó đoán này khiến việc đạt được một thỏa thuận thuế quan rất là khó khăn đối với Việt Nam bởi vì nếu như lợi ích chiến lược hội tụ không thể bảo đảm cho một thỏa thuận thuế quan hợp lý thì chúng ta không có những cơ sở để đoán là Mỹ có thể áp đặt thuế quan một cái mức chấp nhận được. Đọc thêmBa cuộc điều tra của Mỹ và tác động đến thương mại với Việt Nam Và khó khăn hơn cho Việt Nam là việc Việt Nam luôn bị đẩy vào thế chống đỡ, kể cả khi Tòa án Tối cao đã bác bỏ mức thuế quan 20% mà Mỹ áp đặt đối với Việt Nam, bởi vì chính sách của tổng thống Trump phần lớn rất là khó đoán. Nếu nhìn rộng hơn về vấn đề thuế quan và quan hệ tay ba Mỹ, Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta có thể thấy Việt Nam hoàn toàn không muốn bị đặt vào một tình thế phải chọn một trong hai. Nếu như Mỹ đặt điều kiện Việt Nam ngả về Mỹ để đổi lại một mức thuế quan thấp thì Việt Nam sẽ ngay lập tức đối diện áp lực từ Trung Quốc khi mà Bắc Kinh cũng đã cảnh cáo các quốc gia không nên theo phe Mỹ để phân tách kinh tế khỏi Trung Quốc trong trường hợp mà Mỹ sử dụng thuế quan để đạt được mục đích đó. Đối với Việt Nam, chọn bên nào cũng sẽ bất lợi. RFI : Vậy đâu là những khác biệt và trở ngại trong quan hệ Việt - Mỹ hiện nay, bất chấp lợi ích chiến lược ngày càng hội tụ giữa hai nước ? Vũ Khang : Vào đầu tháng 7 năm nay, tàu sân bay Mỹ George Washington đã ghé thăm cảng Đà Nẵng. Chuyến thăm này cho thấy hai quốc gia vẫn có những lợi ích chung, như là duy trì môi trường hòa bình ổn định dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông bất chấp những bất đồng về thuế quan. Đọc thêmLần đầu tiên từ ba năm qu
Hợp tác về công nghệ lượng tử giữa Việt Nam và Pháp: Con đường còn dài
2026/10/05
Hợp tác về công nghệ lượng tử giữa Việt Nam và Pháp, đặc biệt là với Khu đô thị khoa học công nghệ Paris-Saclay, đang trở thành trọng tâm trong quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Hà Nội và Paris, trong bối cảnh Việt Nam muốn đưa công nghệ lượng tử vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Công nghệ lượng tử được coi là một trong những trụ cột chiến lược quan trọng nhất của kỷ nguyên công nghệ mới, với tiềm năng tạo ra đột phá trong an ninh mạng, tài chính, y tế, năng lượng, vật liệu mới và trí tuệ nhân tạo (AI). Công nghệ lượng tử cũng mang ý nghĩa chiến lược đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế số và năng lực cạnh tranh quốc gia.   Do các tiềm năng to lớn đó, nhiều quốc gia như Pháp, Nga, Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản… đã đầu tư hàng tỷ đôla vào nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các nền tảng tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử và cảm biến lượng tử. Trong chuyến thăm chính thức nước Pháp ( 10 và 11/09/2026 ), khi gặp tổng thống Emmanuel Macron, tổng bí thư đảng Cộng sản kiêm chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm đã đề nghị Paris “hỗ trợ Việt Nam từng bước phát triển công nghệ lượng tử.” Trong chuyến đi này, ông Tô Lâm đã đến thăm Paris-Saclay là thung lũng công nghệ và khu đô thị khoa học hàng đầu của Pháp, cụ thể là đã đến thăm Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pháp (CEA) và trung tâm nghiên cứu của tập đoàn công nghệ Thales, để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước về công nghệ. Khả năng hợp tác về công nghệ lượng tử đã được nêu lên trong cuộc gặp giữa lãnh đạo Việt Nam với các nhà khoa học gốc Việt làm việc tại Paris - Saclay, trong đó có giáo sư Lại Ngọc Điệp, hiện giảng dạy tại École Normale Supérieure Paris-Saclay, Đại học Paris-Saclay. Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại ngày 19/09/2029, giáo sư Lại Ngọc Điệp trước hết giải thích về tầm quan trọng của công nghệ lượng tử: “Công nghệ lượng tử những năm gần đây được nói rất nhiều ở các nước đã phát triển rồi và các nước như Việt Nam thì cũng bắt đầu phải nói đến, bởi vì công nghệ lượng tử là một cái gì đó rất mới, có những tính chất rất ưu việt so với các công nghệ “cổ điển”. Ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử dựa vào tính chất vật lý lượng tử nên thao tác tính toán sẽ nhanh hơn rất nhiều so với các máy tính cổ điển. Thực ra bản chất thì hiệu ứng lượng tử đã xuất hiện ở trong các công nghệ trước đây, như laser hay là các pin Mặt trời, v.v… Tuy vậy, các hiệu ứng đấy xảy ra ở trạng thái là một tập hợp nhiều hạt. Cho nên các hiệu ứng lượng tử đặc biệt thì lại không được sử dụng và quan sát được. Ngày nay, dựa trên công nghệ khoa học tiên tiến, người ta có thể thao tác các hạt vật chất ở cấp độ nhỏ nhất có thể. Ví dụ như người ta nói đến nguyên tử, hay nói đến một hạt electron, hay là ánh sáng thì người ta nói đến một hạt photon. Khi mà công nghệ cho phép thao tác ở một hạt cơ bản như vậy thì chúng ta sẽ khai thác được hiệu ứng lượng tử. Và như vậy chúng ta có thể tạo được các sản phẩm gọi là lượng tử, ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử. Ở các nước phát triển, người ta đã có những nền tảng về mặt lý thuyết, cũng như là công nghệ cho phép họ thực hiện được các sản phẩm lượng tử như vậy, chẳng hạn như Pháp có rất nhiều người được giải Nobel về lượng tử, có rất nhiều phòng thí nghiệm. Cho nên, khoảng 10 năm trở lại đây thì họ đã  có những start-up để đưa ra các sản phẩm lượng tử, như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử. Máy tính lượng tử là một máy tính mà về mặt lý thuyết ưu việt so với máy tính cổ điển, tức là nó có thể giải quyết được các bài toán lớn mà máy tính cổ điển phải dùng đến cả 500 năm thì bây giờ máy tính năng tử nó sẽ cho cho phép giải quyết trong vòng vài phút hoặc vài giờ. Nhưng tính ưu việt đấy chỉ giải quyết các bài toán lớn, ví dụ như dự báo thời tiết, sản xuất thuốc, hay điều trị bệnh cần phải có một số lượng tính toán khổng lồ và cần một thời gian nhanh thì máy tính lượng tử sẽ phát huy được tính ưu việt. Về truyền thông thì chúng ta biết là ngày nay internet đã phát triển rất mạnh và có lẽ là trao đổi cũng rất là thuận tiện. Nhưng truyền thông hiện tại là truyền thông “cổ điển”, tức là nếu ai đấy muốn nghe thông tin mà chúng ta trao đổi thì người ta hoàn toàn có thể nghe được. Khi chúng ta truyền tải thông tin thông qua internet thì thực ra là chúng ta đang làm các qubit vào các chùm laser, mỗi một qubit như vậy sẽ được thể hiện thông qua hàng tỷ photon. Nếu ai đấy muốn nghe trộm thì chỉ cần ngắt 1.000 photon là có thể đọc được thông tin chúng ta truyền tải, mà đối tác của chúng ta hoàn toàn không biết là có người nghe trộm. Truyền thông cổ điển là truyền thông thực ra không bảo mật. Một số ngành nghề có nhu cầu truyền thông bảo mật hơn, như quân đội, công an, hay một số ngành nghề khác. Lúc ấy lượng tử phát huy được thế mạnh, bởi vì truyền thông bằng phương pháp lượng tử tức là thay vì gửi một tỷ photon cho một qbit, thì bây giờ chúng ta sẽ gửi một photon thôi. Photon là hạt cuối cùng của ánh sáng rồi nó không thể được chia đôi nữa, vì vậy khi chúng ta dùng một photon để truyền tải một qbit đi, nếu có ai đấy nghe trộm chúng ta hoàn toàn biết được là thông tin của chúng ta đã bị lộ.  Công nghệ lượng tử hiện được Việt Nam xếp vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia, theo danh mục hồi tháng 5 của Chính phủ. Hệ sinh thái lượng tử trong nước cũng đang hình thành, với Mạng lưới đổi mới sáng tạo và chuyên gia công nghệ lượng tử Việt Nam (VNQuantum) thành lập tháng 8/2025, kết nối nhà khoa học, trường đại học, doanh nghiệp và các công ty khởi nghiệp start - up. Về tiềm năng phát triển công nghệ lượng tử ở Việt Nam, giáo sư Lại Ngọc Điệp nhận định:  “Có lẽ Việt Nam sẽ gặp khó khăn, bởi vì bao nhiêu năm chúng ta đã không có điều kiện để làm nghiên cứu sâu, cho nên có rất nhiều lĩnh vực mà chúng ta thua kém các nước phát triển. Riêng về lượng tử thì lại càng kém hơn, bởi vì đó là một môn vật lý khó khăn hơn, thế hệ trẻ cũng không học nhiều, thành ra chúng ta bây giờ thiếu gần như ở tất cả các công đoạn, thiếu về công nghệ lõi, không có các phòng thí nghiệm, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất và ngay cả nhân lực cũng không có. Bây giờ muốn tham gia cuộc chơi này, chúng ta phải có một kế hoạch làm việc rất bài bản, để sau 5, năm 10 năm có thể bắt kịp với thế giới, để tham gia cuộc đua lượng tử và sau đấy thì sẽ mang các ứng dụng lượng tử đấy vào các ngành nghề. Vậy thì Pháp nói chung và trung tâm công nghệ Paris-Saclay nói riêng có thể hỗ trợ như thế nào cho Việt Nam phát triển ngành công nghệ lượng tử ? Giáo sư Lại Ngọc Điệp nhấn mạnh là trong lĩnh vực này, Việt Nam phải tự lực nhiều hơn: Nếu nói về tham gia con đường lượng tử thì Việt Nam cũng không phải là bắt đầu bằng con số 0. Chúng ta rất mạnh về mảng lý thuyết, tính toán. Tức là nhiều người làm về toán học, về lý thuyết, hoặc là tin học của Việt Nam đang tham gia vào chuỗi lượng tử này và làm rất mạnh ở phần tính toán. Thế nhưng, phần thực nghiệm, mà Việt Nam gọi là công nghệ lõi, thì chúng ta Việt Nam lại không có những phòng thí nghiệm lượng tử, cũng như không có nhân lực về thực nghiệm.  Riêng về mặt này thì Pháp lại rất mạnh, bởi vì Pháp đã có nền khoa học phát triển rất lâu đời về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm. Vật lý lượng tử phát triển rất mạnh ở các cấp độ, từ trường đại học cho đến các trung tâm nghiên cứu và nằm rải rác trên toàn nước Pháp. Thế nhưng, ở Pháp có lẽ có hai cực rất mạnh về lượng tử, được thể hiện qua các giải Nobel chẳng hạn như cực Paris - Saclay hiện đang xếp số 13 của thế giới. Cực thứ hai nằm ở trong Paris cũng đã từng đoạt giải Nobel và cũng phát triển về lượng tử rất mạnh.
Úc giúp Việt Nam phát triển công nghệ chiến lược
2026/09/28
Úc và Việt Nam tăng cường hợp tác trong 3 lĩnh vực trọng điểm: Khai thác khoáng sản thiết yếu, công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi, xây dựng chuỗi cung ứng chip. Đây cũng là những nội dung chính trong kế hoạch 10 nhóm công nghệ chiến lược nhằm nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam. Úc nổi tiếng về công nghệ khai khoáng và vị thế cường quốc tầm trung, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hợp tác mà không chịu áp lực phải “chọn phe” giữa Mỹ và Trung Quốc. Tuyên bố chung về nâng cao sức chống chịu kinh tế và Tuyên bố tầm nhìn kết nối khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, được ký nhân chuyến công du Úc của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm vào tháng 08/2026, mở ra “tiềm năng rất lớn”. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, nhận định hai tuyên bố trên “bao hàm yếu tố khai thác khoáng sản đất hiếm và chuyển giao công nghệ”. Khai thác khoáng sản thiết yếu Khoáng sản thiết yếu được đặc biệt chú trọng do nhu cầu chung gia tăng và Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số, công nghệ xanh. Nghị định ngày 02/07/2025 liên quan đến Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và Khoáng sản nêu rõ : “Khoáng sản chiến lược quan trọng gồm khoáng sản phóng xạ, đất hiếm và các khoáng sản thiết yếu khác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững và tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước”. (1) Việt Nam có trữ lượng lớn khoáng sản quý hiếm, đặc biệt trữ lượng đất hiếm đứng thứ 6 thế giới (3,5 triệu tấn), nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tuy nhiên, triển vọng đang mở ra khi Việt Nam và Úc thúc đẩy hợp tác “khai thác khoáng sản thiết yếu”. Đây là yếu tố đầu tiên trong “ba mảng hợp tác” song phương, theo giải thích của tiến sĩ Nguyễn Thế Phương : “Khai thác khoáng sản thiết yếu sẽ tập trung vào ba điểm. Trước tiên là đầu tư và chuyển giao công nghệ chế biến sâu. Hai nước sẽ cố gắng là đẩy mạnh thu hút các tập đoàn lớn của Úc trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản đầu tư vào Việt Nam trong các dự án thăm dò, khai thác, đặc biệt là chế biến sâu các khoáng sản tại Việt Nam thay vì Việt Nam chỉ xuất khẩu quặng thô. Thứ hai, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam xây dựng toàn bộ quá trình áp dụng các tiêu chuẩn mới và quá trình truy xuất nguồn gốc. Tại vì như chúng ta biết, lĩnh vực khai thác, cũng như xuất khẩu các loại khoáng sản, đặc biệt là đất hiếm trên thế giới, hiện giờ bây giờ là lĩnh vực cạnh tranh mà muốn tham gia vào toàn bộ quy trình này ở mức độ toàn cầu thì phải có tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc minh bạch. Do đó, Úc sẽ là nước hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng toàn bộ hệ thống quy chuẩn này, giúp cho Việt Nam có đủ điều kiện tham gia vào chuỗi công ứng công nghệ cao do Mỹ dẫn dắt. Đọc thêmBang giao Úc-Việt: 63 năm nhìn lại Điểm thứ ba là cả hai bên sẽ thiết lập cơ chế đối thoại cấp bộ trưởng về năng lượng khoáng sản. Cơ chế này sẽ triển khai định kỳ. Thông qua cơ chế này, hai bên mong muốn là sẽ gỡ bỏ các rào cản chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp hai bên kết nối và xây dựng chuỗi cung ứng khoáng sản tự chủ và minh bạch. Đây là điểm mà chưa nước nào có, mới chỉ có Úc và Việt Nam có. Đây là những vấn đề liên quan đến khoáng sản thiết yếu”. Đây là điểm được nêu trong “Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được công bố ngày 01/04/2023, với những nhiệm vụ trọng tâm : Đẩy mạnh điều tra, thăm dò, đánh giá, xác định trữ lượng và tài nguyên đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội ; cập nhật, đồng bộ quy hoạch và cơ sở dữ liệu ; tăng cường quản lý tài nguyên, cấp phép và kiểm soát hoạt động khai thác, bảo đảm khai thác tiết kiệm, hiệu quả ; phát triển công nghệ chế biến sâu, nâng cao giá trị khoáng sản, ứng dụng thiết bị hiện đại, tái chế, giảm chất thải, bảo vệ môi trường ; ưu tiên khoáng sản chiến lược ; bảo đảm nguồn nguyên liệu trong nước, an ninh quốc gia và phát triển bền vững. (2) Công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi Mảng hợp tác thứ hai sẽ là công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi. Ngày 30/04/2026, Việt Nam công bố Danh mục công nghệ chiến lược, gồm 10 nhóm, trong đó có công nghệ số, năng lượng và vật liệu tiên tiến, chip bán dẫn… và hàng loạt sản phẩm công nghệ chiến lược trọng điểm như : AI, chip bán dẫn, hydrogen xanh, công nghệ lượng tử, vệ tinh quỹ đạo thấp nhằm thúc đẩy tự chủ công nghệ. (3) Việt Nam cũng đề ra chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, tầm nhìn 2050, theo đó mục tiêu đến 2050 có 300 công ty thiết kế, 3 nhà máy chế tạo chip, 20 nhà máy đóng gói và kiểm thử (OSAT), đào tạo hơn 100.000 kỹ sư/cử nhân ngành bán dẫn. (4) Lộ trình được chia thành ba giai đoạn : Giai đoạn 1 (2024-2030) : Hình thành nền tảng, thu hút FDI, phát triển nhân lực ; Giai đoạn 2 (2030-2040) : Trở thành trung tâm công nghiệp bán dẫn - điện tử toàn cầu ; Giai đoạn 3 (2040-2050) : Là nước đi đầu, làm chủ R&D trong bán dẫn. Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong quá trình này ? Tiến sĩ Nguyễn Thế Phương giải thích : “Úc cũng là một quốc gia đóng vai trò tác nhân kết nối các hệ sinh thái công nghệ của cả hai bên. Điểm này liên quan đến những yếu tố, ví dụ đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy Trung tâm Công nghệ Chiến lược Việt-Úc. Đây là giai đoạn hai và sẽ tập trung vào một số loại công nghệ, ví dụ như là trí tuệ nhân tạo, điện toán lượng tử và mạng viễn thông thế hệ mới. Chúng ta biết là Úc là quốc gia nói tiếng Anh và có hệ thống các trường đại học đào tạo đứng top đầu thế giới, gần Việt Nam. Cho nên Việt Nam mong muốn trở thành một hub đào tạo để Việt Nam có thể tiếp cận các loại công nghệ mới. Đọc thêmÚc và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện Điểm thứ ba là xây dựng chuỗi cung ứng chip. Việt Nam hiện tại đang đóng góp vai trò là trung tâm đóng gói kiểm thử và sản xuất cho hệ sinh thái chip. Trong khi Úc có thể bảo đảm nguồn nguyên liệu đầu vào tại vì Úc có các loại khoáng sản rất quan trọng : silicon, lithium, kim loại hiếm và Úc có nền tảng thiết kế chip cũng tương đối ổn. Đó là về công nghệ bán dẫn, công nghệ mới nổi”. Trung tâm Công nghệ Chiến lược Việt-Úc (AVSTC) được thành lập ngày 11/06/2025 nhằm thúc đẩy hợp tác trong các công nghệ mới và trọng yếu, tạo điều kiện đổi mới sáng tạo, tăng cường khả năng chống chịu trước các mối đe dọa mạng trên toàn cầu. Giai đoạn II của Trung tâm Công nghệ Chiến lược Úc-Việt đã được công bố tháng 08/2026. Phát triển năng lượng sạch và chuyển giao công nghệ sạch Cả Việt Nam và Úc đều cam kết mạnh mẽ “đạt được phát thải ròng bằng không” vào năm 2050. Theo trang web của chính phủ Úc liên quan đến Viện trợ phát triển tại Việt Nam, chính quyền Canberra cam kết “hợp tác với Việt Nam để hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng”. Úc sẽ hỗ trợ chuyển giao công nghệ sạch, theo giải thích của tiến sĩ Nguyễn Thế Phương. “Quan hệ song phương thời gian tới sẽ ảnh hưởng vào những điểm như sau : Thứ nhất là phát triển năng lượng tái tạo và hydrogen xanh. Úc có thế mạnh vượt trội về công nghệ điện gió ngoài khơi. Việt Nam đang phát triển về offshore wind - điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và hydrogen xanh. Ở mảng này, hai bên sẽ tăng cường hợp tác chuyển giao công nghệ và xây dựng các sàn giao dịch và các dự án sản xuất hydro ammonia tại Việt Nam. Điểm này được nhắc tới trong chuyến thăm của chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm. Thứ hai, ngoài năng lực thì cần phải có tài chính. Úc sẽ là nước giúp Việt Nam phát triển “tài chính xanh” và hỗ trợ chuyển giao năng lượng. Úc thông qua các gói viện trợ phát triển cũng như là các quỹ đầu tư tư nhân để giúp Việt Nam hiện đại hóa hạ tầng lưới điện, tăng khả năng hấp thụ nguồn năng lượng tá
Chiến tranh Trung Đông tác động đến du lịch Việt Nam
2026/09/21
Theo các số liệu chính thức, chỉ trong 8 tháng đầu năm nay (2026), Việt Nam đã tiếp đón gần 16 triệu du khách quốc tế, tăng 14,4 % so với cùng kỳ năm ngoái. Ngành du lịch Việt Nam còn có tham vọng sẽ tiếp đón tổng cộng 25 triệu du khách trong năm nay. Thế nhưng, khi trao đổi với RFI Việt ngữ, một số doanh nghiệp tham gia Hội chợ du lịch quốc tế IFTM Top Resa tại Paris ( 15-17/09/2026 ) đều than phiền là số khách của họ, ít ra là từ châu Âu, vẫn chưa tăng trở lại như trước đây, phần lớn là do tác động của chiến tranh Trung Đông. Trả lời RFI Việt ngữ tại hội chợ IFTM Top Resa, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, được thành lập năm 2019, chủ yếu phục cho du khách châu Âu ( Pháp,Ý, Tây Ban Nha, Bắc Âu…) , cho biết:  “Con số của Nhà nước là con số ghi nhận khi nhập cảnh và xuất cảnh. Thực tế con số tại các doanh nghiệp thì có một sự sụt giảm, như tại công ty Asia Viva Travel. Chúng tôi có ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng vào khoảng tháng 2 và tháng 3, thậm chí là tháng 5, tháng 6. Tuy nhiên, từ cuối tháng 6 đến tháng 9/2026, chúng tôi đã ghi nhận sự sôi động trở lại của những giao dịch từ những đơn vị đã chốt đơn cho cuối năm nay và năm sau.   Thẳng thắn mà nói thì vẫn còn những sụt giảm và vắng vẻ hơn. Khách có xu hướng sẽ chốt sát nút hơn so với trước đây. Trước đây họ có thể chốt từ 3 đến 6 tháng trước, nhưng bây giờ họ có thể chốt tháng trước, tháng sau. Thời gian họ quyết định sẽ sát hơn, tùy thuộc vào chuyến bay, rồi sẽ nhìn vào tình hình quốc tế xem có ổn định chưa thì họ mới quyết định có chốt đi hay không. Với khoảng 30, 40 nhân sự khối văn phòng, với các anh chị em hướng dẫn viên, hay những bà con làm ở tuyến điểm, hoặc là chèo đò, lái xe, tôi nghĩ rằng đó là một sự thách thức đối với cả tất cả chúng tôi. Bởi vì tính chất và số lượng tour giảm, thậm chí khách cũng chọn lựa những phương thức tiết kiệm hơn, hoặc là họ dùng AI để có thể tự liên hệ, dẫn đến sụt giảm về việc làm, sụt giảm về kinh doanh. Có thể họ hỏi rất là nhiều, nhưng tỷ lệ chốt đơn lại giảm. Đó là một trong những thách thức để chúng tôi duy trì và vận hành doanh nghiệp của chúng tôi.  Về phần mình, ông Edouard Georges, chủ tịch công ty lữ hành Phoenix Voyages, giải thích:  “Chiến tranh Iran đã tác động rõ rệt đến lượng khách đến Việt Nam: Các hãng hàng không vùng Vịnh đã tạm ngưng hoặc cắt giảm chuyến bay, dẫn đến việc lượng du khách châu Âu đến Việt Nam sụt giảm đáng kể. Mọi người cảm thấy lo lắng, bất an khi phải quá cảnh tại Doha, Dubai hay các thành phố khác ở vùng Vịnh để nối chuyến đến Việt Nam. Tình trạng sụt giảm lượng khách này đang ảnh hưởng đến toàn khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Cam Bốt và Thái Lan. Chúng tôi đã phải gánh chịu hậu quả từ tháng Hai hoặc tháng Ba. Đến nay, tình hình vẫn chưa thực sự khả quan hơn.Tôi nghĩ tình trạng này sẽ còn kéo dài thêm một thời gian nữa, mặc dù lịch bay đang dần ổn định và chúng tôi kỳ vọng sẽ sớm thấy lại tần suất hai hoặc ba chuyến mỗi ngày, thay vì chỉ một chuyến như hiện nay, đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn. Có hai yếu tố tác động ở đây, gồm bối cảnh quốc tế, nhưng cũng cần kể đến yếu tố giá cả. Giá vé máy bay đã tăng mạnh, dù là các chuyến bay thẳng của Vietnam Airlines, hay của các hãng như Singapore Airlines, Thai Airways hoặc Cathay Pacific. Giá vé rất cao, gần như tăng gấp đôi và tất nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, du khách không còn đủ khả năng chi trả cho những chuyến đi xa như vậy. Thay vào đó, họ chỉ đi du lịch trong phạm vi châu Âu hoặc khu vực Địa Trung Hải, như Maroc, Ai Cập hay Hy Lạp, những điểm đến vẫn phù hợp với ngân sách du lịch của họ, dù giá cả tại đó cũng đã tăng lên.”  Tuy nhiên, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, tỏ vẻ tin tưởng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với khách quốc tế:  “Với những chính sách và với những nỗ lực từ chính phủ, từ những doanh nghiệp Việt Nam, hay với những sự kiện để quảng bá và phát triển hơn du lịch của Việt Nam đối với các đối tác trên toàn cầu có mặt tại Top Resa  2026, tôi rất tin tưởng. Qua trao đổi, làm việc và thậm chí là trao đổi rất sâu với một số đối tác thân thiết, họ cũng chia sẻ rằng Việt Nam là một điểm đến mới nổi và rất đa dạng về văn hóa, về ẩm thực, về mọi mặt, với một mức chi phí rất là hợp lý, trong bối cảnh toàn cầu nói chung gặp khó khăn như thế này. Ở Việt Nam bây giờ chúng tôi rất tự hào, vì sản phẩm rất đa dạng ở góc độ nghỉ dưỡng, du lịch y tế, thiền, yoga, trekking hay adventure, khám phá, mọi thứ đều có thể gói gọn ở hai chữ “Việt Nam”. Tôi tin đó là một  cơ hội rất lớn và rộng mở cho tương lai của chúng tôi.”  Tuy nhiên, ông Edouard Geroges, giám đốc công ty Phoenix Voyages lưu ý: "Tôi cho rằng Việt Nam mắc phải một sai lầm cơ bản, đó là mong muốn đón hàng triệu lượt khách du lịch. Tốt hơn hết là nên chọn lọc kỹ lưỡng hơn và đón ít khách hơn, những khách sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn và lưu trú lâu hơn. Chúng ta cần tập trung thu hút những du khách chất lượng cao với thời gian lưu trú dài ngày, thay vì chỉ chạy theo các con số thống kê, tự hào về việc đón 25, 26 hay 30 triệu lượt khách. Xét cho cùng, những con số đó không mang nhiều ý nghĩa. Đó là sự hiểu lầm lớn về du lịch: số lượng đơn thuần không phải là yếu tố quan trọng nhất. Điều thực sự quan trọng là thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách." Cho dù số khách quốc tế đến Việt Nam đang dần tăng trở lại, theo ông Edouard Georges, ngành du lịch Việt Nam cần tạo ra nhiều sản phẩm hơn để giữ chân du khách lâu hơn: “Mọi thứ đang dần thay đổi, nhưng chúng ta cần củng cố các sản phẩm và dịch vụ, cải thiện công tác truyền thông và, quan trọng nhất, là quảng bá du lịch Việt Nam theo ba vùng riêng biệt. Chúng ta cần quảng bá miền Bắc vào đúng mùa, làm nổi bật các cơ hội du lịch sinh thái tại đây. Chúng ta cũng cần quảng bá miền Trung, với những bãi biển tuyệt đẹp, vào thời điểm thích hợp, và cả miền Nam, có thể tập trung vào Đồng bằng sông Cửu Long cùng các hành trình đường sông, thậm chí mở rộng sang Cam Bốt. Thông qua quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, chẳng hạn, miền Bắc có thể kết hợp rất tốt với Lào trong cùng một mùa du lịch.  Chúng ta cần tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa để khuyến khích du khách quay trở lại Việt Nam. Bạn có thể dành 15 ngày ở miền Bắc để thăm các cộng đồng dân tộc thiểu số, một trải nghiệm vô cùng đặc biệt, hay ngắm nhìn Vịnh Hạ Long, phải ở lại ba đêm để khám phá trọn vẹn vẻ đẹp phong phú của khu vực này, thong thả tản bộ, đọc sách và chiêm ngưỡng cảnh quan. Hiện nay, du khách thường di chuyển qua Việt Nam quá nhanh. Chúng ta cần chuyển hướng sang mô hình du lịch "chậm", khuyến khích khách hàng và du khách lưu trú lâu hơn cũng như quay trở lại một, hai, ba, thậm chí bốn lần để thực sự củng cố lượng khách du lịch.” Vấn đề là ngành du lịch Việt Nam lại đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt trầm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt trong các mùa cao điểm. Theo kết quả khảo sát của Hoteljob.vn (nền tảng tuyển dụng nhân sự hàng đầu trong ngành khách sạn và du lịch Việt Nam), gần 90% doanh nghiệp du lịch cho biết đang có nhu cầu tuyển dụng hoặc thiếu nhân sự. Thường xuyên thiếu nhân lực là trong lĩnh vực lưu trú, như nhân viên lễ tân, nhân viên buồng phòng, đầu bếp và nhân viên phục vụ trực tiếp. Cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel ghi nhận:  “Sau Covid xong thì có rất nhiều người đổi nghề. Có thể họ đã làm quá lâu trong mảng du lịch nên họ muốn trải nghiệm sang một cái mảng mới. Anh em vẫn nói vui trong nghề rằng du lịch là một công việc "tuy vất vả mà được cái nghèo"! Nói vui thế thôi nhưng tôi nghĩ đó là một công việc thú vị.  Chỉ có là khi mà lượng được đẩy lên quá cao, khi mà con số của năm 2025 là khoảng 21 triệ
Tàu săn ngầm “100% made in Vietnam”: Nỗ lực giảm bớt phụ thuộc vào nước ngoài
2026/09/14
Ngày 10/08/2026, Việt Nam đã khởi công đóng mới một tàu hộ vệ săn ngầm do trong nước thiết kế, mà một khi hoàn thành sau khoảng ba năm nữa sẽ là tàu chiến mặt nước lớn nhất của Hải quân Nhân dân Việt Nam (VPN). Tàu này, do Tổng công ty Sông Thu phối hợp Quân chủng Hải quân đóng mới, được mô tả là “tàu hộ vệ chống ngầm đa năng, sản phẩm tàu chiến lớn và hiện đại nhất từ trước đến nay do Việt Nam tự thiết kế, chế tạo”.  Truyền thông Nhà nước Việt Nam cho biết tàu hộ vệ “100% made in Vietnam”, hiện chưa được đặt tên, sẽ được trang bị radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA), tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm tiên tiến do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cùng các nhà máy quốc phòng liên kết với tập đoàn này tự nghiên cứu, chế tạo. Như loại tên lửa chống hạm trang bị cho tàu được cho là biến thể hải quân của dòng tên lửa VCM-01.  Cụ thể hơn, tàu hộ vệ mới này theo dự kiến sẽ được trang bị hệ thống vũ khí nào? Những vũ khí đó có hoàn toàn do Việt Nam sản xuất? Trả lời RFI Việt ngữ ngày 15/08/2026, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết:  "Hiện tại vẫn chưa rõ là tàu hộ vệ săn ngầm đa năng mới này có lượng giãn nước bao nhiêu tấn. Nhìn vào hình ảnh cũng như những thông số vũ khí của tàu, các chuyên gia dự đoán lượng giãn nước của tàu này có thể từ khoảng 2.500 tới 3.000 tấn. Cũng theo như hình ảnh được bộ Quốc Phòng Việt Nam công bố, tàu hộ vệ tầm 3.000 tấn này được trang bị thứ nhất là một khẩu pháo 76 ly AK-176. Khẩu pháo này sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ tàu trước những mục tiêu ở gần. Ngoài ra, bởi vì đây là tàu săn ngầm, cho nên tàu sẽ được trang bị thứ nhất là hai rocket RBU-6000 làm nhiệm vụ chống tàu ngầm. Rocket này cũng đã được trang bị cho các tàu săn ngầm khác mà Việt Nam có trước đây. Tàu cũng được trang bị hai ống phóng ngư lôi 533 ly, được đặt ở hai bên mạn tàu và tàu cũng có một cái sàn đáp cho trực thăng săn ngầm Ka-27, hiện đang trong biên chế của Hải quân Việt Nam. Đó là nhóm vũ khí săn ngầm chính. Ngoài ra, đặc biệt là tàu sẽ được trang bị một hệ thống phóng thẳng đứng gồm khoảng 12 bệ phóng thẳng đứng. Theo giới chuyên gia quân sự, 12 ống phóng này được trang bị các loại tên lửa phòng không tầm ngắn, cũng do Viettel nghiên cứu phát triển. Ngoài ra, ở đầu và ở đuôi tàu sẽ được trang bị hai tên lửa vác vai phòng không tầm ngắn Igla, cũng là một sản phẩm do Việt Nam phát triển, thông qua những mẫu thiết kế của Nga. Ngoài ra, để chống drone hay tên lửa hành trình tiếp cận tầm gần, tàu cũng được trang bị hai khẩu pháo AK-630 30 ly.  Đối với chống tàu mặt nước, tàu được trang bị hai bệ 4 x 4 tên lửa hành trình chống tàu. Chắc chắn loại tên lửa được trang bị sẽ là họ tên lửa VCM-01 mà Viettel vừa phát triển và vừa công bố trong khoảng 2 - 3 năm trở lại đây. Mẫu tên lửa hành trình chống tàu này cũng dựa trên nguyên bản là mẫu Kh-35, tên lửa hành trình chống tàu của Nga. Ngoài ra, một trong những công nghệ nổi bật là tàu được trang bị loại radar mảng quét điện tử AESA bốn mặt ở trên tháp pháo của tàu. Toàn bộ hệ thống radar này cũng như các radar dẫn bắn và các loại cảm biến trên tàu đều là sản phẩm của Viettel. Giới quan sát rất quan tâm tới hệ thống radar và những loại thiết bị vũ khí, đặc biệt là các loại vũ khí chống ngầm và năng lực phát triển hệ thống ống phóng thẳng đứng, bởi vì những trang thiết bị này lần đầu tiên xuất hiện trong một tàu chiến mà Việt Nam hiện có. Ngoài ra còn có hệ thống sonar, bởi vì khi nói tới tác chiến chống ngầm thì không thể thiếu được "hệ thống định vị thủy âm dưới nước". Nếu nhìn hình ảnh thì chúng ta thấy tàu chống ngầm cũng có hệ thống sonar. Tuy nhiên chưa rõ là loại sonar mới này sẽ do Việt Nam phát triển hay do nước ngoài phát triển. Nhiều nguồn tôi tiếp cận được thì cho rằng Việt Nam sẽ mua hệ thống sonar này của Pháp, của Thales, tại vì các hệ thống sonar của Thales Việt Nam đã tiếp cận và cũng đã lắp đặt trên các tàu chống ngầm cũ   của Việt Nam rồi. Ngoại trừ hệ thống sonar và có thể là ngoại trừ tên lửa phòng không, tất cả những thứ khác từ súng cho tới rocket chống ngầm và các loại radar đều là sản phẩm của ngành công nghiệp ttong nước, không chỉ là Viettel, mà còn một số nhà máy của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam sản xuất ra. Có thể thấy là từ 80 tới 90% các hệ thống vũ khí, radar và các hệ thống vận hành tàu đều là sản phẩm của Việt Nam, dựa trên các thiết kế trước đây đã được kiểm chứng trong quá trình mà Việt Nam vận hành các loại tàu chiến khác nhau.  Hiện nay, lực lượng tàu chiến mặt nước chủ lực của Hải quân Nhân dân Việt Nam bao gồm bốn tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9 do Nga chế tạo: Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo và Quang Trung. Chỉ có hai tàu Trần Hưng Đạo và Quang Trung là được trang bị các hệ thống chuyên dụng cho tác chiến chống tàu ngầm. Việt Nam cũng đang vận hành sáu tàu ngầm điện-diesel lớp Kilo, cùng với một số tàu hộ vệ và tàu hộ tống đời cũ hơn do Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc chuyển giao. Đồng thời, Việt Nam cũng mở rộng việc tự sản xuất các loại tàu tên lửa và tàu tuần tra. Tàu hộ vệ mới được kỳ vọng sẽ tăng cường khả năng của Việt Nam giám sát và ứng phó với các hoạt động trên biển, đặc biệt là tại những vùng biển đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương nhận định: "Các loại tàu chiến mới này thứ nhất sẽ đóng vai trò như một phòng thử nghiệm cho việc phát triển các loại công nghệ và vũ khí mới của Hải quân Việt Nam trong tương lai, chứ không hẳn chỉ đóng vai trò tác chiến. Công nghệ mới nào cũng cần phải được thử nghiệm trong huấn luyện cũng như trong các cuộc diễn tập khác nhau, để xem các loại vũ khí mới đó có thực sự nó phù hợp với nhu cầu của con tàu và với mục tiêu tác chiến kỹ chiến thuật trên biển mà Hải quân Việt Nam yêu cầu hay không. Nhiệm vụ quan trọng nhất của tàu này là một phòng thí nghiệm cho các loại vũ khí mới mà Hải quân Việt Nam muốn nghiên cứu chế tạo và sản xuất. Nhiệm vụ thứ hai rõ ràng là giải cơn khát về tàu chiến mặt nước của Việt Nam chắc phải từ 5 - 6 năm nay: Tàu chiến mặt nước gần nhất mà Việt Nam mua là của Nga từ 2019. Cho tới nay đây là tàu mặt nước lớn nhất mà Việt Nam tự chủ chế tạo và sản xuất. Trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây,  thông qua hợp tác quốc tế và thông qua nỗ lực tự thân, Việt Nam cũng có đóng một số tàu tuần tra nhỏ, một số tàu cho Cảnh sát biển, tàu cứu hộ tàu ngầm, tàu huấn luyện, hoặc một số số tàu logistic khác, nhưng tàu chiến mặt nước từ 2019 đến nay chưa có. Trong tương lai, cho tới năm 2030, Việt Nam mong muốn xây dựng được một năng lực tác chiến hải quân hiện đại đủ khả năng răn đe, chống xâm nhập, chống tiếp cận ở Biển Đông, đặc biệt là xung quanh khu vực tranh chấp. Việc sở hữu được một tàu chiến mặt nước có lượng giãn nước lớn, khoảng 3.000 tấn, sẽ giúp Việt Nam cải thiện năng lực tác chiến mặt nước. Chưa kể là, nếu như tốc độ đóng tàu này tốt, nếu như những năng lực hải quân, công nghiệp quốc phòng thử nghiệm tốt, thì khả năng sắp tới Việt Nam sẽ xây dựng một mô hình tương đương với mô hình hạm đội của các nước phương Tây. Không lớn bằng mô hình hạm đội đó   nhưng cũng đủ để Việt Nam có thể duy trì một lực lượng tác chiến độc lập, cơ động và giúp Việt Nam giải quyết các vấn đề trên biển một cách chủ động hơn."  Theo nhận định của hãng tin Anh Reuters ngày 12/08, việc đóng mới loại tàu hộ vệ này “đánh dấu một bước tiến nữa trong nỗ lực của Việt Nam nhằm phát triển ngành công nghiệp quốc phòng nội địa và giảm sự phụ thuộc vào các trang thiết bị có nguồn gốc từ Nga”. Hà Nội ngày càng chú trọng phát tri
Việt Nam cần thoát khỏi danh sách "thiên đường thuế" của EU, Pháp có giúp được không?
2026/09/07
Tháng 02/2026, Liên Hiệp Châu Âu (EU) đưa Việt Nam vào danh sách các khu vực không hợp tác về thuế do “chưa đạt mức xếp hạng tối thiểu là “Tuân thủ phần lớn” (Largely Compliant) theo đánh giá của Diễn đàn Toàn cầu về cơ chế trao đổi thông tin theo yêu cầu”. Đến tháng 08, Việt Nam đã nộp hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu, hướng tới nâng hạng tuân thủ, đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các khu vực không hợp tác về thuế của EU (1). Được rút hỏi danh sách đen về thuế không chỉ giúp Việt Nam tránh các biện pháp trừng phạt phòng vệ từ các đối tác lớn như Liên Hiệp Châu Âu, mà còn củng cố uy tín quốc gia trong hệ thống tài chính toàn cầu. Đây có thể được coi là mục đích chính trong chuyến thăm công tác tại Pháp của tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09/2026. Pháp có thể hỗ trợ được Việt Nam như thế nào trong lần đánh giá sắp tới của Liên Hiệp Châu Âu, dự kiến diễn ra tháng 10/2026 ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược Trường Quân sự Pháp, IRSEM. RFI : Trong bản cập nhật ngày 17/02/2026, Việt Nam và chín vùng lãnh thổ và quốc gia khác nằm trong danh sách "các khu vực pháp lý thuế không hợp tác" của Liên Hiệp Châu Âu. Đợt đánh giá tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Quyết định của Liên Âu gây bất lợi như thế nào cho Việt Nam về hình ảnh và các quyết định đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ cũng mở ba cuộc điều tra đối với Việt Nam ? Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên cần lưu ý là trong thời gian qua đã diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc cấp cao giữa tổng thống Pháp và chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Việt Nam. Đây là lần thứ ba hai nhà lãnh đạo gặp nhau trong chưa đầy hai năm. Cuộc gặp đầu tiên diễn ra bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ tại Villers-Cotterêts năm 2024, tiếp đó là cuộc gặp tại Hà Nội vào tháng 05/2025 và lần này là cuộc gặp thứ ba. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng quan hệ song phương vẫn chưa đạt được tốc độ phát triển như kỳ vọng của cả hai nước. Trong bối cảnh đó, có một số vấn đề đáng được xem xét. Chuyến đi lần này mang tính chất chuyến công tác, không phải chuyến thăm cấp Nhà nước, do đó nội dung làm việc sẽ không chỉ giới hạn ở các vấn đề song phương. Dù một số ý kiến cho rằng hợp tác trong lĩnh vực không gian và hàng hải sẽ được thảo luận nhưng tôi cho rằng Việt Nam còn quan tâm đến nhiều mục tiêu quan trọng khác. Đáng chú ý, phái đoàn tháp tùng ông Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09 có quy mô rất lớn, khoảng 180 thành viên. Việt Nam hiện có hai mối quan tâm hàng đầu. Thứ nhất là việc bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen về thuế” đối với các quốc gia không hợp tác từ ngày 17/02/2026. Vấn đề này sẽ được xem xét lại vào tháng 10 tại Bruxelles. Trước đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã cử một phái đoàn tới hỗ trợ Việt Nam đáp ứng các tiêu chí về minh bạch và hợp tác thuế quốc tế. Sẽ phải chờ xem tác động của phái đoàn này. Tuy nhiên, Liên Hiệp Châu Âu không nhất thiết phải tuân theo các khuyến nghị của OECD. Trong bối cảnh đó, Paris đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Với vị thế là một trong những quốc gia có ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có thể ủng hộ quan điểm của Hà Nội và vận động để Việt Nam được rút khỏi nhóm 10 nước trong danh sách đen về thuế. Đọc thêmLiên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch Điểm thứ hai, việc Việt Nam bị đưa vào danh sách đen có thể là một yếu tố làm phức tạp thêm, gây ảnh hưởng đến tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU-Việt Nam (EVIPA) tại các nước thành viên. Đối với Việt Nam, EVIPA là một ưu tiên chiến lược, thường được Hà Nội nhắc đến, bởi vì hiệp định này nhằm tăng cường bảo đảm pháp lý cho các nhà đầu tư châu Âu, khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghiệp và công nghệ, phù hợp với những ưu tiên đầy tham vọng mà ông Tô Lâm đang thúc đẩy. Paris cũng chưa phê chuẩn Hiệp định này. Quá trình đã được khởi động và dự kiến sẽ sớm có tiến triển. Việc Pháp sớm phê chuẩn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Nhìn chung, các ưu tiên của Việt Nam hiện nay tập trung vào hai nội dung chính : Trước hết là các vấn đề tài chính và kinh tế liên quan đến Liên Hiệp Châu Âu ; tiếp đến là các nội dung hợp tác song phương. Những vấn đề gắn với Bruxelles được xem là then chốt để Việt Nam triển khai chương trình phát triển kinh tế đầy tham vọng của ông Tô Lâm. RFI : Hà Nội lấy làm tiếc quyết định của Liên Hiệp Châu Âu không phản ánh chính xác những nỗ lực của Việt Nam trong việc tăng cường tính minh bạch của hệ thống thuế. Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách. Những cải cách đó là gì ? Và liệu chúng có khả năng thuyết phục Bruxelles xem xét lại quyết định trong đợt đánh giá sắp tới không ? Benoît de Tréglodé : Tôi không phải là chuyên gia tài chính của OECD hay cơ quan giám sát thuế của Liên Hiệp Châu Âu, nhưng có thể khẳng định rằng việc Bruxelles đưa Việt Nam vào danh sách đen về thuế là một tín hiệu không thuận lợi cho Hà Nội. Sau những bất ổn của hệ thống tài chính, từ vụ bê bối Sacombank đầu những năm 2010 đến cuộc khủng hoảng ngân hàng giai đoạn 2011-2012, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình cải cách nhằm nâng cao tính minh bạch và tăng cường mức độ hội nhập của nền kinh tế vào hệ thống quốc tế. Trên thực tế, chính quyền Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, ngăn các tổ chức tài chính gặp khó khăn làm suy yếu toàn bộ hệ thống, tăng cường kiểm soát nợ xấu, củng cố vai trò của Ngân hàng Nhà nước và chấp nhận rộng rãi hơn các chuẩn mực quốc tế như Basel II (về tiêu chuẩn và quy định ngân hàng). Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Tuy nhiên, theo đánh giá của Liên Hiệp Châu Âu, các cam kết cải cách được đưa ra trong thập niên 2010 vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc Việt Nam bị đưa trở lại vào diện theo dõi và giám sát về thuế trong lần đánh giá tháng 02/2026. Dù vậy, khả năng Việt Nam được rút khỏi danh sách này trong thời gian tới là hoàn toàn có cơ sở. Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ Hà Nội đang nỗ lực củng cố và bảo vệ vị thế của mình thông qua việc tăng cường quan hệ với một quốc gia thành viên có tầm ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu. RFI : Trong trường hợp Liên Hiệp Châu Âu đánh giá những cải cách này là chưa đủ, như nêu ở trên. Và nếu Việt Nam vẫn nằm trong danh sách đen về thuế, điều này sẽ tác động như thế nào đến đất nước trong những năm tới, khi thực hiện mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất là 10% ? Benoît de Tréglodé : Không thể nói rằng điều này sẽ ngăn cản đầu tư của châu Âu tại Việt Nam, vì đây chỉ là một trong những yếu tố trong quan hệ song phương. Tuy nhiên, việc Việt Nam xuất hiện trong danh sách đen về thuế, với những biện pháp thuế bất lợi, sẽ tác động đến sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các chính phủ và doanh nghiệp châu Âu. Tác động của việc này thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết, các giao dịch tài chính giữa Việt Nam và châu Âu có thể trở nên phức tạp, tốn thời gian hơn do phải trải qua các quy trình kiểm tra, thẩm định nghiêm ngặt hơn. Trong trường hợp phát sinh nghi ngờ, các cơ quan và tổ chức liên quan sẽ phải tiến hành xác minh kỹ hơn về nguồn gốc dòng tiền, hồ sơ thuế… Các thủ tục này sẽ làm gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp. Và đây không phải là điều tích cực cho lắm. Tác động thứ ba, tôi cho là cũng rất quan trọng, liên quan đến hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đây là điều thực sự không cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang theo đuổi chương trình cải cách kinh tế và hiện đại hóa đầy tham vọng dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm. Chẳng hạn, một ngân hàn
Đối tác châu Á giúp Việt Nam tạo thế cân bằng với nhà đầu tư phương Tây
2026/08/31
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 38 tỷ đô la, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2025. Năm nhà đầu tư lớn nhất đều đến từ châu Á : Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản ; riêng Singapore chiếm 35,6% tổng vốn đăng ký cấp mới (7,5 tỷ đô la). Các nhà đầu tư châu Á coi sự ổn định chính trị của Việt Nam là lợi thế, dù nước này có “những hạn chế về nhân quyền” và “chế độ chính trị mang tính chuyên chế”. Đó là nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM), trong phần trả lời cho câu hỏi “Phải chăng Việt Nam lại đang hướng sang châu Á?” trong cuốn sách Le Việt Nam. Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới). Vẫn theo chuyên gia Pháp, “các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đánh giá cao việc các đối tác không đặt ra những điều kiện này và cảm thấy thoải mái hơn khi hợp tác với những quốc gia có nền văn hóa chính trị tương đồng” (2) trái với các đối tác phương Tây, vẫn thường đặt điều kiện đầu tư với hàng loạt ràng buộc về các quyền và nghĩa vụ. Trong những năm gần đây, “cho dù các nước phương Tây đã tiết chế những phát biểu về nhân quyền nhưng ảnh hưởng của họ vẫn bị suy giảm trước sức mạnh của các nền kinh tế châu Á”. Việt Nam đang chuyển hướng sang châu Á? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé. RFI : Trong tựa đề cuốn sách, ông nhắc đến “một châu Á mới”. Chính xác thì chúng ta nên hiểu “châu Á mới” này như thế nào trong bối cảnh hiện tại, và Việt Nam đang đứng ở vị trí nào tại ngã ba đường của “châu Á mới” này ? Benoît de Tréglodé : Vì sao lại là "Ngã ba đường của một châu Á mới" ? Khi đặt tên cho một cuốn sách, tiêu đề luôn cần có sức tạo ấn tượng mạnh mẽ. Chính vì vậy, nhà xuất bản Tallandier đã lựa chọn tiểu tựa đề "Ở ngã ba của một châu Á mới". Châu Á đang chuyển mình mạnh mẽ từng ngày, và hình ảnh "ngã ba đường" phản ánh cách nhìn về vị thế của Việt Nam trong bối cảnh đó. Thoạt nghe, đây có thể là một cách diễn đạt khá khái quát, nhưng lại hàm chứa nhiều ý nghĩa. Trong một thời gian dài, các đối tác chủ yếu của Việt Nam là những cường quốc phương Tây ở xa : trước hết là Pháp trong thời kỳ thuộc địa, rồi đến Liên Xô và Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam… Chỉ đến khi gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam mới thực sự tái khám phá bản sắc và không gian châu Á của mình. Từ đó, Hà Nội dần nhận ra rằng việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng hợp tác kinh tế với các nền kinh tế năng động, đang lên của Đông Á là chìa khóa để đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại và tạo thế cân bằng về địa-chính trị. Các nhà lãnh đạo Việt Nam nhanh chóng hiểu rằng cách tiếp cận dựa trên địa-kinh tế này có thể giúp đất nước tránh bị cuốn vào thế đối đầu giữa hai cường quốc : một bên là Trung Quốc - đối tác chính trị, kinh tế và chiến lược có ảnh hưởng sâu rộng và bên kia là Hoa Kỳ - quốc gia mà Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn về kinh tế. Vì vậy, đây cũng là cách để cân bằng tất cả các mối quan hệ với thế giới bằng cách mở cửa nền kinh tế cho các quốc gia và nền kinh tế khác. Điều này cho thấy Việt Nam không phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất. Việt Nam có khả năng cân bằng lại các mối quan hệ kinh tế và do đó có thể ứng phó với những sức ép hoặc đòi hỏi quá mức từ các đối tác lớn. RFI : Ông vừa đề cập là Việt Nam hướng trở lại châu Á. Vậy sự tập trung trở lại vào châu Á này sẽ có ý nghĩa gì đối với Việt Nam ? Benoît de Tréglodé : Bởi vì, như tôi vừa đề cập, Việt Nam đang theo đuổi một chiến lược cân bằng rất rõ ràng. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh một thủ tướng được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đánh giá cao như ông Lê Minh Hưng, người luôn chủ động chào đón và khuyến khích các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore cũng như Hoa Kỳ. Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu, và là một đối tác có ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, giữa hai nước vẫn tồn tại một số bất đồng khiến Hà Nội chưa thể coi quan hệ kinh tế với Washington là hoàn toàn không có rủi ro. Chẳng hạn, Hoa Kỳ gần đây đã đưa ra mức cảnh báo cao đối với Việt Nam trong báo cáo thường niên về bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Điều này có thể dẫn đến các cuộc điều tra sâu hơn và kéo theo nguy cơ Washington áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. Bên cạnh đó, phía Hoa Kỳ cũng nhiều lần bày tỏ quan ngại về tình trạng lao động cưỡng bức tại Việt Nam, trong khi bộ Ngoại Giao Việt Nam bác bỏ các cáo buộc này. Có thể thấy, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn phát triển mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng chịu tác động bởi những bất đồng nhỏ phản ánh tính chất đặc biệt của một quan hệ song phương được định hình bởi lịch sử và vì thế vẫn luôn chứa đựng những yếu tố nhạy cảm. Trong khi đó, các đối tác ở ASEAN và Đông Á lại mở ra cho Việt Nam những cơ hội rất lớn. Các doanh nghiệp trong khu vực hiện sở hữu năng lực cạnh tranh công nghệ ngày càng cao, cung cấp nhiều sản phẩm có thể cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn phương Tây, không chỉ về chất lượng mà còn về giá cả. Quan trọng hơn, cách thức hợp tác và văn hóa kinh doanh của các đối tác châu Á thường gần gũi với môi trường kinh doanh của Việt Nam hơn, giúp quá trình hợp tác diễn ra thuận lợi và thực dụng hơn. Thực tế, trong những năm gần đây, có thể thấy làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ các nền kinh tế châu Á vào Việt Nam. Các nhà đầu tư này chủ yếu tập trung vào hoạt động kinh doanh, không chỉ trích bất cứ điều gì, ít gắn các quyết định đầu tư với những điều kiện hay yêu cầu mang tính chính trị. Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, sự đa dạng hóa các đối tác kinh tế còn mang một ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Nó cho phép Việt Nam gửi đi một thông điệp rõ ràng tới các đối tác truyền thống : "Hãy nhìn xem, chúng tôi không phụ thuộc vào bất kỳ ai. Chúng tôi có thể có thể vận hành cỗ máy mà không nhất thiết cần các vị. Chúng tôi phát triển cùng nhiều đối tác khác, từ nhiều thị trường và nhiều nhà đầu tư khác nhau". Nói cách khác, tự chủ kinh tế không chỉ là một mục tiêu phát triển, mà còn là nền tảng để xây dựng tự chủ chiến lược. Đó là giấc mơ trường tồn của giới cầm quyền Việt Nam. RFI : Năm câu hỏi cuối cùng liên quan đến Việt Nam và Pháp : Liệu hai đất nước có “một tương lai chung” không ? Benoît de Tréglodé : Đó là một câu hỏi không dễ trả lời. Đúng là phần cuối cuốn sách do Nhà xuất bản Tallandier phát hành được dành để phân tích quan hệ giữa Pháp và Việt Nam. Đây cũng là một khuôn khổ chung mà các tác giả trong bộ sách đều phải tuân thủ. Nhưng nếu nhìn vào thực tế, quan hệ giữa hai nước ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với ba thập niên trước. Sẽ không khách quan nếu không thừa nhận điều đó. Tại Pháp, cả giới chính trị lẫn dư luận vẫn chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của ý niệm về "một thế kỷ lịch sử chung" giữa hai nước. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, giai đoạn ấy trước hết là thời kỳ thực dân Pháp cai trị. Việt Nam không đánh giá cao "Phần lịch sử chung" này. Pháp đã chuyển từ quan niệm lịch sử đó sang hướng thực dụng hơn. Pháp cũng đang thấy ảnh hưởng suy yếu dần tại Việt Nam. Điều này thể hiện rất rõ trên phương diện kinh tế. Vào đầu và giữa những năm 1990, các công ty Pháp từng nắm giữ gần 6% thị phần; ngày nay, con số này chỉ còn khoảng 0,4% đến 0,5% thị phần trong nước do sự bùng nổ của cạnh tranh quốc tế và sự năng động cực độ của các doanh nghiệp châu Á. Song song đó, cộng đồng Pháp ngữ cũng đã suy yếu đáng kể ở Việt Nam nói riêng và trên to
Trung tâm CIRAD của Pháp hỗ trợ chuyển đổi nông nghiệp sinh thái ở miền bắc Việt Nam
2026/08/24
Hội nghị lần thứ 17 của Liên Hiệp Quốc (COP17) về Chống Sa mạc hóa đang diễn ra từ ngày 17 đến 28/08/2026 tại Ulan Bator, thủ đô của Mông Cổ. Hội nghị quy tụ 197 quốc gia và tổ chức khu vực nhằm giải quyết vấn đề phục hồi đất đai và chống hạn hán. COP17 về Chống sa mạc hóa diễn ra trong khuôn khổ Năm Quốc tế về Đồng cỏ và Chăn nuôi Du mục. Đồng cỏ là những vùng đất tự nhiên rộng lớn, không canh tác, chủ yếu được sử dụng để chăn thả gia súc, bao phủ hơn một nửa diện tích đất liền của Trái Đất và trực tiếp hỗ trợ sinh kế cho khoảng 500 triệu người. Chăn nuôi du mục hay chăn thả tự do cũng là một vấn đề trọng tâm tại hội nghị COP lần này. Đây là phương thức chăn nuôi quảng canh, dựa vào việc gia súc ăn cỏ tự nhiên trên đồng cỏ và thường có đặc điểm là tính di động của người chăn nuôi và đàn gia súc. Do 2026 là Năm Quốc tế Du mục, cho nên tại Triển lãm Nông nghiệp Quốc tế Paris ( 27/02 - 07/03/2026 ), Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì Sự Phát triển ( CIRAD ) của Pháp cùng với Cơ quan Phát triển Pháp ( AFD ) đã chọn chăn nuôi du mục là chủ đề chính, nhằm quảng bá rộng rãi hơn một hình thức chăn nuôi còn rất phổ biến ở nhiều nước, trong đó có cả Việt Nam, nhưng cho tới nay ít được giới nghiên cứu và các chính quyền để ý đến.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Nông nghiệp, kỹ sư nông học Guillaume Duteurtre, nhà nghiên cứu tại trung tâm CIRAD, cho biết :   “Năm quốc tế này là cơ hội để giới thiệu những gì chúng tôi đang làm trong lĩnh vực này cho CIRAD và AFD, và đặc biệt là tham gia vào các hoạt động vận động, chiến dịch nâng cao nhận thức và các sự kiện giúp thúc đẩy phát triển chăn nuôi du mục ở các quốc gia mà chúng tôi hoạt động.  Trên hành tinh của chúng ta, chăn thả du mục hiện diện ở mọi vĩ độ. Từ các vĩ độ phía bắc với việc chăn nuôi tuần lộc, đến các vĩ độ nhiệt đới và thậm chí cả xích đạo với chăn nuôi gia súc, tức là ở vùng thảo nguyên. Đó là một hệ thống chăn nuôi gia súc và một lối sống của khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới, dựa trên việc sử dụng thảm thực vật tự nhiên.  Chủ yếu đó là chăn nuôi gia súc, động vật nhai lại, nhưng cũng bao gồm cả chăn nuôi lạc đà, và đôi khi cả ngựa nữa, như ở Mông Cổ, nơi mà ngựa có vai trò rất quan trọng. Đó là một hệ thống giúp cho nhiều cộng đồng kiếm sống từ hoạt động thường được liên kết với nông nghiệp. Chăn thả kết hợp với nông nghiệp cũng là một hệ thống cho phép sử dụng bền vững các khu vực rừng nơi động vật được chăn thả. Trong ngành chăn thả kết hợp lâm nghiệp ( sylviopastoralisme ), chúng ta cũng có thể sử dụng các sản phẩm từ rừng.  Ở châu Âu, rõ ràng đây là một hệ thống quan trọng, đặc biệt là ở các vùng núi. Nhưng ở các quốc gia nhiệt đới mà CIRAD hoạt động, đây là một hệ thống có tính cấu trúc đặc biệt đối với các vùng lãnh thổ. Người ta ước tính rằng, trên toàn thế giới, đồng cỏ – những vùng đất rộng lớn với thảm thực vật tự nhiên – chiếm khoảng 45% diện tích đất liền của Trái đất. Đây là những vùng lãnh thổ khổng lồ.”   Ngành chăn nuôi du mục hiện đang phải đối mặt với những thách thức nào do tác động của biến đổi khí hậu, vốn đang ngày càng làm giảm diện tích đất có thảm thực vật? Kỹ sư Guillaume Duteurtre giải thích : “Tác động của biến đổi khí hậu khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực. Những gì đang xảy ra ở Siberia không giống với những gì đang xảy ra ngay giữa vùng Sahel ( Châu Phi ). Vì vậy, phải tính đến bối cảnh địa phương. Ví dụ chúng tôi đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu ở Tây Phi và vùng Sahel. Chúng tôi nhận thấy lượng mưa đang tăng lên do biến đổi khí hậu, nhưng được phân bổ không đồng nhất giữa các mùa và trong suốt các năm. Do đó, các hệ thống này đang chịu áp lực do sự bất thường này.  Chúng tôi cũng nhận thấy nhiệt độ đang tăng lên ở khu vực Sahel. Điều này gây thêm áp lực lên vật nuôi. Do lượng mưa đang tăng lên và được phân bổ không đều, cho nên đã xảy ra một số trận lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến cái chết của động vật. Ví dụ, trong mùa mưa vừa qua ở Sahel, đã có nhiều động vật bị chết đuối.  Đó là bối cảnh khí hậu chung. Vì vậy, khó khăn nằm ở việc thích ứng với những thay đổi này, đồng thời cũng thích ứng với những thay đổi khác. Thay đổi lớn đầu tiên tất nhiên là sự gia tăng diện tích đất canh tác và sự gia tăng số lượng động vật. Với sự gia tăng dân số, áp lực từ thị trường thịt và sữa, thế giới ngày càng có nhiều động vật hơn, trong khi không gian sống ngày càng ít hơn. Vì vậy, đó là hạn chế đầu tiên: có sự căng thẳng cả về đồng cỏ chăn thả và đường đi của động vật, hành lang tiếp cận sông ngòi, nguồn nước uống, hành lang tiếp cận khu vực trú ẩn, v.v. Và hiện nay còn có một sự thay đổi lớn khác đang diễn ra: Trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học, các quốc gia cam kết sẽ tăng diện tích các khu bảo tồn, các khu vực bảo vệ thiên nhiên.”  Riêng ở Việt Nam hiện nay, chăn thả tự do vẫn là một trong 3 phương thức chăn nuôi phổ biến cùng với chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi theo kiểu công nghiệp. Phương thức chăn thả tự do có những lợi thế, như tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp, vật nuôi cho chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon, nhưng phương thức này lại có nhược điểm là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, quy mô nuôi đàn chỉ ở mức vừa phải, và nhất là khó kiểm soát dịch bệnh. Vấn đề đang được đặt ra đối với những vùng vẫn còn tồn tại phương thức chăn thả như ở tỉnh Điện Biên ở miền bắc Việt Nam, đó là phải làm sao giảm thiểu xung đột giữa phương thức chăn nuôi này với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Trung tâm CIRAD đã có những hoạt động để hỗ trợ nông dân vùng núi miền bắc Việt Nam chuyển từ chăn thả tự nhiên sang canh tác sinh thái và chăn nuôi, theo lời kỹ sư Guillaume Duteurtre : “Trung tâm CIRAD đã làm việc từ nhiều năm qua ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng núi phía Bắc, về hệ thống canh tác sinh thái và chăn nuôi, mà theo truyền thống thường được tích hợp cao, với một ít ruộng lúa, một vài cây ăn quả, một số ao hồ và một đàn gia súc nhỏ như dê hoặc bò. Trong lĩnh vực này, chúng tôi đang hợp tác với các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn để khuyến khích các hệ thống nông nghiệp sinh thái và thúc đẩy các phương pháp quản lý môi trường để sản xuất nhưng vẫn tôn trọng môi trường.  Có những thách thức đáng kể liên quan đến tình trạng xói mòn sườn dốc ở khu vực phía Bắc Việt Nam này, do việc chuyên canh cây trồng, đặc biệt là ngô và sắn. Do đó, chúng tôi đang làm việc với tất cả các đối tác về các hệ thống canh tác và chăn nuôi tích hợp để sản xuất ngô và sắn đồng thời bao gồm cả chăn nuôi. Vì vậy, lợi thế của việc chăn nuôi gia súc ở khu vực này là có thể tận dụng được diện tích rừng, rất rộng lớn do các quy định rất nghiêm ngặt về bảo tồn rừng cộng đồng và rừng sản xuất. Gia súc có thể giúp nâng cao giá trị của các khu vực rừng này khi được chăn thả, bởi vì chúng không chỉ ăn cỏ mà còn ăn rất nhiều lá cây. Và trên hết, chúng tôi sẽ cố gắng thúc đẩy việc sử dụng phân chuồng để duy trì độ phì nhiêu của đất tại các vườn cây ăn quả và các khu rừng trồng để bán.  Đó là một quan hệ đối tác rất tốt và chúng tôi đang cố gắng đo lường lợi ích môi trường của các hệ thống nông nghiệp và chăn nuôi tích hợp này, vốn đã rất quen thuộc với thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng, ít nhất là những người lớn tuổi trong khu vực đó. Chúng tôi đang so sánh những lợi ích môi trường này với lợi ích kinh tế để giúp ra quyết định về các chính sách phát triển.”  Trong khuôn khổ các hoạt động ở Việt Nam, trung tâm CIRAD đã tham gia vào Dự
Biên phòng, cảnh sát biển Việt Nam: Hai lực lượng đi đầu trong mở rộng ngoại giao quốc phòng với Úc
2026/08/17
Việt Nam và Úc công bố ba tuyên bố chung khi kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tới Úc của chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 09 đến 12/08/2026. Hai nhà lãnh đạo coi đây là minh chứng cho “sự tương đồng ngày càng lớn về lợi ích chiến lược”. Còn giới quan sát đánh giá sự kiện này là “chưa từng có tiền lệ”. Về hợp tác quốc phòng, hai nước đã trao đổi ba văn kiện hợp tác về tìm kiếm cứu nạn, biên phòng và cảnh sát biển. Trong một bài viết trên trang The Diplomat, tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhận thấy "điểm đáng chú ý, các tuyên bố chung cho thấy Việt Nam đang thể hiện tự tin hơn khi đề cập đến "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương" như một cấu trúc khu vực", thay vì "thận trọng" như trước đây. Điều này cho thấy "Việt Nam đang khẳng định vị thế vững chắc hơn trong cấu trúc khu vực rộng lớn này, thay vì coi đây là khái niệm chủ yếu thuộc về các bên khác". Để hiểu hơn về quá trình hợp tác an ninh và quốc phòng giữa Việt Nam và Úc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Úc và Việt Nam có mối quan hệ hợp tác quốc phòng từ khá lâu, hai nước hợp tác trong những lĩnh vực nào ? Nguyễn Thế Phương : Nhìn lại lịch sử hợp tác, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt được đặt móng từ Bản ghi nhớ Hợp tác Quốc phòng năm 2010, cũng là 16 năm rồi. Và 8 năm sau đó, năm 2018 là Tuyên bố Tầm nhìn chung. Từ đó tới nay, quan hệ quốc phòng Việt-Úc tập trung vào một số mảng sau đây. Thứ nhất là đào tạo và huấn luyện. Đây là một trụ cột nền tảng. Rất nhiều học viên, sĩ quan Việt Nam đang học ở Học Viện Quốc Phòng Úc, không chỉ ở thủ đô Canberra, mà còn ở những cơ sở huấn luyện quốc phòng khác, nhưng tập trung chủ yếu ở Học Viện Quốc Phòng Úc. Úc là một trong những quốc gia cung cấp rất nhiều học bổng đào tạo ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh chuyên ngành quân sự và quản lý quân sự chuyên sâu cho các cán bộ sĩ quan quân đội Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Úc họ cũng cử quân nhân sang Việt Nam học tiếng Việt và tham gia một số các khóa đào tạo về quốc phòng tại Học Viện Quốc Phòng ở Việt Nam. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nếu so sánh các đối tác quốc phòng, ngoài Mỹ, cứ cho rằng Úc thuộc phương Tây, thì Úc hỗ trợ Việt Nam gần như là nhiều nhất, nhiều khi hơn cả Pháp. Đây là điểm trụ cột nền tảng trong quan hệ quốc phòng Việt-Úc trong khoảng 10 năm qua. Đọc thêmViệt Nam - Úc : Mối quan hệ “thực chất” dựa trên “niềm tin chính trị” Điểm thứ hai, một trong những điểm rất nổi bật, là hợp tác trong mảng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. Úc hỗ trợ toàn diện cho Việt Nam từ vấn đề kỹ thuật, huấn luyện lực lượng cho đến logistic. Hầu như tất cả các lực lượng Việt Nam qua châu Phi để tiến hành các hoạt động gìn giữ hòa bình đều được vận chuyển bằng máy bay vận tải hàng nặng C17 Globemaster của Úc. Từ con người, trang thiết bị cho tới những vấn đề hầu cần từ châu Á tới châu Phi là Úc hỗ trợ Việt Nam cái mảng này, hầu như là duy nhất luôn. Mảng thứ ba cũng cần được nhắc tới là khắc phục hậu quả chiến tranh. Úc hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, kỷ vật chiến tranh, công tác bản đồ để phục vụ cho quá trình rà phá bom mìn và tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tích trong chiến tranh. Và vấn đề được làm một cách thường xuyên, liên tục năm này qua năm khác, chính là tham vấn chính trị quốc phòng cả song phương lẫn đa phương, ví dụ đối thoại chính sách quốc phòng song phương Việt Nam và Úc trước đây thường là cấp thứ trưởng và phối hợp trên các diễn đàn khu vực, ví dụ Diễn đàn bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng ADMM+. Đó là bốn lĩnh vực hợp tác quốc phòng Việt-Úc đã tiến hành trong vòng 10 năm qua. RFI : Kế từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất - Đối tác Chiến lược toàn diện - mối quan hệ này được phát triển như thế nào và mở rộng ra những lĩnh vực nào ?  Nguyễn Thế Phương : Khi Việt Nam và Úc nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện từ tháng 03/2024, điểm được mở rộng hợp tác là thỏa thuận gìn giữ hòa bình, trong giai đoạn hợp tác mới thì sẽ không đơn lẻ mà sẽ mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Trước đây lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tham gia vào hai mảng : quân y và công binh. Đây vốn là hai mảng phi tác chiến và Việt Nam, từ hồi chiến tranh tới giờ, có rất nhiều kinh nghiệm và khả năng thực hiện một cách tốt nhất. Từ 2024 tới nay, Việt Nam và Úc sẽ mở rộng lĩnh vực đó, không chỉ công binh, y tế mà còn cả cảnh sát. Tức là công an Việt Nam tham gia vào gìn giữ hòa bình. Úc cũng sẽ tham gia vào quá trình huấn luyện lực lượng đó. Hợp tác quân chủng giữa hai bên cũng được mở rộng, gia tăng hoạt động giao lưu trao đổi kinh nghiệm cụ thể, phòng không, không quân, đặc biệt là biên phòng và cảnh sát biển. Bởi vì Việt Nam ưu tiên sử dụng những lực lượng phi tác chiến trong bối cảnh mở rộng ngoại giao quốc phòng, trong đó biên phòng và cảnh sát biển là hai lực lượng có thể đi đầu trong mảng này. Ngoài ra, Việt Nam còn mở rộng tham gia vào một số cuộc tập trận đa phương mà Úc tham gia. Đọc thêmNhững kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc Và cuối cùng là mở rộng sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống, ví dụ an ninh hàng hải và thúc đẩy luật pháp quốc tế, tôn trọng UNCLOS 1982, tăng cường nhận thức hàng hải ở Biển Đông, tăng cường hợp tác trong việc thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát Việt Nam và Úc, có thể cải thiện an ninh mạng và công nghiệp quốc phòng. Đây là một mảng mới tại vì thật ra công nghiệp quốc phòng Úc, tính đến thời điểm hiện tại cũng không nổi bật lắm so với một số nước phát triển khác như Ấn Độ, nhưng vẫn có những điểm mà hai bên có thể hợp tác được. Tiếp theo là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh biên giới cũng được hai bên đẩy mạnh. Và cuối cùng là cứu hộ cứu nạn vì biến đổi khí hậu. Trong khoảng thời gian gần đây, hai bên tăng cường hợp tác mảng này, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, cải thiện năng lực cứu hộ cứu nạn cho cả hai nước. RFI : Nhân chuyến công du nước Úc của ông Tô Lâm, hai nước cũng đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác thực thi pháp luật hàng hải, tăng cường hợp tác quân sự. Vậy trong thời gian tới, sự hợp tác này sẽ được phát triển theo những hướng nào ?  Nguyễn Thế Phương : Hai nước đã trao đổi các văn kiện hợp tác quan trọng, nhất là một biên bản ghi nhớ - MOU về hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát biển và biên phòng Việt Nam với lại lực lượng quản lý biên giới Úc. Thứ hai là tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng cập nhật, xác lập một bước phát triển nguyên tính bản lề về định hướng quốc phòng giữa Việt Nam và Úc trong thời gian tới. Ở đây sẽ có một số điểm như sau. Thứ nhất là nâng cấp năng lực và thực thi pháp luật hàng hải. Trọng tâm sẽ là tăng cường những hoạt động giao lưu giữa hai bên, và đặc biệt là chia sẻ về khả năng hợp tác tác chiến và vận hành giữa lực lượng cảnh sát biển, biên phòng Việt Nam và lực lượng quản lý biên giới Úc, chia sẻ thông tin tình báo hàng hải, phối hợp tuần tra chống đánh bắt cá trái phép và đặc biệt là xử lý di dân bất hợp pháp. Cụ thể, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực giám sát không gian biển, thông qua các chương trình trong khuôn khổ đối tác hàng hải Úc và Đông Nam Á. Và Úc cũng sẽ giúp cho Việt Nam giám sát tốt hơn các hoạt động ở vùng biển tranh chấp trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Đọc thêmHợp tác an ninh hàng hải giữa Úc với Việt Nam sẽ “không phô trương” như với Philippines Điểm thứ hai là cứu hộ cứu nạn và hỗ trợ thảm họa, cũng sẽ được đẩy mạnh trong tương lai, liên quan tới hoạt động huấn luyện và diễn tập chung. Tại sao điểm này là điểm khá quan trọng ? Bởi vì quân đội Việt Nam và quân đội Úc cũng sẽ mở rộng quy mô các cu
Việt Nam: Tìm giải pháp phù hợp cho an toàn thực phẩm tại các chợ truyền thống
2026/08/10
Như mọi năm, ngày 07/06/2026 là Ngày An toàn Thực phẩm Thế giới, một dịp để các nước thúc đẩy các giải pháp hướng tới một hệ thống thực phẩm an toàn hơn cho người dân. Nhân ngày này, bà Angela Pratt, trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới WHO tại Việt Nam, đã kêu gọi Việt Nam “tiếp tục tăng cường các thực hành vệ sinh tốt và chế biến, bảo quản thực phẩm an toàn, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, mở rộng ứng dụng các công nghệ truy xuất nguồn gốc thực phẩm, tạo thêm bằng chứng khoa học thông qua nghiên cứu và thúc đẩy các chính sách hiệu quả hơn.” Đối với Việt Nam, một trong những vấn đề đang được đặt ra ngày càng cấp thiết đó là bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ truyền thống. Hầu như ai cũng biết là thịt cá được bán tại các chợ truyền thống khó mà bảo đảm được vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng vì giá rẻ hơn siêu thị nên nhiều người có thu nhập thấp vẫn phải mua tại đây. Vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam cũng là một lĩnh vực nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), đặc biệt là về thịt heo ở các chợ này. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 06/07/2026, ông Nguyễn Việt Hùng, giám đốc khu vực châu Á của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), cho biết: "Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI ở Việt Nam làm việc rất chặt chẽ với các đối tác ở Việt Nam, chủ yếu là các cơ quan nghiên cứu thuộc bộ Nông Nghiệp và bộ Y Tế. Những đóng góp của chúng tôi chủ yếu là làm nghiên cứu để tìm ra được bằng chứng, để biết được những vấn đề ô nhiễm thực phẩm xảy ra ở đâu là quan trọng nhất và phát triển những biện pháp can thiệp đơn giản và giá rẻ để cải thiện được tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống và ở các lò giết mổ nhỏ lẻ ở Việt Nam. Hy vọng là những bằng chứng và những sáng kiến về cải thiện an toàn thực phẩm sẽ được nhân rộng ra ở các địa phương. Hiện tại chúng tôi có làm những can thiệp ở năm tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội, sau đó là Huế, Cần Thơ và  Đồng Nai, tập trung vào các chợ truyền thống." Về tình hình vệ sinh thực phẩm tại các chợ truyền thống ở Việt Nam, ông Nguyễn Việt Hùng ghi nhận: “Ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển nói chung, phần lớn thực phẩm được bán ở các chợ truyền thống. Trong nghiên cứu của chúng tôi ở các nước đang phát triển, chủ yếu là các nước ở châu Á và các nước châu Phi, chợ truyền thống thực ra là một từ chung để chỉ những nơi mà người ta thường bày bán những thực phẩm tươi sống và một trong những đặc trưng chính ở các chợ này là tình hình vệ sinh không được tốt, cũng như cơ sở hạ tầng thường không được tốt để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nó khác một chút so với những hệ thống siêu thị, nơi mà các cơ sở hạ tầng được đảm bảo tốt hơn cho an toàn thực phẩm. Về các chợ truyền thống ở Việt Nam, chính sách của Việt Nam là phần lớn các chợ đều được các cơ quan quản lý địa phương để ý và người ta thành lập các ban quản lý chợ. Tuy nhiên, những vấn đề mất an toàn thực phẩm vẫn thường xuyên diễn ra. Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI cùng với các đối tác ở Việt Nam tập trung nghiên cứu về vấn đề mất an toàn thực phẩm chủ yếu ở chuỗi giá trị thịt heo, bởi thịt heo là một thực phẩm mà người Việt Nam sử dụng rất nhiều. Phần lớn thịt heo ở Việt Nam là được bày bán ở các quầy chợ truyền thống này. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng các mẫu thịt lợn được thu thập ở các chợ truyền thống có tỷ lệ nhiễm vi khuẩn gây bệnh như Salmonella còn tương đối cao: Từ khoảng 30 đến 70% số mẫu được thu thập ở các chợ truyền thống là có vi khuẩn gây bệnh Salmonella.  Đấy là ở chợ truyền thống. Nếu quay ngược lại chu trình sản xuất, về các lò mổ ở Việt Nam, ngoài một số nhỏ là lò mổ tập trung hiện đại,  phần lớn là những lò mổ truyền thống. Người ta giết mổ thịt lợn ở dưới sàn nên điều kiện vệ sinh không được tốt và quá trình lây nhiễm chéo vi sinh vật trong các lò mổ đó cũng thường xuyên diễn ra. Và cuối cùng, khi chúng ta có thịt lợn từ lò mổ mang lên chợ bày bán cho người dân mang về ở hộ gia đình tiêu thụ, việc có đảm bảo được an toàn thực phẩm hay không lại phụ thuộc vào khâu chế biến thực phẩm ở các hộ gia đình. Chúng tôi đã làm nghiên cứu tính ra được một số nguy cơ lây nhiễm chéo ở hộ gia đình và cũng đưa ra những khuyến cáo làm thế nào để chuỗi sản xuất thịt heo ở Việt Nam nói chung được cải thiện tốt hơn qua việc cải thiện vệ sinh từ trang trại đến lò mổ, đến chợ và đến việc chế biến thực phẩm, cũng như tiêu thụ tại hộ gia đình. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng ô nhiễm thực phẩm chủ yếu là ở các quầy thịt heo ở Việt Nam, nếu không được xử lý ở góc độ vệ sinh và không được nấu chín trước khi tiêu thụ, thì nó sẽ gây ra những bệnh truyền lây qua thực phẩm cho người tiêu dùng. Vi khuẩn Salmonella là một trong những vi khuẩn gây bệnh chính ở các loại thịt nói chung và đặc biệt là thịt lợn, sẽ gây ra bệnh tiêu chảy và những bệnh liên quan nếu không được được xử lý. Nghiên cứu cách đây mấy năm trước của chúng tôi ước lượng khoảng 17% số người ăn thịt heo có thể có vấn đề về sức khỏe, bị ốm do việc chế biến thịt heo ở Việt Nam, do lây nhiễm chéo ở hộ gia đình." Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 6 vừa qua, chợ Tân Mỹ, thuộc phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh đã khai trương 2 quầy thịt đầu tiên tại chợ truyền thống được phép sử dụng bộ nhận diện thương hiệu "Tick xanh trách nhiệm". Cho tới nay, các sản phẩm mang nhãn "Tick xanh trách nhiệm" chủ yếu được phân phối qua hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi. Kế hoạch theo dự kiến sẽ được mở rộng ra hơn 400 chợ truyền thống trên toàn TP Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Việt Hùng đánh giá về kế hoạch này: "Tôi nghĩ đây là một việc làm rất tốt của Thành phố Hồ Chí Minh. Thực ra khi làm nghiên cứu ấy thì chúng tôi thấy ở các chợ đầu mối, người ta quản lý tương đối tốt bằng việc truy xuất nguồn gốc, tức là những lô thịt heo được nhập vào các chợ bán thực phẩm ở Thành phố Hồ Chí Minh, như ở chợ Bình Điền mà chúng tôi theo dõi, đều có hệ thống kiểm soát để biết được thịt heo đó đến từ trang trại nào, đến từ lò mổ nào và có được cấp giấy phép lưu hành hay không. Việc truy xuất nguồn gốc giúp cho chúng ta đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam. Tôi nghĩ đây là một mô hình tốt nên được nhân rộng. Tuy nhiên, ở những chợ nhỏ lẻ hơn thì tôi không biết có áp dụng được như ở các chợ đầu mối lớn hay không. Luật An toàn Thực phẩm lần đầu tiên được công bố, đưa vào hoạt động năm 2010 và sau 16 năm triển khai thì đang được nhà nước Việt Nam xem lại. Theo tôi được biết là sắp tới đây Luật An toàn Thực phẩm sửa đổi sẽ được thảo luận ở Quốc Hội và nhấn mạnh rất nhiều đến vấn đề truy xuất nguồn gốc trong an toàn thực phẩm." Nhưng theo ông Nguyễn Việt Hùng, các biện pháp được đưa ra để cải thiện tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương: "Việt Nam có chính sách rất rõ ràng về tiêu chuẩn của những chợ, những quầy bán thịt. Ví dụ, bàn phải cao bao nhiêu so với mặt đất, cấu trúc ra sao, để góp phần bảo đảm được an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, trong thực tế khi chúng tôi đi làm nghiên cứu hoặc thăm các chợ truyền thống thì phần lớn ở các chợ, người ta chưa chấp hành những quy định của nhà nước về an toàn thực phẩm. Với một cái thực hành trên diện rộng như thế thì kỳ vọng mọi người đều thay đổi một cách toàn diện ngay lập tức là rất khó và không thực tế, trong hoàn cảnh Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung. Chính vì thế, khi triển khai những chính sách như thế này, tôi nghĩ là phải cần một sự can thiệp đồng bộ và phải có sự
Du lịch golf : Động lực cho nền kinh tế, phương tiện ngoại giao của Việt Nam
2026/08/03
Tổng thống Mỹ Donald Trump có sẽ đến thăm sân golf mang tên ông ở Hưng Yên vào năm 2027 nhân Hội nghị APEC tại Phú Quốc tháng 11? Dự án sẽ kịp hoàn thành đúng thời điểm, do đang bị chậm tiến độ vì bất đồng giữa người dân và chính quyền về giải phóng mặt bằng? Sân golf Khoái Châu - Trump International Hưng Yên, trị giá khoảng 1,5 tỷ đô la, được cho sẽ góp phần tăng trưởng du lịch hạng sang - lĩnh vực được Việt Nam tập trung đầu tư từ nhiều năm nay. Trong 9 năm liên tiếp (2017-2025), Việt Nam được World Golf Awards vinh danh là “Điểm đến golf tốt nhất châu Á” và hai lần được trao danh hiệu “Điểm đến golf tốt nhất thế giới” năm 2019 và 2021. Doanh thu từ du lịch golf tăng gần gấp đôi trong vòng 3 năm, từ 600 triệu đô la năm 2022 lên hơn 1 tỷ đô la năm 2025. Cho dù hiện chiếm khoảng 2,7% tổng doanh thu du lịch quốc gia, theo cục trưởng Cục Du Lịch Việt Nam, nhưng các nhà hoạch định quyết định biến golf thành động lực mới đưa du lịch Việt Nam vươn tầm quốc tế. Số sân golf sẽ tăng lên thành 200 vào năm 2030, hơn gấp đôi so với con số 80 sân đạt chuẩn quốc tế hoạt động năm 2025. Ông Spencer Robinson, trưởng bộ phận Truyền thông, Liên đoàn Golf Châu Á - Thái Bình Dương, cũng bất ngờ trước những mục tiêu đầy tham vọng của Việt Nam khi trả lời hãng tin Mỹ AP : “Hành trình quả là đáng kinh ngạc khi Việt Nam đạt được những thành tựu như hiện nay trong một thời gian ngắn. Tôi đi khắp thế giới và mọi người đều nói về sự phát triển của golf ở Việt Nam. Tôi nghĩ có thể nói đây là thị trường golf sôi động nhất thế giới hiện nay. Rất nhiều kiến ​​trúc sư sân golf muốn đến đây, các nhà sản xuất gậy golf, bất cứ ai trong ngành công nghiệp golf đều rất quan tâm, vì họ thấy sự phát triển của Việt Nam. Họ nghe nói chính phủ muốn xây dựng thêm 100 sân golf nữa trong 5, 10 năm tới”. Đọc thêmDu lịch Việt Nam đủ nguồn lực chuyên môn cao để hướng đến khách “giàu” ? Du lịch golf thúc đẩy kinh tế địa phương Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, du lịch golf được xác định “là một sản phẩm du lịch cao cấp, một ngành kinh tế văn hóa thể thao du lịch tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng xanh, phát triển vùng và quảng bá hình ảnh quốc gia”. Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng chuỗi điểm đến golf mang bản sắc Việt Nam, đào tạo nhân lực, tổ chức sự kiện quốc tế. Thế mạnh của Việt Nam là có hơn 3.000 km đường bờ biển và cảnh quan đa dạng, được coi là những điều kiện tự nhiên lý tưởng cho một sân golf đẹp, thú vị trên địa hình nhấp nhô. Các khu vực sân golf được trải dài từ bắc xuống nam và phát triển mạnh mẽ ở miền trung với lợi thế về địa hình kết hợp đồi núi và biển, như trường hợp sân golf Hoiana Shores, theo giải thích của tổng giám đốc Wee Peng Siong : “Nhà thiết kế sân golf Robert Trent Jones, Jr. đã sử dụng khẩu hiệu “Bản giao hưởng của golf”, có nghĩa là mọi thứ đều hòa quyện với thiên nhiên và nhịp điệu của thiên nhiên. Giống như một bản giao hưởng vậy. Dựa trên ý tưởng đó, người chơi golf có thể quan sát các cồn cát và địa hình, độ nhấp nhô của nó. Tất cả đều được bố trí một cách tỉ mỉ”. Dù đi sau nhiều nước về du lịch golf nhưng Việt Nam đang rút ngắn khoảng cách trong thời gian rất ngắn, một phần nhờ thu hút được những tên tuổi lớn trong lĩnh vực kiến trúc golf thế giới (Like Donald, Colin Montgomerie, Sir Nick Faldo, Greg Norman và Robert Trent Jones Jr., hiện nằm trong trong liên minh Việt Nam Golf Coast, VGC). Hệ thống gồm BRG Danang Golf Resort, Montgomerie Links, Ba Na Hills, Laguna Lăng Cô và Hoiana Shores đã giúp Đà Nẵng - Hội An được vinh danh là “Thành phố golf tốt nhất châu Á 2025”. Ngoài ra, để tiếp tục khẳng định thương hiệu và nâng vị thế của du lịch golf Việt Nam, huyền thoại golf người Úc Greg Norman tiếp tục được bổ nhiệm làm đại sứ Du lịch Việt Nam nhiệm kỳ 2025-2030. Theo bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam, khách chơi golf có mức chi tiêu trung bình gấp 6 lần so với khách thường. Để đáp ứng nhu cầu của khách, xung quanh sân golf là một khu phức hợp dịch vụ, khách sạn sang trọng, nhà hàng, spa và thương mại cao cấp, theo nhận định của Nguyễn Đức Long, một người chơi golf : “Họ (Hoiana) có 4 khách sạn, hơn 1.000 phòng, đầy đủ cơ sở vật chất về golf để cho mình có một gói trải nghiệm khác hơn so với những sân khác. Vì ngành golf phát triển như vậy thì chắc chắn đây là một lựa chọn rất là thú vị để mọi người có thể tới trải nghiệm”. Đọc thêmHưng Yên muốn giảm tiền đền bù trong dự án sân golf của Trump Organization Không chỉ chơi golf, họ còn có nhu cầu trải nghiệm du lịch tại điểm đến. Và đây là điểm giúp thúc đẩy nền kinh tế địa phương, góp phần tạo việc làm, đặc biệt là ở các khu vực ngoài các trung tâm đô thị lớn, theo nhận định của ông Vũ Nguyên, tổng thư ký Hiệp hội Golf Việt Nam (VGA) : Khi một sân golf được phát triển ở một địa phương, nó giúp thúc đẩy nền kinh tế tại địa phương đó và cũng sẽ tạo ra hàng ngàn việc làm. Chính vì vậy, những năm gần đây, golf được đón nhận rất nhiều. Những khu vực xung quanh sân golf, các hệ thống từ nhà hàng cho đến khách sạn cũng được phát triển và giúp cho ngành du lịch nói chung. Đứng đầu số lượng khách nước ngoài đến du lịch golf tại Việt Nam năm 2025 là Trung Quốc (3,8 triệu lượt, tăng 43% nhờ chi phí hợp lý và khoảng cách địa lý gần), tiếp theo là Hàn Quốc (3,2 triệu lượt, đóng góp lớn nhất vào doanh thu cao cấp). Ngoài ra còn có du khách golf Úc, Nhật Bản, Đài Loan, cùng với lượng khách mới nổi từ châu Âu và Ấn Độ. Việt Nam cũng muốn trở thành điểm đến không thể thiếu của khoảng 1,9 triệu golf thủ di chuyển trên toàn cầu hàng năm. Ngoại giao sân golf Bên cạnh giá trị kinh tế và du lịch, golf còn được sử dụng làm công cụ ngoại giao, đặc biệt là dưới thời tổng thống Mỹ Donald Trump. Sean Fergusson, thư ký golf và kinh doanh tại "Fore" Business (Anh), được trang Franceinfo trích dẫn, phân tích : Donald Trump tận dụng những cơ hội này để truyền đạt thông điệp đến người đối thoại. Và các chính trị gia khác nghĩ rằng nếu họ có thể gặp ông ấy trong một buổi chơi golf, ông Trump có thể sẵn sàng thảo luận về những chủ đề mà ông ấy sẽ không nói trước ống kính máy quay. Nhật Bản là một ví dụ tiêu biểu về khai thác “ngoại giao golf” trong quan hệ với Mỹ. Ngày 11/02/2017, khoảng hai tuần sau khi ông Trump nhậm chức tổng thống, thủ tướng Shinzo Abe đến Florida, cùng chơi golf 18 hố nhằm củng cố quan hệ song phương vì ông Trump luôn chỉ trích đồng minh Đông Á chi ít cho quốc phòng. Sau buổi chơi, ông Trump cho biết đã “hiểu” thủ tướng Abe hơn. Sau khi ông Abe mất, Tokyo từng nhờ tỉ phú Masayoshi Son, nhà sáng lập kiêm tập đoàn công nghệ SoftBank và là bạn chơi golf thân thiết của ông Trump, để tiếp cận ông. Thủ tướng đương nhiệm Takaichi còn tặng tổng thống Trump một cây gậy golf của cố thủ tướng Abe. Đọc thêmDự án tỷ đô tại quê nhà của tổng bí thư Tô Lâm, lá bài trói buộc Trump của Việt Nam ? Trong nhiệm kỳ hiện nay, ông Trump thường xuyên “bàn đại sự” trên sân golf. Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb, một người chơi golf, trở thành “cầu nối” giữa tổng thống Mỹ và châu Âu. Chơi golf với ông Trump được xem là nằm trong “vòng thân cận” với lãnh đạo Mỹ. Việt Nam chưa có cơ hội này. Tuy nhiên, ít ngày trước ngày lễ nhậm chức của tổng thống thứ 47, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, chủ tịch hãng hàng không Vietjet, đến tư dinh Mar-a-Lago và được ông Trump hướng dẫn chơi golf. Chuyến đi được công bố là hoạt động của Vietjet nhưng không rõ có nhận được sự ủy nhiệm nào đó từ chính quyền hay không. Nông dân trả phí cho ngoại giao sân golf Trump International Hưng Yên ? Liệu sân golf ở quê hương tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm có thể trở thành cầu nối với chính quyền Trump ? Tháng 09/2024, trong thời gian tranh cử tổng thống, ông Donald Trump dự lễ ký thỏa thuận hợp tác xây dựng giữa Trump Organization với Tổng công ty Phát t
Bảo tàng sôcôla Việt Nam: Tái hiện hành trình của hạt cacao từ Trung Mỹ đến Việt Nam
2026/07/27
Sôcôla là một món ăn nay đã quá quen thuộc với người Việt Nam, nhưng chắc là không có mấy ai hiểu rõ về nguồn gốc của hạt cacao làm nên sôcôla, về lịch sử phát triển của sôcôla, cũng như về những đặc tính của cacao được trồng tại Việt Nam. Chính là nhằm mục đích quảng bá những kiến thức về sôcôla và cacao mà ông Francesco Trần Văn Liêng, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Ca cao Việt Nam (Vinacacao), đã lập ra La Maison du chocolat, Bảo tàng sôcôla Việt Nam. Nằm tại Bình Hưng, ngoại ô Sài Gòn, với diện tích khoảng 4.000m², được khai trương vào tháng 4 vừa qua, La Maison du Chocolat trước hết đưa chúng ta trở về nguyên thủy của cây cacao ở vùng Trung Mỹ, được thể hiện qua bức tượng của một vị thần. Hướng dẫn chúng tôi trong một chuyến tham quan riêng, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích:  “Đây là thần Ek Chuah. Người Maya và ở Trung Mỹ tự hào đây là thánh phù hộ cho ngành ca cao của họ ngay từ đầu và thực chất thì cây ca cao xuất phát từ Trung Mỹ, nơi mà văn minh của người Maya cũng gắn liền với văn minh của cây ca cao. Họ tự hào đó là “food of the God”, “thực phẩm Trời cho”. Họ sống vui vẻ, hòa mình với thiên nhiên và xây dựng một xã hội khá vững vàng trên nền tảng là hạt cacao và văn hóa xung quanh hạt cacao đó. Câu chuyện bắt đầu khi Christopher Columbus sang. Thứ nhất rõ ràng là Christopher Columbus đi với tư cách là hòa bình, nhưng thực sự cái hòa bình đó cũng ngắn hạn thôi. Thực tế là triều đình Tây Ban Nha gửi một đoàn quân sang và cuộc diệt chủng đầu tiên trên thế giới là diệt chủng người da đỏ và bây giờ người da đỏ đã tản mát ở Mêhicô, Honduras, thậm chí là ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Nhưng hạt cacao không bị khuất phục, hạt cacao sang châu Âu để tái chinh phục người châu Âu. Lúc đầu nó được dùng trong giới quý tộc và tăng lữ thôi, tại vì hạt này ngon quá, khi ăn thì người ta cảm thấy hưng phấn, vui vẻ. Nhưng nó được giữ rất kín cho đến khi cha con Joseph Fry ở Anh bắt đầu làm ra thanh sôcôla đầu tiên. Khi làm được thanh sôcôla đầu tiên rồi thì giới bình dân mới tiếp cận. Và khi tiếp cận rồi thì nó bùng nổ thành một thức uống chinh phục cả châu Âu.” Theo dòng lịch sử của hạt cacao, được tái hiện trên những bức tường, La Maison du chocolat đưa khách tham quan đến những quốc gia tiêu biểu của ngành sôcôla thế giới để hiểu được tính chất phong phú, đa dạng của sản phẩm này. Ông Francesco Trần Văn Liên cho biết:  “La Maison du chocolat cố gắng tái hiện lại những mẫu sôcôla thời xưa hoặc thời cận đại của các dân tộc trên thế giới. Ví dụ người Đan Mạch hay dùng “creamy milk”. Họ rất thích sữa, cho nên nhiều khi mình khó phân biệt là ăn sôcôla hay ăn sữa! Rồi tới praline của Bỉ. Người Bỉ thì rất hãnh diện là đã đưa hạt vào và làm cho sôcôla trở nên ngon hơn, thơm hơn và có nhiều dinh dưỡng hơn. Người Thụy Sĩ thì đặc biệt thích ăn sôcôla rất mịn. Và đây là thanh sôcôla đầu tiên mà mà gia đình người Anh nhà Fry làm. Ban đầu nó không ngon, đắng nghét, tại vì không có sữa.  Chúng tôi muốn khách tham quan hiểu được trên thế giới không phải chỉ có một cách ăn sôcôla, mà rất nhiều cách ăn. Ví dụ người Hà Lan có hot dark chocolate mà họ tự hào, nhưng phải là “pure”, tức là rất là tinh túy về hương vị sôcôla. Pháp cũng làm ra được praline giống như Bỉ, vì Pháp và Bỉ thì văn hóa gần nhau. Và trong thế giới ẩm thực của Pháp thì có quá nhiều sáng tạo. Đế quốc Ottoman là một đế quốc huy hoàng của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng họ thích ăn với pistachio, tức là hạt dẻ cười. Hạt dẻ cười cũng là một vật phẩm rất quý tại địa phương của họ. Ý thì tự hào là họ có Gianduja, pha sôcôla  ới hạt hazelnut ( hạt phỉ ), ra một thương hiệu riêng đó là Gianduja.  Tôi muốn giới thiệu với anh khu vực Trung Mỹ. Đầu tiên, chữ "sokalat" là do người Maya đặt ra và họ cũng có một thức uống rất điển hình thời đó, cách đây ngàn năm. Lúc đó công nghệ đâu có mạnh để nghiền rất mịn đâu. Họ chỉ là đập dập ra là uống. Nhưng đó là một thức uống bồi bổ sức khỏe cho những binh lính da đỏ để chiến đấu rất mãnh liệt với người Tây Ban Nha.” Đến với La Maison du chocolat, khách tham quan sẽ có dịp tìm hiểu về lịch sử của ngành cacao Việt Nam, để biết rằng loại cây này cũng chính là do người Pháp du nhập vào Việt Nam, theo lời ông Francesco Trần Văn Liêng: “Đầu thế kỷ 20, khoảng năm 1900, có một người Pháp tên là Jean-Baptiste Louis Pierre đem cây ca cao vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn cùng thời với cây cà phê và cây cao su. Khi đưa vào Thảo Cầm Viên thì thấy khá là ổn và ông tiếp tục phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đất tốt, mưa nhiều, có nhiều tưới tiêu và và không có nhiều biến cố như bảo tố. Tại vì cây ca cao rất là cao, lá rất là to, gió nhiều nó sẽ gãy. Nhưng miền Nam cũng là vùng có nhiều chiến tranh, loạn lạc, người dân di cư rất nhiều, cho nên cây ca cao không phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 20. Mãi tới khoảng năm 2000, người Hà Lan bắt đầu viện trợ lại cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long để tái lập lại các vườn ca cao xen với vườn dừa.  Cây cacao thật ra là cây ăn trái, không phải là cây công nghiệp như cà phê. Cacao trước hết ra trái, trái phải được ủ, ủ xong mới lấy hạt để làm sôcôla. Để trái tốt thì đất phải tốt. Đồng bằng sông Cửu Long được xem là đất rất tốt. Và thứ hai là phải được tưới tiêu rất nhiều. Nhiều người lầm tưởng cây ca cao giống cà phê, nhưng thực sự nó rất là khác. Cây ca cao có thể sống tới 40 năm, thành cây cổ thụ rất lớn, như xoài, mít, mận, ổi. Đó lý do tại sao miền Nam có vẻ thích hợp hơn. Với lại cây cacao mà bị khí hậu lạnh thì nó chết. Gặp lạnh 18 độ thì nó sẽ đứng, rồi sau đó nếu nhiệt độ xuống nữa thì nó có thể bắt đầu rụng lá và chết.”  Bảo tàng sôcôla cũng lưu giữ những dấu ấn của doanh nghiệp người Bỉ Ghicha Safarian, người đã thành lập công ty Puratos Grand-Place Việt Nam, hoạt động tại Việt Nam từ năm 1994. Đến  đầu năm 2011, Puratos Grand-Place Việt Nam đã ra mắt loại sôcôla đầu tiên được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam, từ khâu trồng ca cao cho đến thành phẩm cuối cùng. Cho đến nay, đây là nhà sản xuất đầu tiên tại Việt Nam tích hợp chuỗi cung ứng ca cao vào quy trình sản xuất của mình. Nhưng so với những “cường quốc cacao” như Côte d’Ivoire và Ghana, thế mạnh của cacao Việt Nam là ở những mặt nào, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích:  “Hiện nay Côte d’Ivoire và Ghana ở Phi Châu vẫn chiếm khoảng 75% sản lượng hạt cacao trên thế giới. Nhưng Côte d’Ivoire và Ghana thì ít sông ngòi và ít màu mỡ, cho nên hạt cacao có mùi hương nutty ( hương hạt dẻ ), như mùi gỗ, mùi mật ong, cũng ngon. Nhưng cacao socola Việt Nam được trồng ở đồng bằng, đất tốt mưa nhiều, phù sa, cho nên hạt to hơn, cơm bao nhiều hơn và hậu vị hơi chua ngọt, giống như cà phê arabica thì hơi chua một chút, cho nên nó mang tính chất fruity và độ thơm của nó thì cũng phản ánh vùng đất. Cho nên cacao Việt Nam có khuynh hướng dùng để làm sôcôla, còn cacao của Côte d’Ivoire và Ghana thì có khuynh hướng nghiền ra để làm bột. Tóm lại, cacao Việt Nam nổi bật hơn ở những điểm sau đây: fruity, mùi sôcôla nhiều hơn, học hỏi được cách lên men của Bỉ cho nên cho vị men thơm hơn, nhưng bù lại thì sản lượng thấp hơn và vì diện tích canh tác ít thành ra sự phát triển chậm chạp hơn. Thống trị trên thế giới về số lượng vẫn là Côte d’Ivoire và Ghana. Nhưng nhiều người làm chocolate boutique ở Bỉ,  Pháp, Hà Lan mua hạt cacao của Việt Nam để làm hương vị riêng của họ. Giá của hạt cacao Việt Nam luôn giữ cao bởi vì cũng có nhu cầu. Riêng Vinacacao có những dòng sản phẩm rất dễ ăn, như là cốm gạo Hà Nội, sôcôla ngọt, hoặc là sôcôla yaourt. Ngoài hữu cơ ( organic ), dòng sản phẩm của Vinacacao còn được gọi là single origin, tức là 100% sôcôla ở Việt Nam. Giống như rượu vang Pháp, nho trồng ở đâu thì nó quyết định vị ngon của nó. Hiện nay Vinacao phát triển dòng mạnh nhất vừa là hữu cơ, vừa có
Việt Nam : Bộ Công An có vai trò ngày càng lớn trong bộ máy nhà nước
2026/07/20
"Bộ Công An là cơ quan có ảnh hưởng lớn nhất tại Việt Nam. Trong bộ máy Nhà nước, cảnh sát và các cơ quan tình báo được coi là những công cụ chủ yếu để bảo tồn chế độ". Bộ Công An cũng được lợi nhất trong cuộc cải cách hành chính 2025, do ông Tô Lâm khởi xướng. Nhìn chung, bộ Công An đang tăng cường tự chủ so với bộ Quốc Phòng, một đối thủ lớn trong phát triển công nghiệp và kinh tế. Vai trò của bộ được tăng cường trong nhiều lĩnh vực, mở rộng sang hoạt động kinh tế, truyền thông (MobiFone), mua sắm trang thiết bị… Từ cuối năm 2025, vai trò của bộ Công An còn được mở rộng ra quy mô thế giới, thể hiện qua Đối thoại 3+3 với Trung Quốc, bao gồm quan chức ngoại giao, quân sự và công an. Đây là phần giải thích : “Bộ Công An đóng vai trò chính trị như thế nào tại Việt Nam?” nằm trong 100 câu hỏi trong cuốn sách mới Le Việt Nam. Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới) của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).  Nhà nghiên cứu Benoît de Tréglodé trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 05/2026, ông đã xuất bản cuốn sách mới có tựa đề, tạm dịch Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới. Trong 100 câu hỏi. Trong phần giới thiệu, ông viết : Có một thỏa ước ngầm đang định hình mối quan hệ giữa Nhà nước-đảng và xã hội : làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia vào lĩnh vực chính trị. Gần đây hơn, chế độ đã xây dựng thêm phần thứ hai cho khế ước xã hội này : Nhà nước-đảng bảo đảm an ninh, với cái giá là tăng cường kiểm soát xã hội. Có thể nhận thấy ở đây có hai ý nghĩa : “an ninh” và “tăng cường kiểm soát xã hội”. Vậy trước tiên, “an ninh” đang được chính quyền hiện tại diễn giải như thế nào? “An ninh” đóng vai trò gì trong chính sách nhà nước hiện nay ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này gắn với một sự kiện diễn ra tại Hà Nội vào đầu tháng 6, khi tổng bí thư Tô Lâm có buổi làm việc với bộ trưởng Công An Lương Tam Quang. Trong cuộc gặp này, ông nhấn mạnh rằng quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, với mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất 10% - con số gây ấn tượng thực sự - trong nhiệm kỳ 2026-2031, phải đi đôi với việc xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ luật, an toàn và phát triển. Theo định hướng đó, bảo đảm an ninh cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế của Việt Nam được đặt song hành với việc tăng cường an ninh. Đây không phải là một chi tiết nhỏ. Trong thời gian gần đây, hơn 5.000 camera ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã được lắp đặt tại Hà Nội để giám sát an ninh, giao thông và người dân. Cách đây vài ngày, lực lượng An ninh Nhân dân đã nhận Huân chương sao vàng lần thứ tư. Đây là huân chương cao quý nhất, phần thưởng danh dự nhất, ghi nhận những đóng góp và thành tích của lực lượng công an Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng và trật tự công cộng. Vì vậy, thực tế hiện nay là ban lãnh đạo tại Việt Nam, với hạt nhân là ông Tô Lâm, nguyên là tướng công an, cùng các cộng sự thân cận, hầu hết là từ lực lượng công an, xác định công an và an ninh là trụ cột trung tâm trong nhiệm kỳ của tân tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam. RFI : Yếu tố thứ 2 là “tăng cường kiểm soát xã hội”. Hiện tại chúng ta có thể rút ra ghi nhận gì từ điều này ? Benoît de Tréglodé : Đây không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Thực tế, việc tăng cường kiểm soát xã hội và người dân đã diễn ra song hành với tiến trình mở cửa của Việt Nam kể từ khi chính sách Đổi mới được khởi xướng. Năm 2026, Việt Nam kỷ niệm 40 năm thực hiện chính sách mở cửa kinh tế. Ở đây có thể rút ra hai nhận định đáng chú ý. Thứ nhất, Việt Nam đã không ngừng mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, chính trị với bên ngoài. Bên cạnh những đối tác truyền thống như Trung Quốc hay các nước ASEAN, mạng lưới đối tác quốc tế của Việt Nam ngày càng phong phú và rộng lớn hơn. Thứ hai, quá trình mở cửa kinh tế từ cuối những năm 1980 đã làm dấy lên những lo ngại trong giới lãnh đạo Việt Nam về nguy cơ tác động đến sự ổn định xã hội, cũng như sự gắn kết của giới trẻ với hệ thống. Vì vậy, đối với họ, mở cửa phải luôn đi đôi với kiểm soát và kỷ luật tập thể. Chính cách tiếp cận này lý giải tại sao hai yếu tố này - quá trình phát triển kinh tế và tăng cường kiểm soát - luôn đi liền với nhau. Tiếp theo đó, chúng ta thấy vai trò của lực lượng công an ngày càng được củng cố trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Xu hướng này trở nên rõ nét hơn sau Đại hội đảng Cộng Sản lần thứ XIII cách đây 5 năm và đặc biệt kể từ khi ông Tô Lâm tiếp tục củng cố quyền lực tại Đại hội Đảng XIV vào đầu năm nay, đồng thời giữ hai chức vụ chủ tịch nước và tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Như vậy, lực lượng an ninh được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, với việc siết chặt kiểm soát trật tự xã hội thông qua hàng loạt công cụ pháp lý. Tiêu biểu là Luật An ninh mạng nổi tiếng, được hai bộ Công An Trung Quốc và Việt Nam cùng nhau suy nghĩ để soạn thảo, có hiệu lực ngày 01/01/2019, cùng với việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực an ninh mà giới lãnh đạo Việt Nam đánh giá đặc biệt hiệu quả. RFI : Phải chăng công việc này đã có thể thực hiện được là nhờ bộ Công An ? Trong cuốn sách, ông đề cập ở câu hỏi số 41 đến “vai trò chính trị” của bộ này. Vậy cụ thể “vai trò chính trị” đó là gì ? Benoît de Tréglodé : Có hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, đó là việc ông Tô Lâm cùng các cộng sự từng công tác tại bộ Công An hiện đang nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm hơn là dần dần, thông qua các hoạt động liên quan đến công chúng, chủ quyền, an ninh và thậm chí cả đối ngoại, vai trò ngày càng nổi bật của chủ thể chính trị mới trong bộ máy nhà nước Việt Nam đã được thể hiện rõ : lực lượng cảnh sát và công an. Tôi lấy một ví dụ rất cụ thể là quan hệ song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc, hoặc với Nga, Lào, Cam Bốt, hoặc một số nước láng giềng khác. Trước đây, các cuộc trao đổi song phương thường được tổ chức theo cơ chế 2+2 với đại diện từ bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng. Tuy nhiên, trong vài tháng gần đây, cơ chế này đã được mở rộng thành 3+3, trong đó bộ Công An tham gia với vị thế ngang hàng với hai bộ trên. Điều đó có nghĩa là trong các cuộc gặp giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm thảo luận các vấn đề song phương, bên cạnh các nhà ngoại giao và đại diện quân đội, lực lượng công an của hai nước cũng tham gia vào quá trình trao đổi và xử lý các vấn đề chung. Việc đưa lực lượng công an tham gia ở cấp độ này phản ánh sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Rõ ràng là lãnh đạo Việt Nam đang trực tiếp nhấn mạnh vai trò chính trị quan trọng của lực lượng công an. RFI : Cuốn sách cũng nêu “Việc làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia chính trị”. Tại sao điều này lại quan trọng đối với Nhà nước-đảng ? Liệu thực tế được mô tả trong câu hỏi 30 (Tại sao người Việt Nam lại nói nhiều về tiền bạc?) có phải là cơ sở để thực hiện chính sách “giữ người dân tránh xa chính trị” hay không ? Benoît de Tréglodé : Trong cuốn sách, tôi nhiều lần trở lại với vấn đề này, bởi vì đây là một điểm then chốt để hiểu được sự tồn tại lâu dài của đảng Cộng Sản Việt Nam trong khoảng 40 năm qua. Đó là quá trình chuyển đổi từ một hệ tư tưởng mang tính giáo điều được du nhập từ bên ngoài - ở đây tôi sử dụng từ “giáo lý” (catéchisme) - vốn trong một thời gian dài được thể hiện qua chủ nghĩa Mác - Lênin dưới những hình thức được du nhập, điều chỉnh và thích nghi với bối cảnh văn hóa Việt Nam, sang một mô hình gần gũi hơn với xu hướng phát tri
Du lịch bền vững tại Việt Nam : Khi người trẻ và cộng đồng địa phương trở thành trung tâm
2026/07/13
Trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững ngày càng trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ - Organisation internationale de la Francophonie (OIF) - đang triển khai tại Việt Nam dự án “Điểm đến Sinh thái Tài năng” - Destination Eco-Talent - với mục tiêu kết hợp đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh niên và phụ nữ tại các địa phương, đồng thời thúc đẩy các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, bà Adjara Diouf, điều phối viên của chương trình Thúc đẩy Du lịch Bền vững của OIF chia sẻ về những chia sẻ về những mô hình đang được thử nghiệm tại Việt Nam, các thách thức trên thực địa cũng như tiềm năng của du lịch bền vững trong không gian Pháp ngữ. Adjara DIOUF : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đã khởi động dự án Điểm đến Sinh thái Tài năng vào năm 2024 tại bốn quốc gia : Cabo Verde, Cam Bốt, Comores và Việt Nam. Mục tiêu tổng thể của dự án là góp phần vào khả năng hồi phục và trao quyền cho người dân, đặc biệt là cho giới trẻ và phụ nữ, để giải quyết các thách thức về môi trường, khí hậu, kinh tế và xã hội. Dự án này, được gọi là Điểm đến Sinh thái Tài năng (Eco-Talent), nhằm mục đích tạo ra việc làm và cơ hội thu nhập cho thanh niên, phụ nữ và cộng đồng dân cư sống ở nông thôn và các vùng ven đô thị. Chương trình tập trung vào khả năng tìm việc làm và phát triển nghề nghiệp của người lao động thông qua các sáng kiến ​​giáo dục và đào tạo, hướng tới các nghề trong ngành du lịch bền vững, đồng thời hỗ trợ phát triển và quảng bá các sản phẩm du lịch bền vững. Chương trình cũng nhấn mạnh đến sự phối hợp và kết nối các nỗ lực trong phát triển du lịch bền vững. Tại sao lại là Việt Nam ? Đơn giản là vì, trước hết, chúng tôi có văn phòng đại diện khu vực của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) tại Việt Nam. Vì vậy, việc bắt đầu với quốc gia này là hoàn toàn hợp lý, đặc biệt là vì trụ sở cơ quan của tôi và nhóm điều phối đều được đặt tại Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam là một đất nước tuyệt vời với nhiều tiềm năng trong lĩnh vực du lịch bền vững và du lịch nói chung. RFI : Trong giai đoạn thực hiện, OIF đã phát triển các sáng kiến ​​và mô hình đổi mới nào để thúc đẩy du lịch bền vững ? Adjara DIOUF : Có thể coi dự án Điểm đến Du lịch Sinh thái này là một sáng kiến ​​đổi mới. Thứ nhất, dự án này của OIF triển khai một mô hình đổi mới kết hợp du lịch bền vững và đào tạo. Dự án được triển khai với sự hợp tác của một số trường đại học của Việt Nam, như Đại học Hà Nội, hay Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh … Mô hình này đề xuất các chương trình đào tạo chuyên ngành, tích hợp với hoạt động thực tiễn. Như vậy sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, qua đó có sự hỗ trợ trực tiếp và cụ thể cho các cộng đồng dân cư. Dự án này cũng tích hợp các chương trình đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm thúc đẩy hội nhập nghề nghiệp cho những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, ví dụ như ở các tỉnh. Đào tạo và giáo dục về du lịch bền vững là rất cần thiết. Bởi vì đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch bền vững có thể nâng cao nhận thức của giới trẻ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và trên hết, giúp họ tìm được con đường hướng tới việc làm và hội nhập. Thứ hai, dự án này hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm thực tế. Ví dụ các sáng kiến ​​du lịch cộng đồng với nghề làm nón lá ở Tri Lễ hoặc nghề đan lát ở Bao La, Huế. Những sáng kiến ​​này hoàn toàn do cộng đồng ở địa phương quản lý. Khi loại bỏ các bên trung gian, người dân biến những kỹ năng của họ thành những trải nghiệm tạo ra thu nhập thực sự. Việc các địa phương nắm được chuỗi giá trị như vậy sẽ tạo ra 3 tác động : về kinh tế, thông qua việc tạo ra việc làm ; về xã hội, thông qua việc trao quyền cho phụ nữ và thanh niên; và về môi trường và văn hóa, thông qua việc bảo tồn di sản. Chính bằng cách này, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) mang lại thêm giá trị thực sự, thông qua việc điều phối các đối tác sử dụng tiếng Pháp tham gia vào các sáng kiến ​​này. Hơn nữa, việc sử dụng tiếng Pháp thông qua giao tiếp và thậm chí cả việc học những điều cơ bản về ngôn ngữ cũng mang lại cho các cộng đồng ở địa phương thêm một lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, đây là một mô hình độc nhất, trong đó du lịch bền vững vừa trở thành một công cụ hội nhập kinh tế, vừa trở thành một phương tiện quảng bá cho khối Pháp ngữ tại Việt Nam. Và cuối cùng, để củng cố 2 hướng chủ đạo nói trên, tức là đào tạo và hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch, OIF dự kiến ​mở một trung tâm Điểm đến Du lịch Sinh thái tại Việt Nam trong năm 2026. Trung tâm này sẽ được thiết kế như một trung tâm đa năng thực thụ, với nhiều bên tham gia để thúc đẩy du lịch bền vững. RFI : Bà có thông điệp gì gửi đến những thanh niên muốn tham gia vào lĩnh vực du lịch bền vững ? Adjara DIOUF : Đây là một câu hỏi thú vị. Trước hết, ai cũng biết rằng du lịch bền vững có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế và xã hội, bởi vì tạo ra nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp cho thanh niên, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa. Do nhiều thanh niên và các bên liên quan ở địa phương chưa được thông tin đầy đủ về những cơ hội mà du lịch bền vững mang lại, nên điều cần thiết là phải nâng cao nhận thức và thông tin cho họ về tiềm năng của lĩnh vực này, khuyến khích họ hướng tới lĩnh vực việc làm đầy triển vọng này. Du lịch bền vững có thể thúc đẩy việc làm mới, tạo ra những nghề nghiệp mới và bồi dưỡng tài năng mới cho giới trẻ. Tôi cũng có một số thông điệp khác. Như chúng ta đã biết, khu vực châu Á có sự đa dạng văn hóa rất lớn, với nhiều nền văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ khác nhau, và tôi nghĩ rằng việc hiểu rõ những đặc điểm riêng này là rất quan trọng để tạo ra các sáng kiến ​​du lịch bền vững và tôn trọng cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững cũng làm nổi bật văn hóa địa phương, khuyến khích giới trẻ trở thành đại sứ cho di sản của chính địa phương mình. Đây cũng là một nguồn cơ hội cho giới trẻ, ví dụ như những người muốn khởi nghiệp, phát triển các giải pháp sáng tạo trong lĩnh vực du lịch, bằng cách sử dụng công nghệ mới, để nâng cao trải nghiệm du lịch - họ rất giỏi trong lĩnh vực này - phát triển các sản phẩm du lịch mới, đồng thời bảo vệ môi trường. Và tôi muốn nói thêm rằng tiếng Pháp cũng là một công cụ mạnh mẽ để hội nhập xã hội trong khu vực này. Thành thạo tiếng Pháp làm tăng khả năng tìm việc làm và mức thu nhập cho giới trẻ làm việc trong ngành du lịch. RFI : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) có kết nối Việt Nam với các nước Pháp ngữ khác để chia sẻ kinh nghiệm không, và theo ý kiến ​​của bà, những kinh nghiệm quốc tế nào có thể được áp dụng hiệu quả tại Việt Nam? Adjara DIOUF : Vâng, đây chính là hoạt động tiếp theo mà chúng tôi sẽ thực hiện. Hiện tại, chúng tôi đang trong giai đoạn thí điểm, và bước tiếp theo là kết nối các quốc gia hưởng lợi từ giai đoạn thí điểm để họ có thể trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất. Mặt khác, Việt Nam rất mạnh về du lịch cộng đồng và có thể truyền cảm hứng cho các quốc gia nói tiếng Pháp khác. Cũng có những kinh nghiệm từ các nơi khác có thể được áp dụng tại Việt Nam. Ví dụ, kinh nghiệm quản lý các công viên quốc gia của Canada là rất đáng khích lệ. Việc áp dụng hạn ngạch khách tham quan, hệ thống đặt chỗ, các quy định nghiêm ngặt và giáo dục môi trường giúp bảo tồn hệ sinh thái. Ví dụ, kiểu sáng kiến ​​này có thể được áp dụng tại các địa điểm rất nổi tiếng vào những thời điểm nhất định trong năm, khi lượng khách du lịch rất đông, để hạn chế tác động của du lịch đại chúng. Một sáng kiế

Podcast reviews

Read Tạp chí Việt Nam podcast reviews


0 out of 5
0 reviews

Podcast sponsorship advertising

Start advertising on Tạp chí Việt Nam relevant audience podcasts


What do you want to promote?